THẾ VŨ
Th.,
Những ngày đầu tiên sống trong đô thị này đã khiến anh quen dần nhịp hối hả cuồng bạo của nó, điều đó dường như là một sự thay đổi lớn lao so với nếp sống thường nhật của anh ngày trước. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà anh không còn nhận ra vóc dáng buồn bã của mình như những ngày quạnh hiu trước kia. Nếp sống hối hả của đô thị dường như chỉ là cái diện ngoài của một cuộc đời đích thực tiềm ẩn phía sau, giống như sự say sưa, tính cộc cằn, sự hung tợn, ồn ào, khuôn mặt râu ria bẩn nhớp chẳng hạn chỉ là cái diện ngoài của những lính chiến hiện diện trong chiến tranh, che đậy bản chất đích thực của họ ẩn giấu bên trong. Những buổi chiều, sau khi xong việc, anh vẫn chui vào một hiệu cơm tồi tàn nằm quên trong một xó đô thị, gọi một phần cơm nghèo hèn, những bữa cơm cô độc tuyệt đối này giúp anh thấy lại mình sau một ngày làm việc quay cuồng, trong bộ quần áo còn dính đầy những vết dầu, với một lớp bụi dày quyện cùng mồ hôi trên khuôn mặt gầy gò của anh. Quán nằm xế một bến xe lam, nơi nhiều ngả đường đô thị giao nhau, cửa hiệu mở ra một trạm xăng luôn luôn nhộn nhịp. Thường anh vẫn ngồi một mình trong quán, lúc bóng tối vừa kịp sụp xuống bên ngoài dưới những bức tường cao ốc, hân hoan với phần ăn của mình sau một ngày lao động, giữa lúc quán trống trơn không một người khách thứ hai, lừ đừ mệt nhọc đưa mắt nhìn ra bên ngoài những ô lưới mắt cáo. Ở ngoài đó là những vết xăng loang bẩn trên mặt nhựa, những chuyến xe lam cũ kỹ đỗ vào bến, những tấp nập của một buổi tối mới bắt đầu trong một đô thị thừa thãi những áo xiêm chưng diện sặc sỡ.
Những bữa cơm không kéo dài lâu lắm, trên đường đi bộ trở về nhà trọ, anh có đủ thời giờ nhớ tới em và bạn bè ở xa, tuy nhiên không bao giờ anh có dịp đi thênh thang trên các con phố ở đây như ngày xưa, bởi nhiều lý do khác nhau, trong đó điều hiển nhiên nhất là đô thị không đủ sức quyến rũ anh như nơi chúng ta đã sống. Phòng trọ là một căn gác xép, màu sơn cũ kỹ, nằm gần một ngã tư dẫn về một khu phố tàu, một khu chợ hôi hám nhớp nhúa và một ngã đường không biết đưa đến đâu bởi anh chưa lần nào đi qua cả. Buổi tối ở đây, khác hẳn ngày ở thành phố chúng ta, không gây cho anh một ý niệm nào hết. Thường thường, nó chỉ là sự kéo dài vô ích của cái ngày vừa trôi qua nếu đó là những hôm anh không thể ngủ sớm được, hoặc ngược lại, nó là những giấc ngủ buồn thảm và mệt mỏi của anh. Sau đó, lúc chợt thức dậy bất cứ vào khoảng giờ giấc nào, anh thấy mình tỉnh táo một cách kỳ lạ và dễ bực mình. Đô thị đang vào mùa nóng bức, ngột ngạt, và quả thực là khó chịu đối với một người đến từ một thành phố nhỏ miền biển vốn mát rượi một cách đáng yêu ngay trong những buổi trưa hè oi nồng. Nhiều lúc dù cố gắng anh vẫn không thể ngủ được ngay. Nằm trong bóng tối của căn gác xép, lắng nghe tiếng động cơ xe cộ từ ngã tư, lắng nghe tiếng học bài thì thào của một cô bé trong căn gác bên cạnh, lắng nghe tiếng cải lương rầu rĩ phát ra từ một chiếc radio nào đó vọng đến, tất cả những âm thanh đó pha lẫn vào nhau đập vào trí óc anh gợi ra những ý tưởng nát vụn, không đầu đuôi, lềnh bềnh trong trí nhớ của anh như một nỗi ám ảnh.
Lúc giật mình trở dậy, mồ hôi nhớp nháp bò quanh cổ có thể cho anh biết buổi tối đã vào khoảng giờ nào. Ánh sáng từ một ngọn điện mắc dưới ngõ hẻm dội lờ mờ vào căn phòng có thể giúp anh tìm bao thuốc lá và chiếc hộp quẹt dễ dàng hơn. Châm lửa một điếu thuốc, ngồi dựa lưng vào thành ghế trong bóng tối mờ nghe tiếng cãi nhau trong tuồng cải lương tiếp tục vọng đến, hoặc là, vẫn những âm thanh cũ buổi chiều tối: giọng thì thào học bài bên kia cánh cửa sổ nghe rõ ràng hơn, tiếng động cơ dưới đường thưa thớt nhưng ầm ĩ hơn. Sau khi hút xong điếu thuốc, bao giờ cũng vậy, anh trở dậy mặc quần áo bước ra đường, ghé vào chỗ người đàn ông bán vé số nơi góc ngã tư để mua một bao thuốc hay một hộp diêm để có thể thức khuya mà không thấy khó chịu, đến quán tạp hóa của một người đàn bà đã già gốc từ miệt lục tỉnh để uống một ly cà phê bít tất nóng. Quán nằm lấn ra ngoài mặt đường, chiếc bàn gỗ đóng dày một lớp bụi, ly cà phê bốc hơi nhưng không mang theo một hương vị nào. Tuy nhiên, buổi tối êm ả bắt đầu dễ chịu hơn với những cơn gió khuya đầu tiên mang hơi nước từ bờ sông thổi vào lộng qua những bức tường cao ốc san sát nhau, đập vào những thanh gươm, mã tấu, súng ống, xe tăng bằng cao su treo toòng teng trước mặt. Những cơn gió đó bao giờ cũng gợi cho anh biết lúc bấy giờ đã nửa đêm hay quá một tí. Anh chỉ rời khỏi quán tạp hóa khi người đàn bà đã thu dọn xong những món vặt vãnh bên ngoài để chuẩn bị đóng cửa.
Trở về phòng, tắm rửa cho thoải mái và nhẹ nhàng, xong anh bắt đầu những giờ phút trống rỗng thật sự. Ngồi vào ghế mây, đốt liên tiếp những điếu thuốc và chờ nghe những tiếng đồng hồ gõ thanh thoát từ căn nhà bên kia con hẻm, bởi vì cho đến lúc đó hầu như những âm thanh thường hằng của đô thị không còn nữa. Tiếng cãi cọ kịch liệt và khôi hài hoặc tiếng than van não nề của tuồng cải lương đã chấm dứt, tiếng động cơ xe cộ dưới đường lâu lắm mới vọng đến, xa xôi và mơ hồ. Thành phố yên nghỉ trong sự xa hoa của những cao ốc hay khốn khổ của những vỉa hè. Thỉnh thoảng anh có thể nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng lạ thay, tiếng súng không bao giờ nhắc nhở anh nghĩ đến chiến tranh hay ít ra, nhắc nhở anh nghĩ về những ngày đã sống ngoài chiến trường mà anh đã dứt bỏ một cách quyết liệt. Từ đó, anh nghĩ rằng có thể hiểu được một cách rõ ràng vì sao những người sống trong đô thị này chưa hề trải qua một ngày ngoài mặt trận, hay ngay cả những người sống ngoài mặt trận nhưng không có đủ một sự hiểu biết cần thiết hoặc hiểu biết một cách sai nhầm đã mang lắm ảo tưởng và định kiến thiên lệch một cách quái gở về một thứ hòa bình đang được dán trên những bức tường.
Đó là những đêm anh cảm nhận nỗi buồn bã và cô độc tuyệt đối của đời sống mình. Cơn ngái ngủ đã qua, sự tỉnh táo khơi dậy nơi anh một khoảng trống vô bờ bến, ở đó anh thu mình ngồi trong ghế, nhả khói lên trần nhà, căn phòng tối thui nhưng ánh sáng từ căn phòng học của cô bé bên kia chiếu nghiêng qua cho thấy những sợi khói thuốc chao liệng trong cơn gió thổi lộng vào con hẻm nhỏ tràn vào phòng. Thuốc lá không làm nên những đời người nhưng nó có thể làm cho đời người đổi khác. Những điếu thuốc làm đầy thời gian, cũng như trước đây, khi còn quanh quẩn nơi thành phố cũ, em đã chất đầy lên sự cô độc của anh.
Trong đêm, giữa những điếu thuốc được thay nhau đốt lên một cách đều đặn, anh có thể ngửi thấy mùi tóc ngai ngái của cô bé bên kia cửa sổ, mùi hương tóc làm anh nhớ xiết bao những buổi tối đã qua của chúng ta. Mùi tóc khiến anh lắm lúc phải đứng lên, kiễng chân nhìn sang căn phòng bên kia, ở đó cô bé có khi đang ngủ gục trên bàn, có khi nhắm mắt tì má trên lưng bàn tay phải, một nửa mái tóc đổ ra bên ngoài cửa sổ, bay lao xao trong gió thốc qua, hoặc cũng có khi trang sách nằm dưới đôi mắt mở lớn. Rời bỏ cửa sổ, trở vào bật đèn rồi ngồi vào bàn, cố gắng viết cho em hoặc cho bè bạn cũ một lá thư để biết chắc rằng anh còn nhiều liên hệ đến những người khác. Sự cố gắng đánh lừa mình như vậy thường dẫn đến một kết cuộc không mấy hào hứng: những lá thư đó rất hiếm khi được gửi đi. Những hôm nghỉ việc, không đủ can đảm nằm mẹp trong phòng chờ đến bữa ăn, anh xuống phố, trôi dạt trên những vỉa hè, đôi lúc tình cờ đi ngang qua nhà bưu điện, chính nơi này nhiều lúc đã khiến anh đau buốt khi nhớ đến những người thân quen còn ở lại trong thành phố cũ.
Những buổi sáng của anh trong đô thị này thường bắt đầu một cách sớm sủa, không phải như những ngày còn ở Nha Trang. Nơi hiệu tạp hóa quen thuộc, sáng nào anh cũng giành một chỗ ngồi giữa những thợ thuyền lao động khác với một tách cà phê nhỏ. Tuy nhiên, anh chỉ thực sự tỉnh táo khi đi bộ từ hiệu tạp hóa đến chỗ làm việc, ngang qua những ngã tư ngã năm, ở đó những gã cảnh sát đứng lố nhố như những tên thất nghiệp.
Th. yêu dấu,
Nha Trang, bây giờ ở xa nhìn ngắm lại, quả đó là một thành phố tuyệt vời. Nó đã trải rộng ra dưới mắt anh ngày anh vừa lớn, nó đã thu lại bao dung anh ngày anh trở về từ chiến trường. Nó là nơi anh và bè bạn đã kết hợp, ly tán và đoàn tụ. Nó là nơi anh và bè bạn thân yêu nhau, xung đột nhau và từ biệt nhau. Trước anh một ngày, H. dắt vợ về sống ở một tỉnh lỵ phương nam. Sau anh một ngày, G. đưa vợ con đến một thành phố xa xôi phương bắc. Những người ở lại, may mắn hay bị bắt buộc, đều đang mơ tưởng đến một ngày nào đó sẽ bỏ thành phố mà đi. T. đang trôi nổi ở một nơi nào không ai còn biết đến nữa. Còn lại một A. một Q., một Tr. ở lại không biết có phải là để níu giữ những liên hệ giữa những người đã ra đi, hay họ cũng chỉ là những tàn tích cuối cùng chưa bị xóa đi hết sau những mùa hè hân hoan dắt tay nhau trên bãi cát đông người. Những căn phòng chật hẹp anh và bè bạn đã nằm sát bên nhau, đốt thuốc lá suốt sáng, ồn ào bàn cãi về những vấn đề to tát như cách mạng, đấu tranh..., giờ hẳn đã im lìm buồn rầu khép kín với một mình A. đi về thất thường và mệt mỏi. Những buổi tối khề khà bên những ly rượu ngoài bến xe liên tỉnh, bên lề đường phố chính, trên bãi biển mát rượi về khuya, giờ hẳn đã bay theo cùng H. về thị trấn phương nam, hoặc ở lại trong trí nhớ đầy ắp của Tr. và Q. Những tách cà phê nóng ấm, những ca khúc tuyệt vời giờ hẳn đã theo T. lãng đãng nơi một phố thị lẻ loi nào đó. Và anh còn tưởng như thấy được cả G. nghiêng nghiêng đứng trên một bến tàu nơi thành phố phương bắc, lặp đi lặp lại mãi như một kẻ thất chí những chữ đấu tranh, cách mạng như nỗi ám ảnh không thể nào dứt bỏ được.
Nha Trang đã bao dung các anh hơn bất cứ một nơi nào khác. Ngày từ chiến trận trở về, gặp lại bè bạn sau nhiều năm thất tán, quả thật anh như bắt được niềm vui sướng lớn lao chưa từng có trong đời. Nhưng bao giờ cũng vậy, những hôm co mình nằm buồn trên căn gác gỗ lộng gió cất đằng sau hiệu sách thân quen, anh vẫn yêu chuộng sự cô độc của mình đến nỗi G., H. và những người khác tỏ vẻ bất bình. Sự cô độc quyến rũ anh kỳ lạ; chính những lúc như thế, anh hiểu được chính mình và mỗi người quanh mình nhiều hơn. Những buổi tối trên căn gác gỗ lộng gió đó không có T., anh đã nghe tiếng khẩu cầm của bọn trẻ con vô gia cư từ một góc phố cất lên, tiếng khẩu cầm không diễn tả được một điều gì, không theo một nhịp điệu nào, nhưng những âm thanh rời rạc đó cất lên với cái lý do của nó khiến anh thấy mình gần gũi với chúng hơn. Phải nghe thứ âm thanh đó cất lên hồi hai ba giờ sáng, với tiếng nói lí nhí của chúng từ một sạp hàng đã dọn trống nơi hè phố, xen kẽ là tiếng những con chó cất giọng tru tréo từ một cao ốc tám tầng hay tiếng động cơ của những chiếc xe tuần tiễu chạy qua, anh mới hiểu được nhiều hơn về những đứa trẻ sống bên lề xã hội. Hoặc giả là những buổi chiều, sau khi từ chối bè bạn một vài ly rượu trên bãi, bên đường, trong bến xe hay một nơi khác, anh đã bắc ghế ngồi một mình trước cửa hiệu sách, dưới ánh sáng đầy ắp của những ngọn đèn ống chiếu xuống từ những cao ốc phía trước, với những cơn gió lộng thổi từ biển vào thốc tung bụi trên mặt phố, anh đã dõi mắt nhìn những người lướt qua trước mắt và hiểu, càng lúc càng rõ ràng, tại sao nhiều lúc chúng ta cần phải từ chối những cuộc vui mở ra sẵn sàng chờ đón chúng ta đến. G. và H. nhất định không chịu hiểu cho anh điều đó.
Anh, và cả bạn bè anh, mỗi người không thể nào quên ôm ấp những kỷ niệm cũ từng mỗi giây phút, trong những kỷ niệm đó, có những ngày mùa hè bọn anh nằm dài trên mặt cát nóng chờ tối, có những đêm nóng bức và trống rỗng bọn anh ngồi kề nhau trong một căn phòng trong khu hỏa xa hoặc nơi trụ sở hướng đạo, hay có khi là một căn nhà tôn cất trong khu lao động bên sông, ngoài ngoại ô buồn tẻ, thao thức chờ sáng. Đó là những ngày anh chưa bị đẩy ra chiến trường Bình Phú, A. chưa bị đưa về mặt trận Nam Ngãi, N. chưa trốn vào tu viện, L. chưa nghĩ đến một ngày mình có thể trôi dạt về Đồng Tháp. Rừng dừa trên cồn cát giữa sông thời đó có bọn anh thơ thẩn đi trong những đêm trăng sáng. Mùa hè có những chiếc xe đạp quanh quẩn trên đường quê. Những buổi sáng đạp xe qua cầu vào thành phố. Thời đó bọn anh chưa ai nghĩ đến một ngày như bấy giờ, trôi dạt về những miền sinh tử, khốn đốn với áo cơm, nhục nhằn đối phó với những sự thật ngụy trá. Sự sống, lý ra nó phải là một cánh cửa mở ra hân hoan chờ đón ngày mai, đằng này nó luôn luôn là một cánh cửa khép kín để con người cố thủ trước sự hung hãn của bạo lực.
Th. yêu dấu,
Anh chắc sẽ không quên được Nha Trang, đặc biệt là những ngày cuối ở đó, với em. Dù có lúc một trong hai chúng ta trôi dạt về những bờ bến khác của sự sống, rẽ về những con đường hoàn toàn xa cách nhau, anh nghĩ sẽ rất khó để anh quên được, dù muốn. Làm sao anh quên được những buổi tối chúng ta ngồi trên bãi cát, mùa đông và sự xúc động khiến đôi tay anh lạnh buốt, run run trên những sợi tóc mịn ướt trên vai em. Làm sao anh quên được những buổi chiều đứng đợi em tan học ngoài xế cổng trường, lâng lâng cảm giác như mình trẻ lại mười năm, sự háo hức và niềm vui sướng kỳ lạ của tuổi mười bảy mười tám đứng tựa cột đèn thành phố chờ đợi người yêu. Trên những con đường rợp lá xanh chúng ta đi về mỗi buổi chiều, anh biết mình ở một khoảng cách khá tàn bạo với tình yêu: tuổi trẻ anh không còn nữa. Nhưng cũng chính điều đó sẽ khiến anh nhớ mãi niềm tin yêu em dành cho anh, nhớ như một nỗi thất bại. Bây giờ những buổi chiều tan học về không còn anh, mùa hè cũng đang bắt đầu, nhưng anh chắc cái khoảng cách giữa chúng ta không biến đổi. Mùa đông tới chắc hẳn em sẽ ngồi những nơi chốn cũ một mình, từng đợt sóng tràn lên bờ cát thẩm, ánh trăng lấp lánh soi chiếu lên nửa khuôn mặt xõa tóc, nhưng không bao giờ còn có anh ngồi che gió tạt vào tà áo mỏng như mùa đông đã qua. Lúc đó, hãy nghĩ đến anh cô độc nằm vùi trong căn gác gỗ bạc màu sơn, nép mình dưới những cao ốc của đô thị này, già cỗi thêm một ít nữa sau một thời kỳ phấn đấu cùng áo cơm và tự do cho chính mình giữa một hoàn cảnh nghiệt ngã mà em khó có thể nghĩ ra ngày nào còn quẩn quanh ở nơi chốn cũ.
Nhưng anh còn hy vọng ở ngày trở lại. Chắc Nha Trang sẽ còn bao dung anh ngày về, dù lúc đó bè bạn đã dạt về những phương khác. Anh tưởng như ngày đó em vẫn sẽ còn ngồi nguyên vẹn như ngày nào trên bãi, trong những đêm trăng, tóc rối phủ lên má tàn phai, vẫn những đợt sóng hân hoan tràn lên bờ cát thẩm. Ngày về, đứng bên cảnh tượng yêu dấu đó, dĩ nhiên dù già cỗi đến cách nào đi nữa, anh vẫn sẽ nhìn ra những chân trời khác, mơ hồ nghĩ đến hôm nay, hôm qua để chuẩn bị du nhập vào một nơi khác, tiếp tục phấn đấu trong những hoàn cảnh nghiệt ngã khác, bởi vì, Th. yêu dấu, sự sống sẽ thu nhỏ lại từ hai tay anh khi nào anh tìm thấy sự yên bình trong miền đất ly tán đó.
T.V
Tháng 3/1972
(Trình Bầy số 40, 1972)