THẾ VŨ
Th.,
Những ngày đầu tiên sống trong đô thị này đã khiến anh quen dần nhịp hối hả cuồng bạo của nó, điều đó dường như là một sự thay đổi lớn lao so với nếp sống thường nhật của anh ngày trước. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà anh không còn nhận ra vóc dáng buồn bã của mình như những ngày quạnh hiu trước kia. Nếp sống hối hả của đô thị dường như chỉ là cái diện ngoài của một cuộc đời đích thực tiềm ẩn phía sau, giống như sự say sưa, tính cộc cằn, sự hung tợn, ồn ào, khuôn mặt râu ria bẩn nhớp chẳng hạn chỉ là cái diện ngoài của những lính chiến hiện diện trong chiến tranh, che đậy bản chất đích thực của họ ẩn giấu bên trong. Những buổi chiều, sau khi xong việc, anh vẫn chui vào một hiệu cơm tồi tàn nằm quên trong một xó đô thị, gọi một phần cơm nghèo hèn, những bữa cơm cô độc tuyệt đối này giúp anh thấy lại mình sau một ngày làm việc quay cuồng, trong bộ quần áo còn dính đầy những vết dầu, với một lớp bụi dày quyện cùng mồ hôi trên khuôn mặt gầy gò của anh. Quán nằm xế một bến xe lam, nơi nhiều ngả đường đô thị giao nhau, cửa hiệu mở ra một trạm xăng luôn luôn nhộn nhịp. Thường anh vẫn ngồi một mình trong quán, lúc bóng tối vừa kịp sụp xuống bên ngoài dưới những bức tường cao ốc, hân hoan với phần ăn của mình sau một ngày lao động, giữa lúc quán trống trơn không một người khách thứ hai, lừ đừ mệt nhọc đưa mắt nhìn ra bên ngoài những ô lưới mắt cáo. Ở ngoài đó là những vết xăng loang bẩn trên mặt nhựa, những chuyến xe lam cũ kỹ đỗ vào bến, những tấp nập của một buổi tối mới bắt đầu trong một đô thị thừa thãi những áo xiêm chưng diện sặc sỡ.
Những bữa cơm không kéo dài lâu lắm, trên đường đi bộ trở về nhà trọ, anh có đủ thời giờ nhớ tới em và bạn bè ở xa, tuy nhiên không bao giờ anh có dịp đi thênh thang trên các con phố ở đây như ngày xưa, bởi nhiều lý do khác nhau, trong đó điều hiển nhiên nhất là đô thị không đủ sức quyến rũ anh như nơi chúng ta đã sống. Phòng trọ là một căn gác xép, màu sơn cũ kỹ, nằm gần một ngã tư dẫn về một khu phố tàu, một khu chợ hôi hám nhớp nhúa và một ngã đường không biết đưa đến đâu bởi anh chưa lần nào đi qua cả. Buổi tối ở đây, khác hẳn ngày ở thành phố chúng ta, không gây cho anh một ý niệm nào hết. Thường thường, nó chỉ là sự kéo dài vô ích của cái ngày vừa trôi qua nếu đó là những hôm anh không thể ngủ sớm được, hoặc ngược lại, nó là những giấc ngủ buồn thảm và mệt mỏi của anh. Sau đó, lúc chợt thức dậy bất cứ vào khoảng giờ giấc nào, anh thấy mình tỉnh táo một cách kỳ lạ và dễ bực mình. Đô thị đang vào mùa nóng bức, ngột ngạt, và quả thực là khó chịu đối với một người đến từ một thành phố nhỏ miền biển vốn mát rượi một cách đáng yêu ngay trong những buổi trưa hè oi nồng. Nhiều lúc dù cố gắng anh vẫn không thể ngủ được ngay. Nằm trong bóng tối của căn gác xép, lắng nghe tiếng động cơ xe cộ từ ngã tư, lắng nghe tiếng học bài thì thào của một cô bé trong căn gác bên cạnh, lắng nghe tiếng cải lương rầu rĩ phát ra từ một chiếc radio nào đó vọng đến, tất cả những âm thanh đó pha lẫn vào nhau đập vào trí óc anh gợi ra những ý tưởng nát vụn, không đầu đuôi, lềnh bềnh trong trí nhớ của anh như một nỗi ám ảnh.
Lúc giật mình trở dậy, mồ hôi nhớp nháp bò quanh cổ có thể cho anh biết buổi tối đã vào khoảng giờ nào. Ánh sáng từ một ngọn điện mắc dưới ngõ hẻm dội lờ mờ vào căn phòng có thể giúp anh tìm bao thuốc lá và chiếc hộp quẹt dễ dàng hơn. Châm lửa một điếu thuốc, ngồi dựa lưng vào thành ghế trong bóng tối mờ nghe tiếng cãi nhau trong tuồng cải lương tiếp tục vọng đến, hoặc là, vẫn những âm thanh cũ buổi chiều tối: giọng thì thào học bài bên kia cánh cửa sổ nghe rõ ràng hơn, tiếng động cơ dưới đường thưa thớt nhưng ầm ĩ hơn. Sau khi hút xong điếu thuốc, bao giờ cũng vậy, anh trở dậy mặc quần áo bước ra đường, ghé vào chỗ người đàn ông bán vé số nơi góc ngã tư để mua một bao thuốc hay một hộp diêm để có thể thức khuya mà không thấy khó chịu, đến quán tạp hóa của một người đàn bà đã già gốc từ miệt lục tỉnh để uống một ly cà phê bít tất nóng. Quán nằm lấn ra ngoài mặt đường, chiếc bàn gỗ đóng dày một lớp bụi, ly cà phê bốc hơi nhưng không mang theo một hương vị nào. Tuy nhiên, buổi tối êm ả bắt đầu dễ chịu hơn với những cơn gió khuya đầu tiên mang hơi nước từ bờ sông thổi vào lộng qua những bức tường cao ốc san sát nhau, đập vào những thanh gươm, mã tấu, súng ống, xe tăng bằng cao su treo toòng teng trước mặt. Những cơn gió đó bao giờ cũng gợi cho anh biết lúc bấy giờ đã nửa đêm hay quá một tí. Anh chỉ rời khỏi quán tạp hóa khi người đàn bà đã thu dọn xong những món vặt vãnh bên ngoài để chuẩn bị đóng cửa.
Trở về phòng, tắm rửa cho thoải mái và nhẹ nhàng, xong anh bắt đầu những giờ phút trống rỗng thật sự. Ngồi vào ghế mây, đốt liên tiếp những điếu thuốc và chờ nghe những tiếng đồng hồ gõ thanh thoát từ căn nhà bên kia con hẻm, bởi vì cho đến lúc đó hầu như những âm thanh thường hằng của đô thị không còn nữa. Tiếng cãi cọ kịch liệt và khôi hài hoặc tiếng than van não nề của tuồng cải lương đã chấm dứt, tiếng động cơ xe cộ dưới đường lâu lắm mới vọng đến, xa xôi và mơ hồ. Thành phố yên nghỉ trong sự xa hoa của những cao ốc hay khốn khổ của những vỉa hè. Thỉnh thoảng anh có thể nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng lạ thay, tiếng súng không bao giờ nhắc nhở anh nghĩ đến chiến tranh hay ít ra, nhắc nhở anh nghĩ về những ngày đã sống ngoài chiến trường mà anh đã dứt bỏ một cách quyết liệt. Từ đó, anh nghĩ rằng có thể hiểu được một cách rõ ràng vì sao những người sống trong đô thị này chưa hề trải qua một ngày ngoài mặt trận, hay ngay cả những người sống ngoài mặt trận nhưng không có đủ một sự hiểu biết cần thiết hoặc hiểu biết một cách sai nhầm đã mang lắm ảo tưởng và định kiến thiên lệch một cách quái gở về một thứ hòa bình đang được dán trên những bức tường.
Đó là những đêm anh cảm nhận nỗi buồn bã và cô độc tuyệt đối của đời sống mình. Cơn ngái ngủ đã qua, sự tỉnh táo khơi dậy nơi anh một khoảng trống vô bờ bến, ở đó anh thu mình ngồi trong ghế, nhả khói lên trần nhà, căn phòng tối thui nhưng ánh sáng từ căn phòng học của cô bé bên kia chiếu nghiêng qua cho thấy những sợi khói thuốc chao liệng trong cơn gió thổi lộng vào con hẻm nhỏ tràn vào phòng. Thuốc lá không làm nên những đời người nhưng nó có thể làm cho đời người đổi khác. Những điếu thuốc làm đầy thời gian, cũng như trước đây, khi còn quanh quẩn nơi thành phố cũ, em đã chất đầy lên sự cô độc của anh.
Trong đêm, giữa những điếu thuốc được thay nhau đốt lên một cách đều đặn, anh có thể ngửi thấy mùi tóc ngai ngái của cô bé bên kia cửa sổ, mùi hương tóc làm anh nhớ xiết bao những buổi tối đã qua của chúng ta. Mùi tóc khiến anh lắm lúc phải đứng lên, kiễng chân nhìn sang căn phòng bên kia, ở đó cô bé có khi đang ngủ gục trên bàn, có khi nhắm mắt tì má trên lưng bàn tay phải, một nửa mái tóc đổ ra bên ngoài cửa sổ, bay lao xao trong gió thốc qua, hoặc cũng có khi trang sách nằm dưới đôi mắt mở lớn. Rời bỏ cửa sổ, trở vào bật đèn rồi ngồi vào bàn, cố gắng viết cho em hoặc cho bè bạn cũ một lá thư để biết chắc rằng anh còn nhiều liên hệ đến những người khác. Sự cố gắng đánh lừa mình như vậy thường dẫn đến một kết cuộc không mấy hào hứng: những lá thư đó rất hiếm khi được gửi đi. Những hôm nghỉ việc, không đủ can đảm nằm mẹp trong phòng chờ đến bữa ăn, anh xuống phố, trôi dạt trên những vỉa hè, đôi lúc tình cờ đi ngang qua nhà bưu điện, chính nơi này nhiều lúc đã khiến anh đau buốt khi nhớ đến những người thân quen còn ở lại trong thành phố cũ.
Những buổi sáng của anh trong đô thị này thường bắt đầu một cách sớm sủa, không phải như những ngày còn ở Nha Trang. Nơi hiệu tạp hóa quen thuộc, sáng nào anh cũng giành một chỗ ngồi giữa những thợ thuyền lao động khác với một tách cà phê nhỏ. Tuy nhiên, anh chỉ thực sự tỉnh táo khi đi bộ từ hiệu tạp hóa đến chỗ làm việc, ngang qua những ngã tư ngã năm, ở đó những gã cảnh sát đứng lố nhố như những tên thất nghiệp.
Th. yêu dấu,
Nha Trang, bây giờ ở xa nhìn ngắm lại, quả đó là một thành phố tuyệt vời. Nó đã trải rộng ra dưới mắt anh ngày anh vừa lớn, nó đã thu lại bao dung anh ngày anh trở về từ chiến trường. Nó là nơi anh và bè bạn đã kết hợp, ly tán và đoàn tụ. Nó là nơi anh và bè bạn thân yêu nhau, xung đột nhau và từ biệt nhau. Trước anh một ngày, H. dắt vợ về sống ở một tỉnh lỵ phương nam. Sau anh một ngày, G. đưa vợ con đến một thành phố xa xôi phương bắc. Những người ở lại, may mắn hay bị bắt buộc, đều đang mơ tưởng đến một ngày nào đó sẽ bỏ thành phố mà đi. T. đang trôi nổi ở một nơi nào không ai còn biết đến nữa. Còn lại một A. một Q., một Tr. ở lại không biết có phải là để níu giữ những liên hệ giữa những người đã ra đi, hay họ cũng chỉ là những tàn tích cuối cùng chưa bị xóa đi hết sau những mùa hè hân hoan dắt tay nhau trên bãi cát đông người. Những căn phòng chật hẹp anh và bè bạn đã nằm sát bên nhau, đốt thuốc lá suốt sáng, ồn ào bàn cãi về những vấn đề to tát như cách mạng, đấu tranh..., giờ hẳn đã im lìm buồn rầu khép kín với một mình A. đi về thất thường và mệt mỏi. Những buổi tối khề khà bên những ly rượu ngoài bến xe liên tỉnh, bên lề đường phố chính, trên bãi biển mát rượi về khuya, giờ hẳn đã bay theo cùng H. về thị trấn phương nam, hoặc ở lại trong trí nhớ đầy ắp của Tr. và Q. Những tách cà phê nóng ấm, những ca khúc tuyệt vời giờ hẳn đã theo T. lãng đãng nơi một phố thị lẻ loi nào đó. Và anh còn tưởng như thấy được cả G. nghiêng nghiêng đứng trên một bến tàu nơi thành phố phương bắc, lặp đi lặp lại mãi như một kẻ thất chí những chữ đấu tranh, cách mạng như nỗi ám ảnh không thể nào dứt bỏ được.
Nha Trang đã bao dung các anh hơn bất cứ một nơi nào khác. Ngày từ chiến trận trở về, gặp lại bè bạn sau nhiều năm thất tán, quả thật anh như bắt được niềm vui sướng lớn lao chưa từng có trong đời. Nhưng bao giờ cũng vậy, những hôm co mình nằm buồn trên căn gác gỗ lộng gió cất đằng sau hiệu sách thân quen, anh vẫn yêu chuộng sự cô độc của mình đến nỗi G., H. và những người khác tỏ vẻ bất bình. Sự cô độc quyến rũ anh kỳ lạ; chính những lúc như thế, anh hiểu được chính mình và mỗi người quanh mình nhiều hơn. Những buổi tối trên căn gác gỗ lộng gió đó không có T., anh đã nghe tiếng khẩu cầm của bọn trẻ con vô gia cư từ một góc phố cất lên, tiếng khẩu cầm không diễn tả được một điều gì, không theo một nhịp điệu nào, nhưng những âm thanh rời rạc đó cất lên với cái lý do của nó khiến anh thấy mình gần gũi với chúng hơn. Phải nghe thứ âm thanh đó cất lên hồi hai ba giờ sáng, với tiếng nói lí nhí của chúng từ một sạp hàng đã dọn trống nơi hè phố, xen kẽ là tiếng những con chó cất giọng tru tréo từ một cao ốc tám tầng hay tiếng động cơ của những chiếc xe tuần tiễu chạy qua, anh mới hiểu được nhiều hơn về những đứa trẻ sống bên lề xã hội. Hoặc giả là những buổi chiều, sau khi từ chối bè bạn một vài ly rượu trên bãi, bên đường, trong bến xe hay một nơi khác, anh đã bắc ghế ngồi một mình trước cửa hiệu sách, dưới ánh sáng đầy ắp của những ngọn đèn ống chiếu xuống từ những cao ốc phía trước, với những cơn gió lộng thổi từ biển vào thốc tung bụi trên mặt phố, anh đã dõi mắt nhìn những người lướt qua trước mắt và hiểu, càng lúc càng rõ ràng, tại sao nhiều lúc chúng ta cần phải từ chối những cuộc vui mở ra sẵn sàng chờ đón chúng ta đến. G. và H. nhất định không chịu hiểu cho anh điều đó.
Anh, và cả bạn bè anh, mỗi người không thể nào quên ôm ấp những kỷ niệm cũ từng mỗi giây phút, trong những kỷ niệm đó, có những ngày mùa hè bọn anh nằm dài trên mặt cát nóng chờ tối, có những đêm nóng bức và trống rỗng bọn anh ngồi kề nhau trong một căn phòng trong khu hỏa xa hoặc nơi trụ sở hướng đạo, hay có khi là một căn nhà tôn cất trong khu lao động bên sông, ngoài ngoại ô buồn tẻ, thao thức chờ sáng. Đó là những ngày anh chưa bị đẩy ra chiến trường Bình Phú, A. chưa bị đưa về mặt trận Nam Ngãi, N. chưa trốn vào tu viện, L. chưa nghĩ đến một ngày mình có thể trôi dạt về Đồng Tháp. Rừng dừa trên cồn cát giữa sông thời đó có bọn anh thơ thẩn đi trong những đêm trăng sáng. Mùa hè có những chiếc xe đạp quanh quẩn trên đường quê. Những buổi sáng đạp xe qua cầu vào thành phố. Thời đó bọn anh chưa ai nghĩ đến một ngày như bấy giờ, trôi dạt về những miền sinh tử, khốn đốn với áo cơm, nhục nhằn đối phó với những sự thật ngụy trá. Sự sống, lý ra nó phải là một cánh cửa mở ra hân hoan chờ đón ngày mai, đằng này nó luôn luôn là một cánh cửa khép kín để con người cố thủ trước sự hung hãn của bạo lực.
Th. yêu dấu,
Anh chắc sẽ không quên được Nha Trang, đặc biệt là những ngày cuối ở đó, với em. Dù có lúc một trong hai chúng ta trôi dạt về những bờ bến khác của sự sống, rẽ về những con đường hoàn toàn xa cách nhau, anh nghĩ sẽ rất khó để anh quên được, dù muốn. Làm sao anh quên được những buổi tối chúng ta ngồi trên bãi cát, mùa đông và sự xúc động khiến đôi tay anh lạnh buốt, run run trên những sợi tóc mịn ướt trên vai em. Làm sao anh quên được những buổi chiều đứng đợi em tan học ngoài xế cổng trường, lâng lâng cảm giác như mình trẻ lại mười năm, sự háo hức và niềm vui sướng kỳ lạ của tuổi mười bảy mười tám đứng tựa cột đèn thành phố chờ đợi người yêu. Trên những con đường rợp lá xanh chúng ta đi về mỗi buổi chiều, anh biết mình ở một khoảng cách khá tàn bạo với tình yêu: tuổi trẻ anh không còn nữa. Nhưng cũng chính điều đó sẽ khiến anh nhớ mãi niềm tin yêu em dành cho anh, nhớ như một nỗi thất bại. Bây giờ những buổi chiều tan học về không còn anh, mùa hè cũng đang bắt đầu, nhưng anh chắc cái khoảng cách giữa chúng ta không biến đổi. Mùa đông tới chắc hẳn em sẽ ngồi những nơi chốn cũ một mình, từng đợt sóng tràn lên bờ cát thẩm, ánh trăng lấp lánh soi chiếu lên nửa khuôn mặt xõa tóc, nhưng không bao giờ còn có anh ngồi che gió tạt vào tà áo mỏng như mùa đông đã qua. Lúc đó, hãy nghĩ đến anh cô độc nằm vùi trong căn gác gỗ bạc màu sơn, nép mình dưới những cao ốc của đô thị này, già cỗi thêm một ít nữa sau một thời kỳ phấn đấu cùng áo cơm và tự do cho chính mình giữa một hoàn cảnh nghiệt ngã mà em khó có thể nghĩ ra ngày nào còn quẩn quanh ở nơi chốn cũ.
Nhưng anh còn hy vọng ở ngày trở lại. Chắc Nha Trang sẽ còn bao dung anh ngày về, dù lúc đó bè bạn đã dạt về những phương khác. Anh tưởng như ngày đó em vẫn sẽ còn ngồi nguyên vẹn như ngày nào trên bãi, trong những đêm trăng, tóc rối phủ lên má tàn phai, vẫn những đợt sóng hân hoan tràn lên bờ cát thẩm. Ngày về, đứng bên cảnh tượng yêu dấu đó, dĩ nhiên dù già cỗi đến cách nào đi nữa, anh vẫn sẽ nhìn ra những chân trời khác, mơ hồ nghĩ đến hôm nay, hôm qua để chuẩn bị du nhập vào một nơi khác, tiếp tục phấn đấu trong những hoàn cảnh nghiệt ngã khác, bởi vì, Th. yêu dấu, sự sống sẽ thu nhỏ lại từ hai tay anh khi nào anh tìm thấy sự yên bình trong miền đất ly tán đó.
T.V
Tháng 3/1972
(Trình Bầy số 40, 1972)
Mùa hè trong những thành phố, những thị trấn không phải chỉ nhọc nhằn dưới cơn nắng lửa và mệt mỏi bởi động cơ và khói xe. Mùa hè bây giờ còn được đốt cháy bằng những cơn sốt lạ lẫm, ồn ào, những cơn sốt nhức nhối con người và có tác dụng đánh gục lương tri, nói tóm lại những ngày mùa hè trong thành phố là những ngày bạo động. Ví dụ như chúng ta vừa bước vào thành phố, ví dụ như chúng ta vừa trở về, đêm đêm không phải chỉ nghe có tiếng còi thảm thiết rít lên ngoài đường phố, không phải chỉ nghe có tiếng súng nổ bừa bãi và vội vàng, không phải chỉ nghe có tiếng động của những con chuột khổng lồ làm rung rinh căn gác tối – những con chuột trong các thành phố bây giờ to béo một cách đáng sợ. Hình như mùa hè của tôi trong các thành phố là một sự bất an vô cùng, bên những xâu xé tranh chấp, bên những vụ khủng bố và truy lùng, bên những ngôn ngữ ồn ào của mùa tranh đấu, bạo động. Trò chơi của những tên hoạt đầu, những tên tài phiệt đã mở ra, sân khấu đông đúc nghẹt cứng những tay diễn trò và khán giả có người vẫn ngủ quên, có người đã tỉnh dậy vội vã lau nước mắt. Cái đáng buồn hơn nữa là cửa rạp đã được khóa kỹ bằng xích sắt viện trợ.
Mùa hè, tháng sáu trong một thị trấn lớn miền Trung, tôi buồn bã đi bộ dưới những tòa nhà cao lớn quá sức để tìm kiếm lại bằng hữu mình. Một điều mà tôi mới nghĩ đến là có phải với một tình thế nào đó, khi những đàn chuột khổng lồ rời khỏi chỗ ẩn nấp của chúng, ngang nhiên di động một cách rất tự do thì con người bắt buộc phải lẩn trốn, lén lút và luôn luôn đặt mình trong một tư thế cần thiết, không phải là để đối phó mà là tiếp tục lẩn tránh để sống sót. Lẩn tránh, thật phiền nhiễu, nhưng làm sao được khi anh đang bị săn đuổi, lúc đó đời sống không phải là sự tìm tới hạnh phúc nữa mà trái ngược lại, hạnh phúc là sự duy trì đời sống. Trong một thị trấn lớn, tôi đã tìm kiếm những bằng hữu của mình trong hoàn cảnh như vậy. Có thể những người này lẩn trốn trong một nhà giảng đạo, có thể trên gác chuông thánh đường, có thể trong một tu viện, dưới gốc những cây sứ trắng ngát hương sau ngôi chùa cổ, trong một căn nhà âm u ở ngoại ô, trong vườn dừa bên kia con sông xanh, có thể trong một quận lỵ buồn thiu ở đâu đó. Cuối cùng tôi nghĩ họ có thể đang nằm trong nhà giam, trong một cơ quan điều tra an ninh hay một chỗ nào đó tương tự như vậy – ở đây bây giờ những nhà tù được mở ra khắp nơi dưới nhiều danh xưng làm tôi hết biết gọi tên. Sự thật bây giờ đã trở thành một điều cấm kỵ, nói lên sự thật đã trở thành tội trạng, tiếng nói của chúng ta bây giờ không thể còn màu xanh, màu hồng như mong ước, tiếng nói của chúng ta đã trở thành màu đen, sự sống như thế đã trở thành một sự sống bị tước đoạt, và giá trị của con người – nếu có thể nói như vậy – chỉ có khi chúng ta dám lẩn tránh sự săn đuổi của bạo lực, nói cách khác, chúng ta có đủ kiên nhẫn tiếp tục sử dụng tiếng nói màu đen và đủ can đảm làm cho thứ ngôn ngữ bị cấm đó thành ngôn ngữ phổ quát cho thời đại.
Mùa hè, trước hôm tôi về tới thành phố, buổi sáng khi sửa soạn rời đồn quân, một anh lính khoảng ba mươi tuổi treo cổ chết trong cầu tiêu phòng an ninh đơn vị. Trong thành phố, tôi hay tin hai người bạn cũ được mời tới Ty An ninh vì một lý do sẽ cho biết sau. Những bài thơ của họ mà tôi đã được đọc quả thực là một vết ô nhục dành cho một chế độ, chế độ lớn mạnh lên được nhờ vào con số lớn lao những lao công chiến trường, tù nhân và những người lẩn trốn.
Những ngày cuối mùa hè, vô tình tôi phải ở nán lại trong thành phố trước khi trở về mặt trận Tây Nguyên. Trở về mặt trận, tôi cố ý nhấn mạnh những chữ buồn thảm đó bởi vì tôi có thể hiểu được một cách dễ dàng rằng, cho đến giờ này thành phố vẫn chưa phải là chỗ dung thân của tôi được, nói khác đi một cái gì như định mệnh, tôi còn nhiều liên hệ bó buộc tới các mặt trận xa xôi. Chỗ đứng của những người như tôi trong thành phố, nếu cần phải nhắc lại thêm một lần nữa, là những vỉa hè, những bến xe, những con đường nhộn nhịp nhưng quạnh hiu, những bữa cơm nhờ vả vào anh em bằng hữu xa gần; thành thực mà nói dù có bi thảm đến đâu, chúng tôi đã sống những ngày đó như một gã ăn mày chưa đủ can đảm quỳ lạy ngoài xó chợ. Quả thật tôi đã không dám đi mạnh chân qua những vỉa hè lộng lẫy và đắt tiền, không dám bước vào căn nhà bốn tầng của một anh bạn, luôn luôn tôi tưởng như mình bị nhìn ngắm bởi những cặp mắt xua đuổi; thật sự tôi đã hiểu tại sao nghèo đói là một tội lỗi. Một người bạn cũ đã tỏ ra hằn học khi tôi không chịu nghe theo lời khuyên của anh, là hãy rời chiến trường mà trở về thành phố; nhưng làm sao tôi có thể sống trong một khung cảnh không chút liên hệ nào với mình, làm sao tôi có thể chịu đựng được những ngày tháng xa lạ của mình trong một thành phố náo động và bạo động. Tôi còn quá trẻ để đi ăn mày và tôi cũng đã quá già để vào sống trong viện mồ côi. Nói theo sách vở và chữ nghĩa: hãy nghĩ tới tương lai mà sống. Tôi không được cái sung sướng như những người sống thoải mái trên các cao ốc, tôi cũng không có cái hãnh diện của những người đang nằm trong những trại tù nên tương lai của tôi thật khó mà nghĩ tới được, tựu trung tương lai của những người như tôi đang nằm trong tay phường lái buôn. Trò chơi qua ngày lý thú nhất của tôi là sắp những con cờ vào vị trí đã được vẽ sẵn của nó, rồi đẩy một con chốt đầu tiên tiến tới trước một bước. Chỉ duy nhất một bước mà thôi, ngay sau đó tôi rời bỏ bàn cờ, bởi vì tôi biết còn khó khăn lắm mình mới bước được sang phía bên kia sông.
Mùa hè của tôi trong thành phố có lẽ sẽ kết thúc bằng một trận mưa. Một trận mưa tàn bạo.
THẾ VŨ
Sài Gòn tháng 6/1971
(Tạp chí Trình Bầy, số 23 ngày 3.7.1971)
Thời trai trẻ của chúng tôi
Chúng tôi chào đời sau Cách mạng Tháng Tám, được chập chững cắp sách đi học vỡ lòng trong vùng tạm chiếm miền Nam sau khi kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, bắt đầu có nhận thức trước những biến động của lịch sử từ trong và sau biến cố chính trị 1963 đảo chính Ngô Đình Diệm. Có muộn màng và đáng tiếc lắm không? Hẳn không thể nói dứt khoát là không. Các biến động lịch sử tất nhiên chẳng chờ đợi ai, nhưng đất nước cũng không hề có ý định dành cho thời trai trẻ chúng tôi những tháng năm yên ả.
Có một chuyện khó tin nhưng hoàn toàn có thật mà tôi còn nhớ như thế này: Năm 1963 tôi đang học lớp Đệ tứ Trường Trung học Trần Bình Trọng thị trấn Ninh Hòa thì xảy ra đảo chính Ngô Đình Diệm. Hồi ấy người ta gọi đấy là cách mạng – Cách mạng 1.11.1963. Ít lâu sau ngày ấy, một gã trung úy để ria mép được cử về làm quận trưởng thay ông quận trưởng dân sự. Đám học sinh chúng tôi mất một buổi học để tập trung đến rạp hát Vĩnh Hiệp nghe ông “quận trưởng cách mạng” nói về cách mạng 1.11. Rằng cách mạng là đổi đời, là bỏ cũ theo mới, chẳng hạn trước đây con cái nghe lời cha mẹ, thầy giáo dạy dỗ học sinh thì nay cách mạng rồi, cha mẹ phải nghe lời con cái, học sinh dạy dỗ lại thầy, v.v... Tôi nhớ rạp hát vang lên từng tràng vỗ tay như điên và sau này tôi nghiệm ra rằng cái sự vỗ tay để phản đối ít nhất cũng đã có từ hồi ấy. Còn nhìn chung, buổi nói chuyện của gã trung úy quận trưởng cách mạng này đã có tác dụng tích cực đối với bản thân tôi theo dạng phản đề: Vậy thì sự thực ra sao, tôi phải tự suy nghĩ, nhận thức và lý giải lấy cho mình.
Trường Trung học Trần Bình Trọng Ninh Hòa hồi ấy không mở cấp phổ thông trung học. Hè năm 1964 tôi chuyển vào học Trường Trung học Võ Tánh Nha Trang, ban văn chương. Hồi ấy ban văn chương có rất ít học sinh, trường chỉ mở một lớp đệ tam ban Văn có độ hơn 30 học sinh theo học trong khi ban Toán có đến năm sáu lớp, mỗi lớp không ít hơn 50 học sinh. Mấy anh em chúng tôi – những người dăm bảy năm sau đó bắt đầu được gộp vào đám đông “những cây bút trẻ” và may mắn làm sao, đến nay, hơn hai mươi năm sau vẫn còn được đứng chung trong một đội ngũ trẻ khác – đã gặp nhau ở lớp đệ tam ban văn chương Trường Trung học Võ Tánh từ năm ấy. Riêng Lê Văn Thiện, do hoàn cảnh gia đình đã nghỉ học sau năm đệ tứ ở trường này, và ít lâu sau tôi nghe anh đã vào lính. Anh cầm súng rồi đồng thời cầm bút và được bạn đọc chú ý sớm nhất trong mấy anh em chúng tôi.
Miền Nam những năm 1964 – 1966 thật là những năm tháng sôi động chưa từng có. Ở vùng nông thôn, những trận đánh lớn diễn ra ngày càng dồn dập và ác liệt, vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ngày càng thu hẹp lại đến mức chỉ còn những vùng lõm nhỏ bé gồm quận lỵ và vài ba xã bao quanh. Chúng tôi thuộc loại hiếm hoi những chàng trai mới lớn của làng xã được lên tỉnh học hành, và do những trận đánh ngày càng lan rộng ở nông thôn, dần dần chúng tôi càng ít trở về làng, cái sự gắn bó với bà con họ hàng làng xã mỗi ngày một mờ nhạt đi trong cuộc sống đô thị hóa của chúng tôi. Khắp các đô thị đang sôi lên những cuộc đấu tranh chống chính quyền quân sự, chống Mỹ đổ quân vào miền Nam, đòi quyền dân sinh dân chủ, đòi độc lập và hòa bình của các lực lượng quần chúng, từ phật tử, nhân sĩ trí thức, nhà báo nhà văn, đến sinh viên học sinh, tiểu thương tiểu chủ, các đảng phái, thương phế binh... Tầng lớp lao động đình công, tiểu thương bãi thị, học sinh bãi khóa; xuống đường biểu tình và tuyệt thực, hội thảo chính trị và chống đàn áp, những buổi học ở lớp xen kẽ với những ngày đấu tranh đường phố... Bao quanh tuổi trẻ đô thị lúc ấy là một nỗi bất an triền miên, bức bối, ngột ngạt trong cái không khí sặc sụa hơi cay và những âm mưu chính trị đen tối của đủ thứ lãnh tụ phong trào và thủ lĩnh các đảng phái đang mọc lên như nấm. Tuổi mười bảy mười tám của chúng tôi ngày ấy không phải đang đứng trước một chân trời tương lai rộng mở bát ngát nào, mà là đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: học hành đỗ đạt hay là đi quân dịch, vào cuộc đấu tranh hay bàng quan trước mọi biến động của thời cuộc, là chứng nhân hay là nạn nhân...
Mấy anh em chúng tôi ở lớp đệ tam ban văn chương năm ấy bàn nhau ra một đặc san văn nghệ. Góp bài, góp giấy mực. Thơ và văn xuôi. In rônéo năm bảy chục bản tặng bạn bè. Thao thức, trăn trở và bế tắc trước vận mệnh đất nước, trước tương lai tuổi trẻ. Triết lý vụn vặt, làm dáng, học đòi hiện sinh. Sướt mướt những bài thơ tình huyễn tưởng. Lãng mạn và tắc tị... Văn chương Sài Gòn đến lúc ấy có những “chủ nghĩa” gì thì chúng tôi là cái đuôi của “chủ nghĩa” đó. Và không phải chỉ trên đặc san văn nghệ ấy thôi, mỗi người trong chúng tôi đều lần lượt có thơ văn in trên báo chí Sài Gòn, lại còn cả những cuốn sổ tay, những tập giấy vở học trò chép đầy thơ của mình. Vẫn những nội dung ấy và những thi pháp ấy...
Trụ sở hướng đạo sinh nằm trên đường Tô Hiến Thành, một căn phòng thuê trên đường Cô Bắc, một căn nhà lá trong xóm lao động vườn ươm khóm Máy nước hay trong xóm chài dưới chân cầu Hà Ra..., lần lượt những nơi ấy được chứng kiến các cuộc hỏa thiêu long trọng và âm thầm những tập bản thảo văn thơ ấy của chúng tôi, chấm dứt một thời lãng mạn và lãng đãng ngây ngô của tuổi học trò.
Quãng cuối năm 1965, Nguyễn Hoàng Thu bỏ trường lớp đoạn tuyệt cuộc đời học sinh để đi phiêu bạt vào đời. Sau đó đến lượt Nguyễn Âu Hồng, anh chọn học trường thanh niên phụng sự xã hội Phật giáo. Giữa năm 1966 tôi rời Nha Trang lên kiếm việc làm ở Blao. Chỉ còn Lê Ký Thương ráng ở lại học cho hết bậc Tú tài. Mỗi người một con đường, ra đi sau trước khác nhau, ấy vậy mà guồng máy chiến tranh của chế độ Sài Gòn tài ba đến không ngờ: độ giữa năm 1967, chúng tôi lần lượt gặp nhau tại một nơi như cùng hẹn trước: quân trường Quang Trung ở Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Qua cái lò luyện này, Nguyễn Hoàng Thu trở về lại Khánh Hòa, tôi ra vùng phía Bắc tỉnh Bình Định, Nguyễn Âu Hồng xa hơn: Quảng Tín và Lê Ký Thương trôi giạt về Phan Rang – Ninh Thuận; tất cả đều đã mặc quần áo trận, núp dưới vành nón sắt và quàng vai một khẩu súng trường.
***
Sinh hoạt văn chương ở vùng đô thị tạm chiếm miền Nam những năm sau 1965 đang chứng kiến một thời kỳ nở rộng nhiều xu hướng đa dạng và phức tạp, một bước phát triển mới sau mười năm ngưng đọng dưới sự thống trị của văn nghệ chống cộng của các cây bút từ miền Bắc di cư vào làm mưa làm gió. Trung tâm hoạt động văn hóa văn nghệ duy nhất ở miền Nam là Sài Gòn – cái “hòn ngọc viễn đông của thế giới tự do”. Huế là trung tâm chính trị cũ, lò lửa đấu tranh của giai đoạn mới, nhiều tờ báo chính trị xã hội ra đời ở Huế, gây được tiếng tăm nhưng vẫn không thể sống nổi. Các tỉnh miền Trung những năm ấy lần lượt chứng kiến nhiều cây bút có tài được khẳng định trong làng văn đô thị miền Nam, tuy nhiên đất dụng võ vẫn là Sài Gòn. Lẻ tẻ, rải rác một vài tạp chí văn hóa xã hội xuất hiện ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt... nhưng đều có số phận non yểu. Càng về những năm sau này, bên cạnh một số nhà văn tên tuổi ít ỏi như Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, Sơn Nam và cây bút chống cộng độc địa Võ Phiến, một đội ngũ những cây bút trẻ sung sức vốn sinh ra và trưởng thành ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ xuất hiện ngày càng đông đảo trên các báo và tạp chí công khai xuất bản tại Sài Gòn, từng bước làm suy giảm uy thế độc tôn của các cây bút miền Bắc di cư. Và người đọc chứng kiến cái cảnh dàn đồng ca chống cộng độc tôn chiếm lĩnh văn đàn những năm trước đây nay chuyển thành những nhóm hợp ca cố sống cố chết bám giữ lấy sân khấu văn học, những cây bút hung hăng chống cộng và hết lòng ca ngợi một chính thể cộng hòa “sáng đội miền Nam” nay lại chủ trương xây dựng một nền văn nghệ “viễn mơ” lãng mạn, siêu hình, túm lấy đuôi các thứ trào lưu hiện đại phương Tây, khiêu gợi dục tính và bạo lực. Trên các tạp chí văn nghệ do các cây bút chống cộng ngày trước, “viễn mơ” bấy giờ chủ trương – Văn, Văn Học, Bách Khoa, Chính Văn, Vấn Đề, Khởi Hành... – xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút trẻ, nó tạo nên sức sống cho các tạp chí ấy, và từng bước hình thành một xu hướng văn học mới: phản ánh hiện thực, phản ánh thực trạng đen tối của nửa nước Việt Nam dưới “chính thể cộng hòa”. Xu hướng văn học ấy tiếp nối truyền thống văn học hiện thực phê phán bị cắt đoạn từ sau 1945, và nó thúc đẩy nền văn học đô thị miền Nam trước 1975 phát triển lên một đỉnh cao mới, hòa quyện vào nền văn học dân tộc đang dốc sức chiến đấu chống Mỹ cứu nước.
Tôi có ý thức văn nghệ gắn liền với chính trị từ khi bắt đầu chập chững viết lách và có đôi bài đăng trên báo chí Sài Gòn. Do một sự ngẫu nhiên mà tôi quen biết với những người chủ trương nhóm Thái Độ, một nhóm văn nghệ “dấn thân” lúc bấy giờ đang thao túng trên tờ Văn Học. Tôi từ miền Trung thỉnh thoảng về Sài Gòn, được dự đôi cuộc gặp mặt sa-lông cốc-tai của nhóm văn nghệ Thái Độ, được thông báo nội dung một số cuộc họp kín của nhóm chính trị Thái Độ, được biết nhiều âm mưu táo bạo của họ không thành. Ban đầu nhóm Thái Độ giúp tôi nhận thức thực trạng chính trị xã hội miền Nam, âm mưu của các phe phái chính trị, hậu trường của những vị cầm đầu chính phủ Sài Gòn và các phe cánh đối lập. Dần dần tôi nhận thức được thực chất của nhóm chính trị – văn nghệ này: làm cách mạng xã hội không cộng sản trong điều kiện Mỹ phải viện trợ bên trong và lập vành đai chống cộng bên ngoài. Sau một loạt âm mưu đầy tính phiêu lưu không được Mỹ chấp thuận, nhóm Thái Độ bắt đầu phân hóa. Âm mưu chính trị cuối cùng của Thái Độ là với đô la của Mỹ, nhóm sẽ lập một đoàn chuyên gia sang Lào giúp phe hữu chống cộng. Trớ trêu thay trong danh sách đoàn chuyên gia ấy người ta dự kiến có cả tôi! Từ chiến trường bắc Bình Định rồi chuyển lên bắc Tây Nguyên, nhiều lần tôi có ý định rời bỏ hàng ngũ lính ngụy nhưng được vị nhà văn thủ lĩnh nhóm Thái Độ khuyên ngăn. Lúc tôi quyết định rời bỏ quân ngụy trở về trốn tránh trong đô thị cũng là lúc tôi cắt đứt quan hệ với nhóm ấy.
Khoảng 1969, một số cây bút trẻ trong nhóm Việt từ Huế tản mác vào các tỉnh phía trong cùng với một số cây bút trẻ tại chỗ xây dựng tờ Tạp chí Ý Thức, đặt tòa soạn tại Phan Rang. Lê Ký Thương trực tiếp làm tạp chí này mấy năm liền, từ khi nó còn in rônéo với kỹ thuật khá sáng sủa và trang nhã cho đến khi chuyển tòa soạn vào Sài Gòn, ra đều kỳ hàng tháng, được sự cộng tác bài vở và mạng lưới phát hành rộng rãi hơn, in ốp-sét sang trọng. Tôi có tham gia nhóm chủ trương biên tập của Tạp chí Ý Thức nhưng không trực tiếp làm việc vì ở xa, thỉnh thoảng có dịp về quây quần cùng anh em dăm bữa, chia sẻ niềm vui và nỗi lo âu của anh em đối với số phận của tờ tạp chí. Từ năm 1970, các cây bút nhóm Việt đảm nhận trang văn nghệ của Tạp chí Đối Diện của các linh mục Công giáo tiến bộ ở Sài Gòn. Chính là với nhóm Việt và Tạp chí Đối Diện, anh em cầm bút trẻ của Nha Trang thế hệ chúng tôi đã đóng góp được những sáng tác khởi sắc nhất, có sức công phá mạnh mẽ nhất trong chặng đường hoạt động văn học của mình trước 1975, như Người bắt ruồi của Nguyễn Hoàng Thu, Những đứa con hoang câm điếc của chiến tranh của Nguyễn Âu Hồng, Nhịp ca dao hát giữ làng của Trần Vạn Giã, Về một cái chết trong một cái sống của Lê Ký Thương...
Giữa năm 1971 tôi rời bỏ quân đội ngụy, từ chiến trường bắc Tây Nguyên lặn lội trốn về được Nha Trang. Bấy giờ sau 4 năm ly tán, bè bạn đã lại tụ hội về đây, thường xuyên lui tới hiệu sách Huy Hoàng nằm trên phố Độc Lập. Đằng sau hiệu sách là một căn gác gỗ bốn tầng, nơi anh em văn nghệ khắp nơi lui tới, gặp gỡ, tạm trú mỗi lần về Nha Trang. Anh em gọi căn gác gỗ ấy là “nghinh phong các” vì đêm đêm gió lồng lộng từ biển thổi về, căn gác rung rinh chao đảo, vặn mình theo. Chúng tôi nằm trên gác tư, trước một tượng Phật, giữa những giá sách ngổn ngang, nhớ về bạn bè văn nghệ đã từng ghé qua đây rồi trôi dạt chết sống ở một phương nào trong cuộc chiến tranh tủi nhục ngoài kia.
Ngoài căn gác gỗ sau quán sách Huy Hoàng, anh em chúng tôi còn lui tới trú ngụ trên lầu căn nhà riêng của một mục sư Tin lành nằm trên đường Yersin, trong phòng vẽ đằng sau của ngôi nhà anh Thanh Hồ đầu đường Cổ Loa, trong căn nhà tôn nằm sau ga đường sắt, trong xóm Máy nước và một vài nơi khác nữa. Những ngày đói cơm lưu lạc, bị săn đuổi trên chính quê hương mình thời ấy mãi mãi còn là những kỷ niệm sâu đậm, đầm ấm tình bà con bằng hữu trong suốt mỗi cuộc đời anh em chúng tôi.
Chúng tôi bàn với nhau ra một tập san văn hóa xã hội để góp tiếng nói của mình vào cuộc đấu tranh chung của các lực lượng tiến bộ và yêu nước. Nhân Sinh ra đời vì mục đích ấy, đúng vào thời kỳ trong các đô thị miền Nam sôi lên cuộc chiến đấu trên đường phố chống Mỹ, chống Thiệu độc diễn chiếm ghế tổng thống nhiệm kỳ hai. Cuối năm 1971, chúng tôi ra Nhân Sinh số đầu tiên và cũng là số cuối cùng. Bài vở tự anh em chúng tôi phân công nhau viết, chủ đề là vạch trần âm mưu thực dân mới của đế quốc Mỹ về mặt văn hóa ở miền Nam Việt Nam, dựa theo một số tài liệu không phong phú lắm mà ở một tỉnh lẻ, trong điều kiện sống và làm việc như vậy anh em chúng tôi có thể thu thập được. Có bài vở rồi, tôi tự đánh máy trên giấy sáp, đêm đêm chúng tôi chụm đầu nhau lại trong căn phòng hẹp sau nhà của họa sĩ Thanh Hồ in thủ công. Giấy mực cũng do anh em tự đóng góp hay vận động xin được. Tập san in xong, phát hành đi các huyện trong tỉnh Khánh Hòa và một vài tỉnh bạn, chỉ có điều đáng tiếc là kỹ thuật in quá kém, các dòng chữ quá mờ, khó đọc. Bây giờ nhớ lại thời kỳ ấy, tôi nhận rõ ra chúng tôi đã ảo tưởng và không tưởng. Chống Mỹ, nhưng chúng tôi chưa biết dựa vào cái gì để hy vọng vào thắng lợi. Lúc ấy chúng tôi chưa có một sự liên hệ nào với Mặt trận Giải phóng miền Nam, lại càng không thể công khai bộc lộ thái độ ủng hộ Mặt trận, chấp nhận chủ nghĩa xã hội và đi theo đường lối cộng sản. Nhiệt tình tố cáo chế độ Mỹ ngụy quán xuyến việc làm của mình, nhưng trước câu hỏi của một số người: vậy các anh chủ trương đi con đường nào? – chúng tôi đành nói lấp lửng: cứ phơi bày đúng thực trạng chính trị xã hội, còn con đường thoát ra chúng tôi hãy còn đang tìm.
Ở các quán cà phê giải khát trong các đô thị ngày ấy, anh chị em viết văn làm thơ thường tổ chức những đêm thơ nhạc, thậm chí có lúc đọc trích đoạn truyện và kịch bản. Chủ quán sẵn sàng bố trí máy móc âm thanh, có khi còn bao tiền giải khát cho anh em văn nghệ buổi sinh hoạt ấy, vì nó hút được khách gần như thể các chương trình nhạc sống. Ở Qui Nhơn, Tuy Hòa, Pleiku, Kon Tum tôi đã tham gia đọc thơ như vậy. Về Nha Trang chúng tôi cũng tổ chức được một số buổi, ở quán giải khát, ở trường học, ở nhà riêng. Anh em chúng tôi nhớ mãi đêm đọc thơ trên sân thượng nhà họa sĩ Thanh Hồ. Cả cụ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng... cũng đến dự. Đêm ấy cảnh sát lái xe hú còi đến bao vây. Trong khi chúng đang còn mở máy bộ đàm báo cáo đã tiếp cận mục tiêu, xác định có tụ họp bất hợp pháp, xin ý kiến quyết định trước khi ập vào, anh em chúng tôi lần lượt từng người rút lui một cách bình thường. Khi đã có chỉ thị cụ thể, bọn cảnh sát bắt đầu chặn cửa ra vào nhà Thanh Hồ thì chỉ còn vài vị đứng tuổi chậm chân dắt xe đạp ra về.
Đầu năm 1972, trước Tết độ mươi ngày, tôi tổ chức một đêm thơ nhạc ở câu lạc bộ khu đường sắt, số 2 Yersin, mượn danh nghĩa của tổ chức Nha Trang nghĩa thục. Bác sĩ Trần Lâm C. lúc ấy là người phụ trách Hội bảo trợ Nha Trang nghĩa thục, đến cận giờ trình diễn còn bắt tôi thông qua bằng văn bản từng ca khúc, từng bài thơ sẽ đưa vào chương trình, để duyệt. Tôi đã đổ khá nhiều mồ hôi trán suốt thời gian làm việc với con người này cho đến khi bắt đầu chương trình biểu diễn. Một số bài hát “phản chiến” được nhóm du ca Thùy Dương trình bày trước (đến thời điểm ấy, nhạc phản chiến của các nhóm du ca đã trở thành một thứ “mốt” thời trang). Tiếp theo anh em chúng tôi đọc thơ. Đêm ấy tôi đọc bài Máu chúng ta một rừng biểu ngữ của Thái Ngọc San và bài Đất của những người bất phục của Lê Văn Ngăn (những buổi đọc thơ thời ấy tôi rất hay chọn thơ của hai tác giả này). Đến Nguyễn Âu Hồng, Trần Vạn Giã, Nguyễn Hoàng Thu, Thanh Hồ, Nguyễn Cao Thâm... Sau đó nữa là phần biểu diễn của nhóm sinh viên từ Sài Gòn và Đà Lạt mới về Nha Trang sum họp gia đình nhân dịp Tết. Phần “hát cho đồng bào tôi nghe” này đã không được tôi báo cáo thông qua với bác sĩ C. dự định kéo dài khoảng gần nửa chương trình nhưng chỉ mới được đôi ba bài, khi anh Nam Đồng đang ôm ghi-ta đứng trên sân khấu thử giọng để vào bài Thừa Phủ ơi, lòng ta hồng biển lửa thì bắt gặp dấu hiệu không bình thường trên nét mặt tôi ngồi ở hàng ghế đầu. Anh hát lần đầu không đạt, xin hát lại, và được nửa chừng thì xin lỗi, bước xuống. Người ta đã báo cho tôi biết phải chấm dứt đêm sinh hoạt. Khi tôi bước ra sân, trong đám đông người đi dự đang lần lượt kéo nhau ra, chúng tôi không thể nhầm lẫn được một đám cảnh sát chìm đang chia nhau đứng sẵn ở các cửa ra vào.
Từ năm 1969 tôi đã cộng tác bài vở với tạp chí Đất Nước do một nhóm trí thức tiến bộ miền Bắc di cư năm 1954 chủ trương. Đến năm 1970, Đất Nước tách ra làm hai: Đối Diện do các linh mục công giáo Dòng Chúa Cứu thế chủ trương biên tập và Trình Bầy do một số trí thức Công giáo yêu nước. Tôi có truyện ngắn đăng khá thường xuyên trên Trình Bầy, thỉnh thoảng có dịp vào Sài Gòn vẫn ghé đến tòa soạn học hỏi cách làm tạp chí, từ chữa bản in, biên tập bài vở, phát hành, đến tìm hiểu các xu hướng văn nghệ, xu hướng chính trị của báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ. Đầu năm 1971, tôi cùng một số anh em trí thức trẻ chủ trương tạp chí Văn Mới, đáng tiếc là chỉ ra được hai số rồi đình bản vì người đứng tên chủ nhiệm tạp chí bị gây áp lực phải rút lui, chúng tôi không tìm được người thay. Lúc bấy giờ tôi đã được anh em văn nghệ và nhiều bạn đọc chú ý nhân vụ truyện ngắn Những vòng hoa ngụy tín bị truy tố ra tòa. Cuối năm 1971, đang ở Nha Trang, tôi hay tin nhóm Trình Bầy ra thêm một tờ nhật báo, lấy tên Làm Dân, tôi khao khát được trực tiếp tham gia làm báo, một tờ báo, nói được tiếng nói của mình. Tôi viết thư cho anh Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, hẹn sau tết 1972 sẽ vào Sài Gòn.
Tôi mang theo một xấp giấy tờ giả mạo để đi đường và dự phòng khi cần dùng giữa cái đô thành nghiệt ngã ấy. Và chính là với sự ngây thơ cả tin vào cái xấp giấy tờ giả mạo ấy mà chỉ bốn tháng sau tôi có dịp mở đầu một cuộc phiêu lưu mới qua các nhà tù của chế độ Sài Gòn.
***
Đầu năm 1972, cuộc tranh cử một mình chiếm ghế tổng thống của Thiệu đã kết thúc, mặt trận đấu tranh đường phố ác liệt hồi gần cuối năm 1971 đã tạm thời lắng lại. Sài Gòn giới nghiêm, hàng loạt trí thức, sinh viên tranh đấu lần lượt bị bắt tại nhà ban đêm, bị giam giữ và chuyển đi một cách bí mật từ nhà tù này đến nhà tù khác. Anh Thế Nguyên cho tôi và Nguyễn Miên Thảo ở lại tòa soạn sau giờ làm việc vì không còn biết ở đâu khác cho an toàn. Anh khoét tường gỗ trên căn gác tòa soạn làm thành một khung cửa sổ nhỏ, để khi có động tĩnh gì phía cửa chính dưới nhà thì chúng tôi thoát qua mái nhà bên kia theo lối cửa sổ ấy. Tôi và Thảo ngủ trên bàn viết. Hằng bữa, hai anh em ra quán cơm xã hội mua vé ăn cùng với những người lao động không có việc làm, những người đương nhiên được xếp vị trí dưới đáy xã hội. Thảo từng tham gia phong trào sinh viên tranh đấu ở Huế trôi dạt vào, trốn lính bằng những giấy tờ khai sinh luôn luôn mười sáu, mười bảy tuổi. Chúng tôi làm tất cả những việc gì biết làm và cần làm cho Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, từ sửa bản in, viết tin bài, đến vận hành máy xén giấy, đếm báo, giao phát hành... Cứ dăm ba hôm Thế Nguyên đưa cho hai anh em tôi chút ít tiền để ăn tiêu qua bữa. Hồi này Thế Nguyên rất nghèo, làm tạp chí đã nghèo, thêm tờ nhật báo nữa, phải lo nuôi anh em thợ in, trả thù lao cho phóng viên, biên tập..., nhiều bữa đến ngày trả tiền công thợ, anh chạy đi xoay tiền từ trưa, tám chín giờ đêm mới về, anh em thợ ngồi trước cửa tòa soạn chờ tiền, anh khất lần khất lữa trông mà xót ruột. Nhật báo Làm Dân ra 4 trang, bị xếp vào loại báo nhỏ, các nhà phát hành không nhiệt tình lắm vì chưa có độc giả, bị chìm dưới hàng chục nhật báo khác đang ăn khách, lại thường bị tịch thu. Dần dần số cộng tác viên thưa bớt đi, chỉ còn lại có ít người gắn bó với nó vì tâm huyết, vì đã từng gắn bó với Tạp chí Trình Bầy những năm qua. Thế Nguyên phải bán dần đồ đạc trong nhà để cứu lấy tờ báo.
Làm ăn thua lỗ, bà cụ anh Thế Nguyên cứ như ngồi trên lửa. Ít lâu sau, khi tôi vào ở tại tòa soạn, bà biết tôi trốn lính, đã nói thẳng vào mặt tôi rằng phải đi nơi khác, tìm việc khác mà làm. Tình hình hết sức căng thẳng, có lúc tôi đã tính quay ra Nha Trang. Thế Nguyên gởi tôi ở tạm chỗ này chỗ nọ, chùa rồi nhà thờ, mỗi nơi vài mươi ngày rồi lại chuyển đi chỗ khác. Nhiều hôm tôi không còn biết ghé vào đâu, Thảo dẫn tôi đi tìm chỗ ngủ ở nhà người bạn này, người quen kia, cốt sao có một chỗ qua đêm.
Mùa hè 1972, những trận đánh lớn nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định, Bình Long, Chương Thiện... Cả miền Nam lên cơn sốt. Chính quyền Sài Gòn tung toàn lực quân sự ra chống đỡ. Nhằm loại trừ những cuộc đấu tranh đô thị có thể nổ ra phối hợp với chiến trường, Mỹ ngụy gia tăng bắt bớ, đàn áp phong trào yêu nước và tăng cường bắt lính đôn quân. Một bữa, Thế Nguyên hẹn một bạn nhà văn đem xe con đến đưa tôi lên trụ sở Thanh niên Lao động Công giáo tạm trú ít ngày, ngẫu nhiên sao chiều hôm đó anh bạn không tới, tôi ngủ lại tòa soạn. Sáng ra thì hay tin trong đêm cảnh sát đã hốt toàn bộ những người ở trụ sở kia. Và chỉ hai tháng sau là tôi gặp lại anh em thanh niên Công giáo ấy trong khu biệt giam ở nhà lao Chí Hòa.
Có một anh bạn học cũ từ thời cùng ngồi ở lớp đệ tam Trường Trung học Võ Tánh Nha Trang, bấy giờ đang làm cho một tờ báo lớn nổi tiếng phản động, đến thăm tôi ở tòa soạn nhật báo Làm Dân. Anh ta rủ tôi sang làm cho báo của anh ta, hứa có chỗ ăn ở an toàn và sang trọng, lương hàng tháng khá cao. Tất nhiên là tôi đã từ chối ngay không hề đắn đo suy nghĩ, và không bao giờ tôi tiếc vì đã từ chối lời mời ấy, kể cả khi tôi bị bắt vài tuần lễ sau.
Thời gian ngắn ngủi ở Sài Gòn, bên cạnh nhật báo Làm Dân, Thế Nguyên giao cho tôi lo liệu toàn bộ phần sáng tác văn nghệ và chăm sóc chung cho Tạp chí Trình Bầy, mấy anh em ít ỏi còn lại phải tập trung lo cho tờ nhật báo tồn tại. Những số Tạp chí Trình Bầy tôi trực tiếp làm hồi ấy là những số sai mo-rát nhiều nhất, trình bày lem luốc nhất của 42 số tạp chí đã phát hành trước khi đình bản theo sắc luật của chế độ Sài Gòn khi nó đi vào giai đoạn giẫy chết.
Một ngày cuối tháng 5.1972, buổi sáng độ mười giờ. Tôi đang ngồi trong tòa soạn đọc lại bản in thử trang nhất nhật báo Làm Dân thì có một vị đội mũ xám, mang kính đen xuất hiện trước cửa căn gác gỗ, vẻ hơi ngập ngừng. Trong phòng không có ai khác, tôi tưởng đấy là một bạn đọc, lên tiếng hỏi: “Ông cần gặp ai?”. Do dự một chút vị ấy nói: “Anh cho tôi hỏi cái này”. Tôi đứng dậy bước về phía cửa. Đợi tôi đến sát bên, vị ấy mới nói vừa đủ cho tôi nghe: “Đưa xem giấy tờ!”. Tôi nghe một làn hơi lạnh chạy từ gáy xuống cột sống lưng, lan ra toàn cơ thể. Phòng kế bên, mấy anh em thợ in đã nhận ra sự việc, vài người không có giấy tờ hợp lệ bình tĩnh tìm cách thoát thân. Tôi móc túi lấy giấy căn cước. Nhìn người trên ảnh rồi nhìn vào mặt tôi, vị ấy hỏi tiếp: “Còn giấy gì nữa?”. Tôi buộc lòng phải móc túi đưa ra một tờ giấy giả. “Mời anh xuống phía dưới nhà”. Dưới chân cầu thang gỗ đã thấy lố nhố hai ba gã cảnh sát mặc sắc phục.
Chị Thế Nguyên nháy mắt ra hiệu cho tôi lẻn đi ra bằng cửa sau nhưng tôi vẫn thật thà hy vọng vào những thứ giấy tờ mình đang có. Rồi chị còn định dúi vào tay đám cảnh sát một ít tiền lẻ để chúng làm lơ cho tôi thoát thân. Đến phút cuối cùng tôi nhận ra trong đám đông đang vây quanh có Thế Nguyên, Nguyễn Miên Thảo và vài anh em trong tòa soạn nhìn tôi bằng con mắt bất lực. Chúng chở tôi đi bằng xe Honda.
Thảo, rồi Nguyễn Âu Hồng, rồi Nam Đồng và vài anh em bạn bè khác nữa gởi thuốc lá vào cho tôi với lời nhắn: Thế Nguyên đang tìm cách gỡ cho tôi ra. Nhưng làm sao ra được nữa, chúng đã nhận ra giấy tờ của tôi là giả mạo, đẩy tôi sang Tổng nha Cảnh sát. Một tháng sau tôi bị đẩy vào Chí Hòa với tội danh sử dụng giấy tờ giả mạo. Đầu năm 1973, chúng lại đẩy tôi sang quân cảnh tư pháp để làm thủ tục truy tố tiếp tội danh thứ hai: đào ngũ. Rồi quân lao Gò Vấp, rồi trở lại nhà lao Chí Hòa trước khi chúng đẩy tôi lên một chuyến máy bay đưa đi làm lao công đào binh ở chiến trường Kon Tum.
Mượn danh nghĩa là một người bà con vai chú của tôi, anh Nguyễn Ngọc Lương, một người nhiều năm qua từng sát cánh chia sẻ vui buồn với Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, người đã đứng tên chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Tin Văn của Mặt trận Bảo vệ Văn hóa Dân tộc năm 1966, bấy giờ mỗi tuần một lần vào tù thăm nuôi tôi bằng chút tiền ít ỏi mà anh và Thế Nguyên gom góp được. Qua anh, tôi biết tin bè bạn, những cái tin đau xót và hân hoan: Nguyễn Âu Hồng bị đẩy ra chiến trường Quảng Tín; Trần Vạn Giã đào ngũ rồi vào tù, ra lính gác hải đăng ở bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng; Nguyễn Hoàng Thu bị bắt vào quân lao Nha Trang rồi đi lao công chiến trường; Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân bị đình bản, Nguyễn Miên Thảo viết một bài nhỏ trên số tạp chí cuối cùng nhắc đến tôi rồi biệt tích; Tạp chí Đối Diện tiếp tục ra nhưng chuyển sang bất hợp pháp, in rônéo, lấy địa chỉ tận bên Canada; Nam Đồng thoát ly ra bưng, Thái Ngọc San biệt tích...
Những gì tôi học được trong hơn một năm rưỡi trong các nhà tù thật là không ít, thật là bổ ích hơn cả toàn bộ những điều tôi tích lũy được trước đó.
Đầu năm 1974, đơn vị ngụy quân mà tôi phục dịch với tư cách lao công đào binh chuyển từ Kon Tum vào mặt trận Nam Tây Nguyên. Để bù đắp phần nào số quân hao hụt nhanh chóng ở Gia Nghĩa, Quảng Đức, ngụy quân “ân xá” đồng loạt hết cả lao công đào binh đang có mặt, đưa chúng tôi về Buôn Ma Thuột huấn luyện trước khi bổ sung cho các tiểu đoàn chiến đấu. Tôi trốn thoát được vào dịp ấy.
Tôi có quen biết đôi ba người đang sống ở thị xã này. Việc đầu tiên là tôi tìm đến tá túc ở nhà họ. Một anh phụ trách nhóm du ca, một anh làm thơ, gặp thêm một nhóm bạn trẻ gốc Tuy Hòa đang học Sư phạm Tây Nguyên, rồi ngẫu nhiên gặp lại Kinh Dương Vương – họa sĩ Rừng, hóa ra anh cũng đã qua quân lao Nha Trang rồi trường đại học lao công đào binh, mới được “ân xá” làm binh nhì. Lại quen thêm một anh bạn bên nhà thờ Cao Đài, một đại úy hậu cần lâu nay vẫn cưu mang giúp đỡ Rừng, một anh bạn sáng tác ca khúc mặc quân phục cấp bậc thiếu úy... Ngày càng có thêm bè bạn, có thêm chỗ lui tới, có chỗ ăn chực đôi ba bữa cơm, có chỗ ngồi viết cho xong cuốn tiểu thuyết về lao công chiến trường. Anh em kiếm cho tôi vài bộ quần áo dân sự để mặc ra đường, và buổi tối có thể lần dò ra quán ngồi bình thản bên tách cà phê. Giữa năm 1974, Rừng và anh bạn đại úy hậu cần xoay xở cho tôi một bộ đồ trận đủ từ mũ đến giày, liên hệ xin cho tôi một chỗ trên chuyến trực thăng bay về Nha Trang. Thoạt tiên tôi không tin mình có thể về tới Nha Trang một cách dễ dàng và an toàn như vậy, nhưng sự thực tốt đẹp ấy vẫn xảy ra, dù có nằm mơ cũng không thấy được.
Tháng bảy, trời Nha Trang oi bức không kể xiết. Tôi tạm trú ở nhà chị ruột tôi trong khóm Máy nước rồi lần dò tìm lại bạn bè. Hiệu sách Huy Hoàng đã sang cho chủ khác. Thanh Hồ theo đơn vị chuyển vào Cam Ranh, dăm bảy bữa mới về nhà một tối. Nguyễn Cao Thâm về quê Quảng Ngãi trốn lính. Trần Vạn Giã lại đào ngũ, đưa vợ con về tá túc ở một khu xóm đạo cách Nha Trang hơn ba chục cây số. Nguyễn Hoàng Thu cũng đã lại đào ngũ trở về, lui tới lắt lay đâu đó giữa những chỗ quen biết. Tôi tìm đến anh em đoàn du ca Thùy Dương, tham dự một số buổi sinh hoạt với họ, hiểu ra rằng trong đoàn đang có sự phân hóa ngày càng sâu sắc: một số người muốn trung thành với điều lệ của phòng trào Du ca Việt Nam – một tổ chức thực chất là phản động do một nhóm chống cộng cầm đầu, số còn lại đang có nhu cầu vượt lên tiếp cận với chân lý của thời đại, có ý thức chống Mỹ và tỏ lòng ngưỡng mộ công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Số anh chị em này còn rất trẻ, đang học những lớp cuối cấp ở các trường trung học và sinh viên Trường Đại học Duyên Hải.
Tôi viết thư cho một số bạn bè báo tin đã về Nha Trang, viết thư nhờ anh Trần Sĩ Huệ và Nguyễn Tường Văn tìm giúp cho một việc gì để làm kiếm cơm qua ngày ở Tuy Hòa. Hồi còn ở đơn vị lao công đào binh chiến trường, tôi có nhận được thư từ và chút ít tiền anh Huệ gởi ra cho. Tôi còn nhớ Lê Văn Thiện khi đang ở đồng bằng sông Cửu Long viết thư cho tôi tâm sự rằng sau mười năm làm lính ngoài chiến trường anh đã thấm mệt, ngao ngán và sợ, đang định xin chuyển về một đơn vị không tác chiến, có thể là chiến tranh chính trị chẳng hạn..., tôi đã viết thư khuyên anh ráng chịu đựng, không nên xoay xở chuyển sang lính tâm lý chiến, vì trước đó một người bạn khá thân của chúng tôi vốn là một cây bút trẻ có nhiều truyện ngắn khá tốt về chiến tranh và thân phận lính ngụy Sài Gòn đã chạy chọt xin về ngành tâm lý chiến cho đỡ... khổ thân, và khi đạt được nguyện vọng rồi, anh trở thành một tên bồi bút trơ trẽn với những bài viết nhợt nhạt in thường xuyên trên tờ Chiến sĩ Cộng hòa khiến cho không ít người xấu hổ. Không biết có phải Thiện nghe tôi không khi anh từ bỏ ý định ấy để chịu đựng một thân phận tủi cực ngoài chiến trường cho đến cuối cuộc chiến tranh.
Qua thư từ, tôi bàn với Thế Nguyên ra một tạp chí rônéo bất hợp pháp, bài vở phần văn nghệ tôi lo từ Nha Trang rồi chuyển vào Sài Gòn cho anh. Thế Nguyên đồng ý, nhưng sau đó anh bận tham gia nhiều hoạt động khác nên chỉ thực hiện được Tuyển tập văn chương viết về lao tù và tờ tập san Tiếng Nói của Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris mà anh làm Tổng thư ký.
Nhờ sự giới thiệu của anh rể tôi lúc ấy làm việc ở Ty Cảnh sát Khánh Hòa, có một thời gian ngắn tôi đến làm thư ký cho một ông chủ thầu nho nhỏ có văn phòng đặt gần chợ Xóm Mới. Một buổi sáng, đại diện nhóm Sao Việt đến tìm gặp tôi. Thế Nguyên giới thiệu tôi với một vài người của nhóm này để làm quen. Chúng tôi bàn nhau thành lập một tổ chức hoạt động công khai dưới danh nghĩa là Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ở địa phương. Thế Nguyên từ Sài Gòn có ra Nha Trang tiếp xúc với tổ chức và cung cấp những tài liệu cần thiết để tuyên truyền vận động quần chúng. Tham gia vào tổ chức là những người còn ở lại nội thành của nhóm Sao Việt, một số nhân sĩ cựu kháng chiến chống Pháp, một số hội viên Hội Ái hữu Quảng Đà, và một số trí thức, giáo viên đã từng tham gia phong trào sinh viên học sinh đấu tranh những năm trước ở Huế, Sài Gòn... Tôi thôi làm việc cho nhà thầu kia, rút về trú ngụ trong căn phòng vẽ của Thanh Hồ bấy giờ đang bỏ hoang trống. Cũng giống như hồi ở tại tòa soạn Tạp chí Trình Bầy ở Sài Gòn, Thanh Hồ khoét sẵn một cửa sổ mở ra khu vườn nhà bên kia để tôi có thể thoát ra khi cảnh sát ập vào khám xét. Tôi đánh máy tài liệu để phổ biến cho các thành viên trong tổ chức ấy, đánh máy sao lại một số bài báo và tạp chí xuất bản từ Hà Nội mà tôi không thể hình dung hết những con đường ngoằn ngoèo gian khổ nào đó đã đi qua để đến tay tôi. Dăm bữa chúng tôi họp mặt, tổ chức nói chuyện với một đối tượng công chúng hẹp, có lựa chọn. Anh em sinh viên học sinh trong nhóm du ca thường đến chơi với tôi. Nguyễn Hoàng Thu dăm mười bữa tạt về ngủ lại một đêm. Thỉnh thoảng lại thấy Trần Vạn Giã xuất hiện. Anh em nhìn nhau, thấy rõ cái đói khổ, nỗi bất an, sự hốt hoảng vì bị săn đuổi hiện ra trên từng nét mặt, không sao giấu đi được. Ngày ngày tôi ngóng chờ đến giờ bè bạn mang cho một lưng cơm nguội, nửa ổ bánh mì, mấy củ khoai lang, chờ ai đó mang cho một tờ tạp chí phát hành lén lút, chờ ai đó chở ra quán uống một tách cà phê... Và chờ bị bắt, chờ hòa bình.
Tôi còn nhớ anh Phan Ni Tấn, anh chàng sáng tác ca khúc mà tôi quen thân hồi còn ở Buôn Ma Thuột. Ca khúc của anh mang âm hưởng ca khúc đồng bào dân tộc Ê-đê rất rõ. Cuối năm 1974, anh chuyển xuống Nha Trang – Cam Ranh, thường về nhà Thanh Hồ nằm với tôi, nuôi tôi qua bữa. Chơi với tôi, anh bắt đầu tìm những bài thơ tranh đấu của bạn bè để phổ nhạc, anh phổ những bài không ai nghĩ là có thể hát lên được, và anh đã hát với đúng cái giai điệu đồng bào dân tộc Tây Nguyên, nghe rất lạ lùng đối với thời ấy. Đầu năm 1975, anh chuẩn bị đưa đi in (bất hợp pháp) một tập độ mươi lăm ca khúc như thế, phổ thơ Lê Văn Ngăn, Trần Vạn Giã, Đông Trình... Thanh Hồ có sáng kiến ghi âm những ca khúc ấy do chính Tấn hát và yêu cầu tôi nói vài lời mở đầu.
Cũng thời gian đó, anh em sinh viên học sinh trong nhóm du ca Thùy Dương thu thập ở các báo chí hợp pháp và bất hợp pháp những bài thơ tranh đấu của nhiều tác giả trẻ miền Nam, cất công đánh máy thành nhiều bản đóng lại thành tập mang tên chung là Bút anh xanh sự thật loài người, nhan đề một bài thơ của Võ Quê, để chuyền tay nhau đọc. Anh em lại đề nghị tôi viết vài dòng cho lời bạt. Phải nói lại rằng đến những năm 1973 – 1975, báo chí công khai ở Sài Gòn tuyệt nhiên im vắng tiếng nói đấu tranh, tiếng nói phản kháng của nhân dân. Năm 1972, Nguyễn Văn Thiệu đã đánh một đòn quyết định bằng Luật Báo chí 007, một mẻ lưới diệt gọn tất cả các báo chí yêu nước và tiến bộ xuất bản công khai, chỉ còn lại mấy tờ báo minh họa chính sách và đối lập giả hiệu của các phe phái chính trị thân Mỹ. Trong tình cảnh đó, tôi đã nói về những ca khúc của bạn tôi, cũng là lời bạt tập thơ chuyền tay của anh em sinh viên như thế này: “Không phải chỉ có mỗi một thứ văn chương được cổ xúy bởi những người cầm bút bị mua chuộc cũng như không phải chỉ có mỗi một loại lời ca được cất lên đêm đêm trong các tửu lầu dật lạc. Trong những giai đoạn đấu tranh cho sự mất còn của đất nước, khi quyền tự do diễn tả của nhà văn bị tước đoạt thô bạo như tình thế đất nước hôm nay, văn nghệ của quần chúng nhân dân được truyền đi như thế nào? Không phải truyền đi những lời hát yêu nước trên các đài phát thanh phát hình, ở những đại hội ca nhạc tổ chức công khai; không phải gởi tới người đọc những tác phẩm văn chương thể hiện trung thực ý chí phấn đấu của quần chúng bằng kỹ thuật ấn hành tối tân có chữ ký của cơ chế kiểm duyệt phản động. Văn nghệ của quần chúng lớn dậy trong tù hãm nhưng không bệnh hoạn, trưởng thành không biết mệt mỏi, được truyền đi bằng mọi cách. Ở đây là các tác phẩm chuyền tay, nơi kia là những khúc hát rỉ tai, vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 này không phải là không còn chỗ đứng trên bậc thang giá trị vững mạnh những tập bản thảo chép tay hay tác phẩm văn nghệ truyền khẩu – phương thức phổ biến nghệ thuật không xa lạ gì trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và thái độ của văn nghệ sĩ khi sử dụng các thứ phương tiện phổ biến lạc hậu hằng nhiều thế kỷ như vậy lại trở thành sức mạnh tố cáo tích cực nhất tính phi nhân, thoái bộ của thời đại dưới ách thống trị ngông cuồng tàn độc và xuẩn động của bọn què cụt lương tri...”.
Đầu năm 1975, tôi cùng vài người nữa bắt tay vào làm tờ Liên Kết, tiếng nói của Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ở Nha Trang. Bây giờ thì tôi đã biết rõ đằng sau tổ chức công khai này là Mặt trận Dân tộc Giải phóng, là Đảng lãnh đạo. Không phải lãnh đạo từ Sài Gòn ra mà là ngay tại chỗ. Tôi không tìm hiểu đường dây của Đảng, của Mặt trận vào nội thành và đến tôi, vì tôi biết đó là công tác bí mật. Tôi nhận giấy mực, bài vở rồi đêm đêm một mình thức suốt sáng trong căn phòng vẽ của Thanh Hồ đánh máy lên giấy sáp, ban ngày ngủ bù, viết bài, tiếp xúc với ít bạn bè, người thân quen lui tới thăm hỏi, chuyện trò, đưa thức ăn... Liên Kết số 1 ra mắt ít ngày sau trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột. Tôi có viết bài về sự kiện này, viết tuyên ngôn của thế hệ thanh niên khước từ cầm vũ khí... Liên Kết số 2 đang đánh máy thì phải bỏ dở dang vì tất cả chúng tôi phải lao vào một yêu cầu cấp bách: chuẩn bị tiếp quản Nha Trang. Trước đó, thấy tình cảnh của tôi quá bức bối, một vài anh em trong tổ chức có ý định đưa tôi đi thoát ly. Tôi tự thấy mình không còn đủ sức sống lâu hơn trong vòng vây bủa ngặt nghèo ở đô thị – hai lần trong mấy tháng đầu năm 1975 tôi bị cảnh sát bắt ngoài đường, may nhờ người anh rể tôi kịp thời hay tin đến chuộc về – nên cũng muốn thoát ly. Anh Tạ Ngọc Liễn tính toán thế nào không biết, đã phải vào tận Sài Gòn liên hệ lên căn cứ để chuẩn bị đưa tôi lên. Còn phải làm cho tôi mấy thứ giấy tờ để đi đường. Khi đã liên hệ xong anh quay ra Nha Trang thì việc đó không còn cần thiết nữa...
THẾ VŨ
Comments
(20 total) Post a CommentEm vẫn còn bút tích của anh TV về góp ý một truyện ngắn. Để em lục lại, chụp hình gởi cho chị.
Monday October 27, 2008 - 12:43pm (ICT) Remove Comment
Anh cũng lãng mạn quá chị hén .
Sunday October 26, 2008 - 10:44pm (PDT) Remove Comment
Chị ơi , bài thơ làm em cứ nghĩ đến những toa tàu , những con đường sắt chạy dài băng ngày nắng ấm , băng đêm mịt mù . "Em quàng khăn đi lại trên sân ga, ngọn đèn khuya nghiêng nghiêng chiếc bóng ,gió mùa xuân phất phơ vạt áo em ấm áp bay qua" ... cô đơn ghê chị nhỉ ?
Một bài thơ để lại ...bỗng vàng ố cả lòng há chị !
Monday October 27, 2008 - 12:56pm (ICT) Remove Comment
Ôi con đường đưa em về lại với anh
Sao mãi vẫn trùng trùng xa ngái
........
tha thiết quá cô ơi! cháu thấy những dấu chấm có gì đó còn vương vấn, có lẽ bài thơ chưa thoát hết ý của chú, cô nhỉ! ; )
Sunday October 26, 2008 - 11:20pm (PDT) Remove Comment
Ôi con đường đưa em về lại với anh.
Sao mãi vẫn nghìn trùng xa ngái.
Chị lưu giữ nhiều kỹ niệm đẹp quá,em thích nhất hai câu thơ cuối,một chút gì lãng đãng,một chút gì tiếc nhớ ngẫn ngơ...
Monday October 27, 2008 - 01:44pm (ICT) Remove Comment
Bạn hoài cổ ơi,
Sao mà hay thế, những kỉ vật ấm lòng. "Người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây"
Monday October 27, 2008 - 02:20pm (ICT) Remove Comment
Vậy đó, những kỷ vật tưởng đã phai theo thời gian, hóa ra vẫn còn. Thật thú vị và hẳn rất cảm động khi ta tìm ra chúng...
Monday October 27, 2008 - 03:21pm (ICT) Remove Comment
- T.: chụp lại cho chị nha, chị lưu giữ những gì về anh T.V đó!
- N.Y: trong mỗi con người thơ văn đều có những giây phút thăng hoa Yến à, chị rất hiểu!
- Cám ơn Gió: Hình ảnh ấy chắc là Gió cũng từng có nên mới cảm nhận đồng cảm thế!
- Tr.N & T.T: Mình cũng thích 2 câu này lắm: Ôi con đường đưa anh về lại với em/Sao mãi vẫn trùng trùng xa ngái... không làm sao níu lại được những gì đã quá xa…
- T.Nhân à, mình đã nói là mình thích lưu giữ những gì xưa cũ, để mỗi khi đọc lại đều rưng rức...
- Nguoi… thỉnh thoảng ghé nhà chia sẻ với mình. Cám ơn bạn lắm lắm!
Monday October 27, 2008 - 04:48pm (ICT) Remove Comment
Tình cảm dạt dào hoà vào những hình ảnh thơ đẹp đã lay động cảm xúc của người đọc.
Từ khung cảnh đợi tàu :
Sao tàu đưa em về chưa kéo còi báo hiệu
Chỉ nghe tiếng đồng hồ điểm giờ trên tháp chuông
mờ trong sương giá...
Người đợi tàu đong đầy nỗi nhớ hình dung hành trình của người thương trên chiếc tàu xuôi về phương Bắc qua non ngàn “ núi dựng, rừng hoang vu” qua “ruộng lúa trổ bông” qua dòng sông và ngắm nhìn “phương đông mặt biển bao la” cảnh đẹp non nứoc thanh bình được thâu trong cái nhìn trong veo của người thương. Từ viẹc miêu tả hành trình chuyến tàu với không gian rộng lớn nhà thơ diễn tả hồi tưởng của người đợi tàu đau đáu nhớ về cảnh đẹp của miền quê của gian nhà nhỏ hình bóng của những người thân, nhớ về thời áo trắng “ Nhớ một chút thủa làm cô học trò/ mỗi sáng mùa đông đạp xe qua cầu mờ sương...” Rồi giật mình tự hỏi “ Có lẽ tàu đang dừng lai?” để rồi lại hình dung
Em quàng khăn đi lại trên sân ga,
ngọn đèn khuya nghiêng nghêng chiếc bóng
gió mùa xuân phơ phơ vạt áo em
ấm áp bay qua
Gió lay ngọn đèn làm bóng em “nghiêng nghiêng” hay lòng anh cũng đang ngả nghiêng trong chờ mong khắc khoải
Ôi con đường đưa em về lại với anh.
Sao mãi vẫn nghìn trùng xa ngái.
Hai câu thơ cuối lắng đọng mọi nỗi niềm nhớ thương da diết và những lo lắng dự cảm về sự “ xa ngái” “nghìn trùng”...
Tuesday October 28, 2008 - 02:38am (ICT) Remove Comment
Ôi! Quả thật, Cuộc Đời của Hà "Ngày xưa ấy..." là cả một chuổi dài "đầy ấp" những kỷ niệm Đẹp, Lãng mạn, nên Thơ,...
Thật đáng quý,... đáng trân trọng biết bao...!
Monday October 27, 2008 - 07:25pm (PDT) Remove Comment
Chị sống với hoài niệm nhiều quá.
Tuesday October 28, 2008 - 11:34am (ICT) Remove Comment
Cô Hà ơi, cháu cũng giống cô TTiên, rất thích 2 câu cuối Cô à...
Tuesday October 28, 2008 - 03:26pm (ICT) Remove Comment
Những ngày để gợi nhớ và lưu giữ những kỷ niệm phải k cô. Mong cô luôn vững vàng với những ngày phía trước cô nhé!
Bài thơ của chú hay wa' cô ạ, hình như cháu cũng đã từng trải qua cảm giác của cô gái trong bài thơ này rồi - "em quàng khăn đi lại trên sân ga, ngọn đèn khuya nghiên nghiêng chiếu bóng, gió mùa xuân phất phơ vạt áo em ấm áp bay qua" ...
Tuesday October 28, 2008 - 06:50pm (ICT) Remove Comment
Trang giấy cũ đã ố vàng, nét chữ đẹp sắc sảo viết bằng mực, gợi lên một mỹ cảm và chút hoài nhớ...
Còn nội dung bài thơ thì, trầm và tình cảm mặc dù suốt bài ko nhắc đến chữ tình (chẹp, hỏng biết comment vậy có nên hông ta!). Mà những ai hay đi tàu thì sẽ cảm thấy gợi lên 1 ko khí bâng khuâng rất quen thuộc... Bài thơ hay, chị à.
Tuesday October 28, 2008 - 08:57am (PDT) Remove Comment
Hì hì, nghe nói lâu rồi mà bây giờ mới được đọc thơ của nhà văn TV!
Chị Hà, độc bản đó, "người đó" chắc không có đâu!!!
Tuesday October 28, 2008 - 11:04pm (ICT) Remove Comment
Hoài niệm ít hôm thôi nhe chị, buồn hoài cũng hổng hay đâu.
Wednesday October 29, 2008 - 12:10am (ICT) Remove Comment
Lần đầu đến blog chị và đọc bài thơ này giữa đêm khuya, nghe sao...!!!
Wednesday October 29, 2008 - 01:03am (ICT) Remove Comment
Em đang hình dung chị ngồi lần giở những trang viết cũ của Anh mà ...em không chịu nổi...
Bởi vì,em còn giữ kỷ vật của một đứa bạn em mất năm 80 ở Nhật ,mẹ nó gởi về cho em , đến giờ vẫn chưa một lần dám mở ra ...
Chị ơi ,chị thật can đảm !
Wednesday October 29, 2008 - 01:29pm (ICT) Remove Comment
Những lúc thấy mình mệt mỏi và chao đảo, em cũng lần giở những kỷ niệm cũ để lấy lại sức mà bước tiếp, dẫu mỗi lần nhìn lại là mỗi lần đau.
Chữ anh đẹp, rắn rỏi nhưng cũng không thiếu nét nhẹ nhàng của người văn.
Mấy hôm nay bận quá, giờ mới vào đọc entry của chị được.
Sunday November 2, 2008 - 01:02am (PST) Remove Comment
Thoáng trong Xuân có chút mưa
Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa quay về....
........
Ý chỉ có bấy nhiêu, chia sẽ với Hà bao kỳ niệm ngày xa xưa ấ y nha,
Thursday January 29, 2009 - 03:14am (PST) Remove Comment