3. Nước ngấm màu đất đỏ chảy xiết xuống vực dọc theo con lộ nhỏ dẫn từ khu gia binh lên văn phòng hậu cứ tiểu đoàn, gió không còn lạnh buốt như đêm qua, con lộ cũng trơn tuột như khoảng đường từ doanh trại xuống chân đồi. Buổi sáng ông già vẫn hấp tấp bước theo sau người đàn bà bế đứa nhỏ với cái xách trên tay nhẹ tênh. Trên văn phòng hậu cứ tiểu đoàn 3, người hạ sĩ quan trực vẫn còn ngủ, văn phòng vắng chưa có người, ngọn đèn tù mù vẫn sáng trên trần cao. Ông già rón rén bước tới ngồi trên một chiếc ghế, đứa nhỏ đi lẫm chẫm quanh những bàn ghế trống không và người đàn bà, mắt đỏ hoe tựa cửa nhìn ra khoảng sân chưa có ánh nắng. Ông già lên tiếng trước:
- Đi đâu mất hết rồi.
Người đàn bà buông thõng:
- Ngủ chớ đi đâu.
- Cho thằng nhỏ ăn cái gì chớ không nó đói tội nghiệp, con.
- Chờ lúc nữa rồi hay.
Đứa nhỏ không tìm được đồ nghịch buồn tình khóc. Người mẹ bế nó lên tay cùng lúc anh hạ sĩ quan trực choàng thức dậy. Ông già nhìn thấy trước, lên tiếng:
- Sao ông?
Anh ta ngơ ngác:
- Sao?
Người đàn bà đi tới:
- Anh đã hỏi giùm tui chưa? Chồng tui...
- Chị là vợ của binh nhì Ngãi phải không?
Chị gật đầu. Anh ta xếp lại chăn, mở tủ cất vào rồi mới hỏi:
- Đêm qua ngủ được không bác?
Ông già không trả lời, rời ghế đứng dậy. Người đàn bà giục:
- Anh hỏi giùm chưa?
- Đêm qua tôi đã hỏi lại Quân y viện Nguyễn Huệ, họ trả lời đã đưa về Tổng y viện Cộng Hòa rồi. Tôi có nhờ họ liên lạc về Sài Gòn xem tình trạng anh Ngãi bây giờ ra sao nhưng chưa có kết quả. Chị nói với bác ngồi chờ một lúc.
Người đàn bà thả đứa nhỏ xuống đất, đi lui đi tới trong lúc ông già tiếp tục thở dài giữa những cơn ho. Người hạ sĩ quan trực nhấc ống điện thoại lên gọi, một lúc đặt máy xuống:
- Lại bận đường dây rồi.
Ông già trở lại ghế ngồi, anh trung sĩ đi rửa mặt. Trong văn phòng buổi sáng im lặng, những người lính chưa đến giờ làm việc đi long rong bên ngoài hoặc đi thẳng về phía câu lạc bộ. Lúc anh trung sĩ trở lại, mặt trời đã chiếu những tia nắng dịu mát đầu ngày xuống đôi ba ngọn cây xanh rải rác trong sân. Người đàn bà phân trần:
- Ở Sài Gòn thì tui làm sao biết được đường đi tìm, trung sĩ. Hai ba ngày nay đi tứ tung tìm ảnh, hết tiền hết bạc, sợ bây giờ không còn đủ để cha con tui đi xe nữa là khác. Trung sĩ có nghe nói ảnh bớt chưa không?
- Không biết, chị chờ tôi hỏi lại xem.
Anh ta tiến về chiếc điện thoại. Người đàn bà trong một thoáng chốc tưởng như thấy hết mọi nỗi khó khăn từ đây đi Sài Gòn, tìm tới quân y viện, tìm ra được nơi người chồng đang nằm; bao nhiêu ngày nữa, bao nhiêu lần ngồi trên xe đò, hết đoạn đường gian truân này đến đoạn đường trắc trở nọ, hết ngủ bến xe này đến nằm dọc đường chỗ kia; người chồng yêu dấu thắm thiết bây giờ ra sao, có bàn chân nào đã cưa, có cánh tay nào đã gãy, anh mê man hay anh tỉnh táo, anh đau đớn vì vết thương hay anh đã khỏe, đã có thể một mình ra hiên ngồi nhìn khu bệnh viện mỗi buổi chiều, mỗi buổi sáng; anh ăn uống anh nghỉ ngơi ra sao... Người đàn bà trong một lúc đã quay lại nhìn ông cha chồng, vào mặt đứa con mà đau lòng. Bao nhiêu ngày tháng nữa đói khổ, lê lết; bao nhiêu lần nữa lạnh lẽo, lạc lõng giữa những chốn lạ mặt bơ vơ như những đêm qua. Chị đến bên ông già:
- Chốc nữa lên câu lạc bộ ăn bánh mì đỡ đói nghe cha.
- Tội nghiệp thằng nhỏ, mấy ngày nay...
Anh trung sĩ trở lại ngập ngừng giây lâu mới nói:
- Binh nhì Lê Văn Ngãi...
Tiếng nói của anh ta hình như khựng lại ở đó, anh đưa mắt nhìn kỹ vào mặt ông già, người đàn bà. Một thoáng im lặng trôi qua, nặng nề. Ông già đứng bật dậy khỏi ghế, người đàn bà chống tay lên mặt bàn chờ đợi. Chỉ có đứa nhỏ vẫn tiếp tục loay hoay dưới một gầm bàn, một mình. Giọng người hạ sĩ quan ấp úng:
- ... chết rồi. Cách đây khoảng hơn tuần lễ. Xác đã an táng ở Nghĩa trang Quân đội.
T.V
Dakto, 1970
(Tạp chí Trình Bầy số 2, 1970)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét