Mùa hè trong những thành phố, những thị trấn không phải chỉ nhọc nhằn dưới cơn nắng lửa và mệt mỏi bởi động cơ và khói xe. Mùa hè bây giờ còn được đốt cháy bằng những cơn sốt lạ lẫm, ồn ào, những cơn sốt nhức nhối con người và có tác dụng đánh gục lương tri, nói tóm lại những ngày mùa hè trong thành phố là những ngày bạo động. Ví dụ như chúng ta vừa bước vào thành phố, ví dụ như chúng ta vừa trở về, đêm đêm không phải chỉ nghe có tiếng còi thảm thiết rít lên ngoài đường phố, không phải chỉ nghe có tiếng súng nổ bừa bãi và vội vàng, không phải chỉ nghe có tiếng động của những con chuột khổng lồ làm rung rinh căn gác tối – những con chuột trong các thành phố bây giờ to béo một cách đáng sợ. Hình như mùa hè của tôi trong các thành phố là một sự bất an vô cùng, bên những xâu xé tranh chấp, bên những vụ khủng bố và truy lùng, bên những ngôn ngữ ồn ào của mùa tranh đấu, bạo động. Trò chơi của những tên hoạt đầu, những tên tài phiệt đã mở ra, sân khấu đông đúc nghẹt cứng những tay diễn trò và khán giả có người vẫn ngủ quên, có người đã tỉnh dậy vội vã lau nước mắt. Cái đáng buồn hơn nữa là cửa rạp đã được khóa kỹ bằng xích sắt viện trợ.
Mùa hè, tháng sáu trong một thị trấn lớn miền Trung, tôi buồn bã đi bộ dưới những tòa nhà cao lớn quá sức để tìm kiếm lại bằng hữu mình. Một điều mà tôi mới nghĩ đến là có phải với một tình thế nào đó, khi những đàn chuột khổng lồ rời khỏi chỗ ẩn nấp của chúng, ngang nhiên di động một cách rất tự do thì con người bắt buộc phải lẩn trốn, lén lút và luôn luôn đặt mình trong một tư thế cần thiết, không phải là để đối phó mà là tiếp tục lẩn tránh để sống sót. Lẩn tránh, thật phiền nhiễu, nhưng làm sao được khi anh đang bị săn đuổi, lúc đó đời sống không phải là sự tìm tới hạnh phúc nữa mà trái ngược lại, hạnh phúc là sự duy trì đời sống. Trong một thị trấn lớn, tôi đã tìm kiếm những bằng hữu của mình trong hoàn cảnh như vậy. Có thể những người này lẩn trốn trong một nhà giảng đạo, có thể trên gác chuông thánh đường, có thể trong một tu viện, dưới gốc những cây sứ trắng ngát hương sau ngôi chùa cổ, trong một căn nhà âm u ở ngoại ô, trong vườn dừa bên kia con sông xanh, có thể trong một quận lỵ buồn thiu ở đâu đó. Cuối cùng tôi nghĩ họ có thể đang nằm trong nhà giam, trong một cơ quan điều tra an ninh hay một chỗ nào đó tương tự như vậy – ở đây bây giờ những nhà tù được mở ra khắp nơi dưới nhiều danh xưng làm tôi hết biết gọi tên. Sự thật bây giờ đã trở thành một điều cấm kỵ, nói lên sự thật đã trở thành tội trạng, tiếng nói của chúng ta bây giờ không thể còn màu xanh, màu hồng như mong ước, tiếng nói của chúng ta đã trở thành màu đen, sự sống như thế đã trở thành một sự sống bị tước đoạt, và giá trị của con người – nếu có thể nói như vậy – chỉ có khi chúng ta dám lẩn tránh sự săn đuổi của bạo lực, nói cách khác, chúng ta có đủ kiên nhẫn tiếp tục sử dụng tiếng nói màu đen và đủ can đảm làm cho thứ ngôn ngữ bị cấm đó thành ngôn ngữ phổ quát cho thời đại.
Mùa hè, trước hôm tôi về tới thành phố, buổi sáng khi sửa soạn rời đồn quân, một anh lính khoảng ba mươi tuổi treo cổ chết trong cầu tiêu phòng an ninh đơn vị. Trong thành phố, tôi hay tin hai người bạn cũ được mời tới Ty An ninh vì một lý do sẽ cho biết sau. Những bài thơ của họ mà tôi đã được đọc quả thực là một vết ô nhục dành cho một chế độ, chế độ lớn mạnh lên được nhờ vào con số lớn lao những lao công chiến trường, tù nhân và những người lẩn trốn.
Những ngày cuối mùa hè, vô tình tôi phải ở nán lại trong thành phố trước khi trở về mặt trận Tây Nguyên. Trở về mặt trận, tôi cố ý nhấn mạnh những chữ buồn thảm đó bởi vì tôi có thể hiểu được một cách dễ dàng rằng, cho đến giờ này thành phố vẫn chưa phải là chỗ dung thân của tôi được, nói khác đi một cái gì như định mệnh, tôi còn nhiều liên hệ bó buộc tới các mặt trận xa xôi. Chỗ đứng của những người như tôi trong thành phố, nếu cần phải nhắc lại thêm một lần nữa, là những vỉa hè, những bến xe, những con đường nhộn nhịp nhưng quạnh hiu, những bữa cơm nhờ vả vào anh em bằng hữu xa gần; thành thực mà nói dù có bi thảm đến đâu, chúng tôi đã sống những ngày đó như một gã ăn mày chưa đủ can đảm quỳ lạy ngoài xó chợ. Quả thật tôi đã không dám đi mạnh chân qua những vỉa hè lộng lẫy và đắt tiền, không dám bước vào căn nhà bốn tầng của một anh bạn, luôn luôn tôi tưởng như mình bị nhìn ngắm bởi những cặp mắt xua đuổi; thật sự tôi đã hiểu tại sao nghèo đói là một tội lỗi. Một người bạn cũ đã tỏ ra hằn học khi tôi không chịu nghe theo lời khuyên của anh, là hãy rời chiến trường mà trở về thành phố; nhưng làm sao tôi có thể sống trong một khung cảnh không chút liên hệ nào với mình, làm sao tôi có thể chịu đựng được những ngày tháng xa lạ của mình trong một thành phố náo động và bạo động. Tôi còn quá trẻ để đi ăn mày và tôi cũng đã quá già để vào sống trong viện mồ côi. Nói theo sách vở và chữ nghĩa: hãy nghĩ tới tương lai mà sống. Tôi không được cái sung sướng như những người sống thoải mái trên các cao ốc, tôi cũng không có cái hãnh diện của những người đang nằm trong những trại tù nên tương lai của tôi thật khó mà nghĩ tới được, tựu trung tương lai của những người như tôi đang nằm trong tay phường lái buôn. Trò chơi qua ngày lý thú nhất của tôi là sắp những con cờ vào vị trí đã được vẽ sẵn của nó, rồi đẩy một con chốt đầu tiên tiến tới trước một bước. Chỉ duy nhất một bước mà thôi, ngay sau đó tôi rời bỏ bàn cờ, bởi vì tôi biết còn khó khăn lắm mình mới bước được sang phía bên kia sông.
Mùa hè của tôi trong thành phố có lẽ sẽ kết thúc bằng một trận mưa. Một trận mưa tàn bạo.
THẾ VŨ
Sài Gòn tháng 6/1971
(Tạp chí Trình Bầy, số 23 ngày 3.7.1971)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét