Thứ Sáu, 30 tháng 7, 2010

Tốc hành miền Trung


Hôm nọ nói chuyện với nhỏ LY, giờ phụ nữ hình như ít quan tâm đến chuyện lập gia đình, nhưng đến tuổi nào đó họ vẫn muốn có một đứa con hủ hỉ và nhớ lại truyện cũ của anh....




Truyện ngắn của THẾ VŨ

Một buổi chiều mùa đông năm ngoái, vừa từ nhà máy về đến nhà, con gái tôi chìa ra cho tôi một tờ điện khẩn. Bức điện ghi: “Công việc ở Nha Trang đang cần anh ra gấp”. Không ghi tên người gởi. Tôi đặt tờ giấy lên bàn, thay áo quần, lấy khăn xuống nhà sau lau rửa mặt mũi chân tay cho thoải mái, đồng thời nghĩ xem công việc ở Nha Trang cần tôi ra gấp là việc gì, và nói chung ai điện khẩn cho tôi. Trở lên nhà, tôi lại bê cả chiếc khay trà đi rửa để pha một ấm trà mới mặc dù việc này con gái tôi có thể làm được. Rồi tôi ngồi vào bàn, rót thêm trà ra tách, mở tờ giấy ra đọc lại bức điện một lần nữa.

Sau bữa cơm tôi nói với vợ:

- Anh có điện khẩn gọi ra Nha Trang gấp. Sáng mai anh đi xe tốc hành.

- Nghe con nói anh có điện khẩn. Việc gì mà gấp thế?

Tôi ậm ừ:

- À, có một cái hợp đồng ngoài kế hoạch của xí nghiệp. Chỉ mới là bước đầu ra xem yêu cầu của họ thế nào... Chắc chỉ độ ba hôm anh về.

Tôi viết giấy báo cho xí nghiệp biết vì việc riêng tôi cần đi Nha Trang độ ba bốn ngày, rồi đạp xe đến nhờ một anh bạn đồng nghiệp sáng hôm sau mang giấy đi xin phép hộ. Đêm, vợ tôi dặn:

- Anh nhớ mang theo áo ấm, miền Trung độ rày lạnh lắm.

Xe khởi hành hồi 5 giờ sáng, 3 giờ chiều đã đến Nha Trang. Xuống xe, khoác cái túi du lịch lên vai, tôi vẫn không dám chắc ai là người đã gửi điện cho mình. Tôi vào một quán giải khát ngồi gần một tiếng đồng hồ. May mà quán ấy nằm ở một con phố khá tĩnh lặng nấp dưới những tán cây xà cừ hun hút gió đông. Khách thưa vắng, chiếc máy hát dịu dàng phát ra một chất giọng duy nhất của một nữ ca sĩ tài danh cách đây chừng ba mươi năm, lê thê, da diết, nức nở đến não lòng.

***

Nói là không dám chắc ai đã điện khẩn cho tôi, thật ra đó chỉ là một cách tự dối mình. Ở Nha Trang tôi có một số bạn bè thân và không thân, những người bạn thời sinh viên, thời trai trẻ, những bạn đồng nghiệp một năm gặp nhau một lần, có người thường gặp hơn, có người mười năm nay tôi chưa gặp lại. Nhưng tất cả họ, tôi tính chẳng có cớ gì họ lại điện khẩn cho tôi bất ngờ như vậy. Do đó cuối cùng tôi đã rời quán giải khát với chiếc túi du lịch nhẹ tênh lững thững đi bộ về nhà Bảo Châu.

Căn nhà nằm ở một con phố vắng phía sau ngôi trường trung học, lọt trong một khu vườn nơi trước kia người ta dùng làm quán cà phê nay đã hoang phế, con đường đất hẹp chạy bên hông nhà dẫn ra bãi biển. Đi qua một khoảng sân lát gạch, một hồ nước xây đá có hòn non bộ rêu phủ, căn phòng của Bảo Châu nằm về một góc ngôi nhà hai tầng xây theo kiểu cũ hàng chục năm qua không được sửa chữa, mái ngói âm dương đen xỉn, vôi vữa lở lói từng mảng lớn, các cánh cửa sổ gió giật tung cả bản lề. Tôi dừng lại một chút rồi mới đưa tay gõ vào cánh cửa kính đã vỡ, được lắp kín lại bằng một tấm ván ép sơn cẩu thả màu ghi nhạt. Có tiếng guốc khua trong phòng, tiếng bước chân đi về phía cửa, quả đấm cửa kêu rít lên rồi cánh cửa được mở ra.

- Anh!...

Có vẻ như Bảo Châu chưa thật tin vào mắt mình. Cô hơi hốt hoảng, mừng và sợ hãi trước sự xuất hiện của tôi. Có thể thấy rõ là cô không hợp với khí hậu mùa đông vùng biển: mặt xanh rớt, ủ dột, khổ sở trong chiếc áo len rộng thùng thình, đôi môi khô nứt nẻ, đôi mu bàn tay nhỏ nhắn hiện lên những đường gân xanh...

Tôi bước vào phòng. Ngọn điện tròn đổ quạch hắt xuống căn phòng hẹp một thứ ánh sáng phiền muộn. Trên chiếc bàn viết, cạnh chồng sách giáo khoa là một chiếc ly thủy tinh cắm một nhành hoa vàng đã héo. Trên chiếc giường cá nhân kê sát vách phía trong, một tấm chăn vừa bị hất tung sang một bên. Bảo Châu khép cửa lại sau lưng tôi rồi đến đón lấy chiếc túi xách trên tay tôi đặt lên bàn, nhỏ nhẻ hỏi:

- Anh mới vừa ra tới?

- Ừ.

- Em cứ nghĩ là anh sẽ không ra.

- Sao em dám làm một việc táo bạo như vậy? Anh muốn nói về bức điện.

- Em không biết làm gì khác hơn.

- Việc cần kíp đến như vậy sao?

Bảo Châu đứng ép vào người tôi, đưa cả hai tay ôm lấy khuôn mặt xương xẩu của tôi, ngước mặt lên nói vội vã, đứt quãng, run rẩy:

- Em buồn. Em cô đơn quá, anh Nguyên... Em không chịu đựng nổi... Còn anh, thật đáng trách...

Cô buông tôi ra ngồi úp mặt vào bàn viết, tấm tức khóc.

Tôi không quen dỗ dành phụ nữ khi họ khóc, và nói chung tôi rất e sợ nước mắt phụ nữ. Nó khiến tôi cảm thấy mình có lỗi trong mọi tình huống, nó khiến tôi nghi ngờ và căm ghét tôi, và nó làm mềm lòng tôi. Ngay cả với vợ tôi cũng vậy, hơn mười năm chung sống với nhau có vài bốn bận cô ta khóc lóc với tôi vì những nguyên cớ gì tôi chẳng thể nào nhớ được, và sự việc chỉ kết thúc theo một trong hai cách: hoặc là tôi bỏ nhà đi đâu đó đôi ngày, hoặc là tôi nổi cơn điên, hành động như bất kỳ một gã côn đồ nào.

Còn lúc này với Bảo Châu, tôi không thể bỏ đi ngay được, lại cũng chẳng thể nổi cơn điên. Tôi vụng về vuốt tóc cô, dỗ dành:

- Bình tĩnh, em... Đừng khóc. Anh chưa hiểu việc gì cả, đừng trách anh...

Không ăn thua gì những lời dỗ dành nhạt nhẽo ấy. Tôi đứng tựa lưng vào cạnh bàn nhìn cô rồi nhìn quanh quất khắp căn phòng hẹp, châm một điếu thuốc. Rít được vài hơi, tôi dụi tắt điếu thuốc vào chân bàn, nắm tay cô kéo dậy, nói với giọng cương quyết:

- Thôi đi. Em không nín khóc thì anh rời khỏi đây ngay.

Cô ngẩng lên nhìn tôi ngờ vực. Tôi quàng tay qua lưng cô với cử chỉ dịu dàng hơn:

- Chúng ta đi đâu đó một chút đi, để dễ nói chuyện.

Mười lăm phút sau Bảo Châu khóa cửa phòng. Chúng tôi đi về phía biển. Tôi không quên khoác vào người chiếc áo ấm vợ tôi đã xếp cho vào túi xách đêm qua, trước khi đi ngủ. Trời chập choạng tối. Mùa đông, biển ầm ào dữ dội, những con sóng đập hung hãn vào bờ cát vắng người. Đây kia, băng vội qua đường dăm đứa trẻ mải vui nghịch sóng về muộn, đôi người đàn ông tha thẩn tản bộ dưới những tán dừa nhá nhem từng vệt ánh sáng đèn đường từ xa hắt tới, những cô gái ăn sương bắt đầu tỏa đi gạ gẫm kiếm khách. Gió thốc từng cơn, quất bụi nước vào mặt táo bạo, mang cái lạnh tái tê tràn vào lòng phố xá.

Bảo Châu nép sát vào người tôi. Chúng tôi đi dọc bãi cát, sát mép những con sóng táo bạo tràn lên. Tôi quàng một cánh tay qua lưng cô, cảm thấy thân thể cô mỏng manh đến thế, gầy gò và yếu ớt đến thế, và một chút hơi ấm tỏa ra từ trái tim khao khát của cô cũng mong manh yếu ớt đến thế. Cô chờ mong tôi nói một điều gì liên quan đến tình cảm giữa tôi và cô, còn tôi thì lại im lặng cảm nhận một cách rõ ràng cái đốm lửa le lói cuối cùng đang bùng lên như chực tắt trong tấm thân thể còm cõi chưa bao giờ phát triển đầy đủ của cô, cảm thấy tội nghiệp cho cô với lòng đầy trắc ẩn. Và tôi không thể nói được gì cả, chỉ thỉnh thoảng dừng lại cố che chắn gió để đốt một điếu thuốc, thỉnh thoảng lại chăm chú nhìn cái dáng đi co ro, khổ đau, nhẫn nhục chịu đựng sóng gió của cô.

Cuối cùng cô rủ tôi dừng lại, ngồi khuất nơi một bậc tam cấp dẫn từ con đường phía trên xuống bãi cát mênh mông sóng xô dạt trước mặt.

- Anh không nói gì với em cả?

- Em nói trước đi. Em yêu cầu anh ra với em cơ mà.

Cả hai im lặng. Tôi hoàn toàn không cảm thấy hài lòng vào lúc này, và nói chung không hứng thú gì cả chuyến đi Nha Trang ngoài dự định. Tôi lặng lẽ hút thuốc. Cuối cùng Bảo Châu nói, giọng rã rời:

- Anh không yêu em, em biết thế. Nhưng em có đòi hỏi gì nhiều ở anh đâu. Em cảm thấy cô đơn, bế tắc kinh khủng. Không ai ở trên đời này hiểu em, thông cảm được cho nỗi khổ của em. Anh cũng vậy, cũng bàng quan như bao người đàn ông vô tâm khác... Vậy mà em đã trót tin cậy ở anh, em yêu anh và cần anh.

Vâng, Bảo Châu tin cậy tôi, yêu tôi và cần tôi như thế nào thì tôi biết. Đã có lần cô hỏi tôi: “Em yêu anh, không thể sống thiếu anh được. Còn anh, anh có yêu em không?”. Tôi nói: “Em muốn anh trả lời thế nào bây giờ? Nếu anh nói không, liệu em có chịu đựng nổi không? Nếu anh nói có, em tin ngay được hay sao? Theo anh, hẳn cứ nên kiểm nghiệm qua thời gian”. Cô vui vẻ nói: “Đúng, em tin vào thời gian”. Việc ấy xảy ra đã hơn một năm, không hiểu thời gian đã mách bảo cho cô những gì.

Tôi gặp Bảo Châu cách đây chừng hai năm, trong một chuyến ra Nha Trang công tác. Anh bạn tôi lập gia đình muộn, lại có con muộn – gần năm năm sau ngày cưới. Ở cái tuổi đã quá bốn mươi, ngày thôi nôi của con gái anh, hai vợ chồng bày ra một bữa tiệc khá linh đình so với thời buổi thóc cao gạo kém này. Ngẫu nhiên lại gặp đợt tôi ra công tác. Tôi đến hơi trễ, chỗ ngồi cuối cùng trên bàn tiệc lại là bên cạnh Bảo Châu, một phụ nữ nhỏ nhắn, gầy gò, tuổi đã quá thì, lẻ loi giữa hơn một chục đôi vợ chồng đến dự. Tôi chưa được hân hạnh quen ai trong số họ. Trong mọi bữa tiệc, tôi không có thói quen gắp thức ăn cho người khác kể cả phụ nữ, trừ khi người ấy là vợ hoặc con tôi. Không ngờ cử chỉ kém lịch thiệp của tôi lại được Bảo Châu hiểu theo một ý nghĩa khác.

Cô nói:

- Chỉ có em với anh là còn tự do. Chắc anh kén chọn khiếp lắm nên chẳng cô nào dám lấy anh?

- Đâu có! – Bỗng nhiên tôi nói dối khá tài tình – Chẳng là anh còn đang say men chiến thắng. Em tin không, anh và anh bạn Phong của chúng ta đây thách nhau xem ai sống độc thân lâu bền hơn. Và Phong đã thua cuộc. Anh tính kéo dài niềm vinh quang chiến thắng thêm một vài năm nữa đã.

Cuối bữa tiệc, lúc tôi ngồi uống trà cô nghiêm chỉnh nói khẽ với tôi:

- Cũng không nên lấy vợ muộn lắm, anh Nguyên à. Đến tuổi anh mà đi đâu cũng lẻ loi một mình, trông tội lắm.

- Chỉ e anh vụng về quá, không ai chịu đấy thôi.

Chuẩn bị ra về, cô hỏi:

- Anh đi bằng xe gì?

- Đi bộ.

- Em cũng đi bộ. Anh có cùng đi với em cho vui được không?

Tất nhiên là tôi nhận lời. Càng đi tôi càng nhận ra rằng cô nép sát vào người tôi, đến nỗi cuối cùng khi rẽ vào con phố nhỏ vắng trước nhà cô, tôi thấy mình không thể không đưa tay khoác qua bờ vai nhỏ nhắn của cô. Cô dừng lại, ngước đôi mắt lấp láy nhìn tôi, đôi môi mở ra chờ đợi. Tôi nhận ra cô run rẩy, đờ đẫn trong tay tôi khi tôi hôn vào đôi môi khát khao ấy. Sau đó tôi đưa cô đến cổng mở vào khu vườn tối rồi vội vã chia tay, cảm giác ân hận về sự dại dột của mình.

Sau này Phong kể lại cho tôi biết Bảo Châu đã gần như công khai tiến hành ngay cuộc điều tra về lai lịch và hoàn cảnh của tôi. Cô gặp Phong, và anh bạn thân của tôi đã gay gắt trả lời: “Người ta có vợ, hai con, sống đàng hoàng, hạnh phúc. Vậy cô còn muốn gì nữa?”. Cô không tin lời Phong, hoặc giả là cô không tin rằng tôi lại là một kẻ dối trá tệ hại đến như thế. Cô viết liền cho tôi một loạt thư, yêu cầu tôi phủ nhận những điều Phong nói, thậm chí cô còn lên án Phong là một kẻ ích kỷ tàn nhẫn, khô khan và máy móc, không hiểu được bản chất của tình yêu. Khi nhận được thư tôi xác nhận rằng Phong nói hoàn toàn đúng về tôi, cô biên thư trả lời: “Em biết, anh không hoàn toàn cảm thấy hạnh phúc bên vợ anh... Có lúc nào đó anh cảm thấy đau buồn, bất hạnh, hãy nghĩ rằng em sẵn sàng chia sẻ cho anh...”.

Sự thể đã như vậy, tôi hiểu rằng mình không có quyền lợi dụng hoặc bàng quan, cũng không thể giễu cợt đối với một tấm lòng sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng nhận phần thua thiệt.

Bây giờ, ngồi trước biển đêm ầm ào sóng gió, cô khóc nấc lên:

- Trời ơi, sao đời em khổ thế, bất hạnh đến thế...

Bảo Châu khổ và bất hạnh thật, tôi biết. Lớn lên trong những năm miền Bắc chịu đựng bom đạn ác liệt, mẹ chết trong một đêm trực chiến ở nhà máy bị máy bay ném bom, cô gái còi cọc ấy trưởng thành trong tiếng bom gào đạn réo và hành trang vào đời của cô là những hành khúc ra trận, những bài thơ đánh Mỹ hừng hực khí thế chiến thắng. Còn bản thân cô, gầy gò và kém nhan sắc, cô luôn bị trượt khỏi những ánh nhìn đắm đuối yêu thương của những chàng trai mười tám đôi mươi ùn ùn đi vào bộ đội, hàng hàng lớp lớp đổ về một hướng là chiến trường miền Nam. Bảo Châu học giỏi, hăng hái tham gia hoạt động ở trường và không biết từ bao giờ bạn bè cứ đùn đẩy cho cô hết chức vụ này đến chức vụ khác ở Đoàn Thanh niên. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm cũng vừa lúc giải phóng miền Nam, Bảo Châu thấy mình còn quá trẻ, còn cả một tương lai rộng dài phía trước, cô lại sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì Tổ quốc cần. Cô được điều động vào tăng cường cho miền Nam, lại được động viên tình nguyện đi xây dựng một trường phổ thông trung học mở ở một huyện miền núi. Cô vui với công việc giảng dạy, với nhiệm vụ công tác Đoàn trường, hòa vào niềm vui hồn nhiên của học sinh, thích nghi hoàn toàn với những nhu cầu đơn giản của cuộc sống ở một thị trấn nhỏ miền núi vừa ra khỏi cuộc tàn phá ác liệt của chiến tranh. Mười năm, tuổi thanh xuân của cô trôi qua không để lại chút âm vang dấu vết, cho đến khi Sở Giáo dục giải quyết chính sách chuyển cô về thành phố.

Cô lại say sưa lao vào công việc, nhiệt tình hết mực với học sinh, năng nổ trong mọi hoạt động của nhà trường, tích cực tranh luận về nghiệp vụ chuyên môn với đồng nghiệp, đấu tranh phê phán không khoan nhượng những kẻ lười nhác, vô tích sự và ba hoa. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau cô nhận ra rằng cô lạc lõng giữa mọi người chung quanh một cách đáng ngạc nhiên. Các đồng nghiệp trẻ của cô, họ sôi nổi làm việc và sôi nổi vui chơi, mỗi người tìm ra một cách trang điểm và chưng diện độc đáo cũng như mỗi người có một cách hoàn thành nghĩa vụ người thầy và một thế giới nội tâm riêng biệt. Còn các đồng nghiệp trang lứa với cô và những người đứng tuổi, ai cũng có một gánh nặng gia đình phải lo toan, mỗi người lao vào một kế mưu sinh – cao cả hoặc thấp hèn, khôn ngoan hoặc trơ tráo, trung thực hoặc dối trá, hào phóng hoặc bần tiện để chống chọi qua cơn suy sụp kinh tế kéo dài. Ban đầu cô bám víu vào tình cảm quý mến và trân trọng của học sinh, rồi đến lúc những người bạn nhỏ tuổi hồn nhiên tươi vui trong sáng ấy lần lượt tốt nghiệp ra trường, lao vào một cuộc sống khác, lớp sau lớn lên thay vào chỗ ngồi của lớp trước nhưng không thay vào được chỗ trống trong tình cảm và tâm hồn già nua của cô giáo, và cô thất vọng. Có lần cô hốt hoảng ngã ốm mất nhiều ngày khi tình cờ nghe từ cửa miệng các em học sinh của cô thốt ra: “Cô Bảo Châu, cô giáo già, lỡ thì, khó tính...”.

Cô cảm thấy mình bị đánh cắp hết quá khứ và tương lai.

Phong cho tôi biết thêm rằng cô đã có quan hệ với dăm ba người đàn ông trong mấy năm gần đây. Người thì đã có vợ con, người thì trẻ hơn cô gần chục tuổi, người bị vợ ghen tuông tìm đến tận trường gặp ban giám hiệu xỉa xói, xỉ vả...

Bây giờ đến lượt tôi. Cô ôm chầm lấy tôi, van nài:

- Anh Nguyên... Em không cần gì ở anh cả. Em chỉ biết rằng em yêu anh... Em muốn có một đứa con... Anh biết đấy, người phụ nữ nào chẳng khao khát được làm mẹ. Anh nói đi, anh có yêu em không?

Tôi ngồi thẫn thờ hút thuốc không thể nói năng gì được. Tôi sợ chăng? Không, tôi chỉ bàng hoàng chua xót và cảm thấy gai mọc khắp người. Tôi không thuộc loại đàn ông đạo đức đến nỗi không dám yêu đương và có con với một người đàn bà không phải vợ mình, nhưng việc ấy không thể bắt đầu từ một sự cầu xin khẩn thiết như vậy.

Có lẽ sự im lặng của tôi kéo dài quá lâu, vô tình biến tôi thành một kẻ tính toán keo kiệt bần tiện. Tôi nhận ra sự thể đã quá muộn màng khi Bảo Châu buông tôi ra thở dài rồi đứng dậy. Cô nhìn tôi một cách cực kỳ tỉnh táo rồi đưa tay ôm mặt lặng lẽ bước đi. Tôi nhìn theo bước chân cô băng ngang qua bãi cát, qua con đường rộng vắng, đau khổ và co ro đi dưới ánh đèn cao áp sáng choang cho đến khi khuất vào một ngã rẽ. Tôi vứt mẩu thuốc đang hút dở đứng lên lững thững rời bãi cát. Tôi lại dừng chân châm lửa một điếu thuốc khác. Điếu thuốc lóe lên một đốm sáng, tôi dạm đi tiếp thì một người đàn bà từ gốc dừa nào đó băng ra xáp vào đối diện với tôi:

- Chơi đi anh!

- Cái gì? – Và tôi chợt hiểu ra. Tôi nhìn cô ta từ đầu tới chân, rít một hơi thuốc ngắn rồi hỏi, chẳng biết để làm gì – Ở đâu?

Cô ta vung tay một vòng khá rộng:

- Bãi cát mênh mông, tha hồ.

Và cô ta xáp vào gần tôi thêm nữa như thể đã chộp trúng con mồi. Tôi nói rồi bước đi:

- Thôi hẹn bữa khác.

- Đồ cà chớn! – Cô ta rủa với theo.

Đêm ấy tôi nằm bên cạnh Bảo Châu trong căn phòng cuối góc căn nhà hoang tàn ấy. Cô không khóc nữa, chỉ lặng lẽ ôm chặt lấy tôi. Có một lúc tôi quàng tay qua khuôn ngực cô. Tội nghiệp, nó chỉ gây cho tôi một cảm giác lạnh lẽo đến thế, câm lặng bất lực đến thế...

Tôi cố ngủ nhưng mắt ráo hoảnh không sao ngủ được. Bảo Châu cũng trằn trọc rất khuya. Rồi cô chợp mắt ngủ thiếp đi một cách nặng nề mệt nhọc. Cả trong giấc ngủ cũng không loại bỏ được vẻ khổ đau trên nét mặt gầy gò xanh xao. Càng về khuya tôi càng bị cơn đói cồn cào ruột gan tưởng chừng không sao chịu nổi. Tôi chờ đợi lắng nghe tiếng chuông đồng hồ trên đỉnh nhà thờ điểm giờ. Đến hai giờ rưỡi sáng tôi nhẹ nhàng chui ra khỏi giường bật đèn bàn ngồi xuống ghế, xé một tờ giấy nhỏ từ cuốn lịch treo tường và viết: “Bảo Châu thân yêu. Em đừng buồn, anh rất yêu thương em. Hãy tin anh nói thật lòng. Chỉ có một điều này: Anh cũng chỉ là một kẻ yếu đuối không đủ sức đem thêm khổ đau đến cho em và cho cả vợ con anh. Chúc em sức khỏe và tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn. Sẽ còn gặp lại nhau...”.

Tôi tắt đèn bàn, nhấc lấy cái túi du lịch nhẹ tênh, khẽ xoay quả đấm mở cửa bước ra ngoài. Tôi đóng cửa lại cũng khẽ khàng như thế, rồi lững thững đi bộ ra bến xe. Đến chiều thì tôi đã về đến nhà, vẫn chiếc xe tốc hành đưa tôi ra Nha Trang này hôm trước.

***

Tôi lại có dịp ra Nha Trang, lần này thì đúng là do xí nghiệp cử đi.

Đúng như lời hẹn trước đây rằng sẽ còn gặp lại nhau, sau khi làm xong một số việc do đơn vị giao cho, trước ngày rời Nha Trang tôi tìm đến Bảo Châu vào buổi chiều. Căn nhà vẫn thế, hoang tàn, lở lói chưa được sửa chữa gì và Bảo Châu vẫn ở căn phòng cũ, vẫn tấm cửa ván ép sơn cẩu thả màu ghi nhạt thay vào chỗ trống của tấm kính vỡ. Tôi gõ cửa. Vẫn tiếng guốc khua trong phòng, tiếng bước chân đi về phía cửa, quả đấm cửa xoay nửa vòng rít lên ken két. Bảo Châu trố mắt nhìn tôi đầy kinh ngạc:

- Anh Nguyên!

Tôi nhận ra ngay là cô rất lúng túng. Cánh cửa không mở hẳn ra, và cô án ngữ ở khoảng trống hẹp, bối rối chưa biết phải làm gì. Cô vẫn gầy gò nhỏ nhắn, bộ quần áo trong nhà nhàu nát, chỉ có khuôn mặt hồng lên đôi chút, sắc diện có phần tươi sáng hơn so với cái vẻ tiêu điều hồi mùa đông năm ngoái.

- Nhân ra công tác ít ngày, anh ghé thăm em – Tôi nói.

Bảo Châu bước hẳn ra ngoài thềm, với tay khép cửa lại. Chúng tôi đi về phía sân trước, dừng lại bên chiếc hồ xây đá có hòn non bộ rêu phủ. Khoảng sân vắng lặng và cả hai chúng tôi cũng đều không biết nên bắt đầu cuộc gặp gỡ như thế nào. Cuối cùng Bảo Châu lên tiếng trước:

- Em tưởng sẽ không bao giờ còn gặp lại anh.

- Anh đã nói là sẽ còn gặp nhau. Em lại không tin anh.

Cô không nói gì. Tôi hỏi:

- Lâu nay em sống ra sao?

Cô ngước nhìn tôi như dò hỏi rồi lại cúi mặt nhìn đáy nước tù hãm xanh ngắt trong hồ. Rất lâu cô mới nói, chậm rãi, nhát gừng, nửa như một lời tự thú, nửa như một sự xác tín:

- Đã có lúc em định viết thư báo tin cho anh... Em đã có người yêu, hiện giờ anh ấy đang sống ở đây với em, như vợ chồng. Em yêu anh ấy, và em tin rằng em đã tìm thấy hạnh phúc. Anh có mừng cho em không?

- Anh mừng cho em.

- Anh ấy nhỏ hơn em tám tuổi, là một chàng trai nông thôn đi bộ đội, bị thương ở chiến trường Campuchia. Anh ấy bị mất một cánh tay, còn hai chân thì đang trong quá trình bại liệt. Anh có tin rằng em hạnh phúc với một người như thế không?

- Anh tin.

- Còn anh ấy thì không chịu tin. Cho nên anh ấy không đồng ý đăng ký kết hôn mặc dù em cố hết sức thuyết phục, và mặc dù em đang có thai đến tháng thứ ba. Anh ấy sợ em sẽ khổ. Nhưng em sẵn sàng chấp nhận hết...

Rõ ràng Bảo Châu sẵn sàng chấp nhận hết, và cô đang toại nguyện. Tôi lặng người đi với một cảm giác có lỗi, ân hận tê tái. Khá lâu tôi không biết nói gì với cô, tôi cảm nhận ra hình như tôi đã đánh giá đơn giản và khá sai lầm khát vọng của cô. Và tôi tự hỏi một cách đầy ích kỷ rằng nếu như tôi đã thỏa mãn cho cô một đứa con, liệu cô có hạnh phúc chăng? Và nếu như không phải là anh thương binh bại liệt ấy mà là một người đàn ông nào khác, một lão già hom hem góa vợ chẳng hạn, một gã đàng điếm đê tiện chẳng hạn, đã bắt gặp cô vào những ngày tháng tuyệt vọng vừa qua và thỏa mãn cho cô một đứa con, liệu cô có hạnh phúc chăng?

Tôi nói với cô trước khi chia tay:

- Em cố giữ gìn sức khỏe và chú ý bồi dưỡng cho cháu bé ngay từ bây giờ. Và cho anh gửi lời cám ơn anh ấy.

T.V

1987 - 1989
--> Read more..

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

Tung tăng công viên




Định cà phê Bàu Cát như đã hẹn, nhưng Gió trầm trồ: Em đi ngang công viên Hoàng Văn Thụ đẹp quá chị ơi, thế là cả hai thẳng tiến... ra công viên và al ô cho nhỏ BTT để có khí thế hơn... hihi... mãi tung tăng, đã 12 giờ.. lật đật chạy về lo nhiệm vụ buổi trưa!
--> Read more..

Thứ Bảy, 24 tháng 7, 2010

Thư giãn với những người vượt lên số phận!

Sáng CN, ba mẹ con 3 máy, con gái gửi cho đường link để cùng nghe "Một cõi đi về" do Thủy Tiên và Richard Fuller trình bày qua tiếng đàn guitar của "độc thủ cầm" Nguyễn Thế Vinh. Mời các bạn cùng thư giãn với những người vượt lên số phận.

Trích lại trên blog "Đọt chuối non"




Ca sĩ khuyết tật Thủy Tiên: Vượt lên định mệnh

Lệ Uyên và Thủy Tiên.

Sau 8 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên đã trở nên ngọng líu ngọng lô. Ròng rã gần hai năm trời, cái lu đựng nước đã giúp Tiên luyện cách phát âm và tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường. Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên giấu mình vào cái lu và hát…

Tôi gặp Thủy Tiên tại cuộc Liên hoan tôn vinh những thanh niên khuyết tật thành đạt, chủ đề “Hoa cuộc sống”, do Trung ương Đoàn tổ chức. Thủy Tiên xuất hiện tại liên hoan không chỉ với tư cách một điển hình tuổi trẻ khuyết tật vượt lên hoàn cảnh, mà còn là một ca sĩ.

Lâu nay, giọng hát của cô đã khá quen thuộc đối với khán giả ở TP HCM qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ thiện, tại các phòng trà, hội quán và cả trên sóng phát thanh, truyền hình.

Người ta biết cô là một ca sĩ khuyết tật chuyên hát nhạc Trịnh và hát rất hay, nhưng ít người biết, để có được tiếng hát ấy, để có được niềm đam mê được đứng dưới ánh đèn sân khấu hằng đêm, Thủy Tiên đã trải qua một quãng đời đau đớn và tuyệt vọng đến cùng cực…

Là con gái út trong một gia đình có 7 anh em, lên 3 tuổi, cô bé Tô Thị Thanh Thủy Tiên đã mồ côi cha. Người mẹ của 7 đứa con phải còng lưng tất bật tối ngày với từng mớ rau, con cá tại cái chợ cóc nằm trong một góc phố nghèo ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM, mới có thể kiếm đủ vài ba ký gạo mỗi ngày để duy trì cuộc sống.

Lên 7 tuổi, Thủy Tiên đã biết giúp mẹ bán hàng mưu sinh. Dù cuộc sống bộn bề vất vả, khó khăn, song cô bé vẫn rất chăm học và học giỏi. Cánh diều tuổi thơ chưa kịp đón gió thì bi kịch cuộc đời đã đổ ập xuống mái đầu non nớt. Thủy Tiên bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo.

Ban đầu bờ môi cô bé xuất hiện những nốt đỏ tấy, ngứa ngáy rất khó chịu. Mọi người tưởng Thủy Tiên bị bệnh nấm, nhưng càng bôi thuốc thì những vết tấy càng lan rộng. Mẹ Thủy Tiên đưa cô bé đến một thầy lang ở khu Lái Thiêu chữa trị. Những nắm thuốc được bào chế từ thảo dược của thầy lang càng làm cho bệnh tật nặng thêm lên.

Năm lên 8 tuổi, căn bệnh của cô bé chuyển sang lở loét. Vành môi xinh xắn như bị một con chuột quái ác gặm nhấm nham nhở, buốt thấu xương. Thủy Tiên đau mà không khóc được, vì càng khóc lại càng đau. Mỗi lần bị cơn đau hành hạ, cô bé chỉ biết dùng một cái khăn ướt đắp lên miệng rồi quằn quại trên giường, lăn trên nền nhà rên la một cách bất lực trong cổ họng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ đến khi đau đớn không chịu được nữa, Thủy Tiên mới được đưa đến bệnh viện. Kết quả xét nghiệm đã làm rụng rời hết thảy mọi người trong gia đình. Cô bé bị mắc bệnh xỉ tổ mả, một chứng bệnh rất hiếm gặp trên thế giới.

Những vết lở loét xung quanh miệng cô bé là dấu hiệu cho thấy bệnh đã diễn biến rất nặng, chuyển sang giai đoạn hoại tử. Để cứu mạng sống của cô bé, không còn cách nào khác phải phẫu thuật cắt bỏ những phần môi đã nhiễm bệnh.

Bờ môi xinh xắn của Thủy Tiên mất dần, mỏng dần, nhưng khi vết khâu vừa lên da non thì vết lở loét lại xuất hiện, lại phải gồng mình chống lại những cơn đau đớn cùng cực để các bác sĩ đưa những đường dao kéo. “Bây giờ nghĩ lại, em vẫn còn rùng mình kinh hãi. Thậm chí chỉ vô tình nhìn thấy dao kéo hoặc tiếng kim loại va vào nhau, em cũng đã nổi hết gai ốc” – cô nói.

Bước vào tuổi thiếu nữ, khi vấn đề nhan sắc được ý thức một cách rõ rệt, Thủy Tiên chỉ biết gục đầu vào tấm khăn để giấu đi những giọt nước mắt mỗi khi phải đối diện với chiếc gương soi.

Nhưng bi kịch hơn cả là tiếng nói của cô đã trở nên ngọng líu ngọng lô, do bờ môi đã bị biến mất gần như hoàn toàn sau 8 lần phẫu thuật. Những cố gắng tái tạo lại vành môi của các bác sĩ cũng chỉ giúp gương mặt cô bé bớt phần dị dạng.

Đã có lúc Thủy Tiên nghĩ đến cái chết để giải thoát, nhưng khi nghĩ về mẹ, cô lại không đành lòng. “Những lúc tuyệt vọng em muốn có một căn phòng đủ rộng và kín đáo, chốt chặt cửa lại để la hét cho vơi nỗi đau đớn và tủi thân, nhưng nhà nghèo, lấy đâu ra một không gian như vậy. Vật dụng duy nhất để em có thể thu mình vào trong đó là cái lu đựng nước loại lớn của mẹ. Em đã ngồi vào đó, cốt để cho tiếng khóc của mình không ai nghe thấy…” – Thủy Tiên nhớ lại.

Những lần gục đầu trong cái lu đựng nước, Thủy Tiên nghe rõ mồn một tiếng khóc của mình vọng bên tai. Và một ý nghĩ lóe lên: Mình có thể luyện giọng nói nhờ cái lu này. Tự mình nói và tự mình kiểm nghiệm giọng nói trực tiếp.

Rất khó khăn và nan giải. Thủy Tiên dồn hết mọi khả năng có thể để phát âm từng từ một, từng âm tiết một. Có ngày tập mỏi cả miệng, đến khi ăn cơm không nhai được nữa.

Có lần cái lu ấy được mẹ đổ đầy nước. Thủy Tiên đành xả bớt đi một nửa để gục đầu vào đó luyện phát âm. Khổ cho người mẹ già, lượng nước trong lu bà phải rất vất vả mới kiếm được giữa mùa khô hạn, giọt nước quý như vàng. Bực mình, bà bắt Thủy Tiên nằm sấp xuống quất cho mấy roi vào mông. Khi hiểu rõ sự tình, con gái đang luyện giọng nói bằng cái lu nước, bà ôm chầm lấy con, nước mắt giàn giụa…

Trung bình mỗi ngày hai lần, mỗi lần hơn một giờ đồng hồ, Thủy Tiên luyện cách phát âm của một người không còn bờ môi trong cái lu ấy. Ròng rã gần hai năm trời, Thủy Tiên đã thành công. Tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường.

Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên cất tiếng hát. Cô giấu mình vào cái lu và hát. Hát cho quên đi nỗi đau, hát cho nước mắt chảy vào trong. Hát cũng là cách luyện khả năng phát âm.

Nhà có một chiếc đài cũ kỹ, Thủy Tiên sưu tầm các băng nhạc về bật lên nghe và hát theo. Nhạc Trịnh là thứ Thủy Tiên say mê nhất. Nghe nhạc Trịnh, cô như được sẻ chia nỗi đau, sự tiếp sức của tình yêu cuộc sống. Một năm, hai năm, rồi ba năm… Thủy Tiên thuộc và hát thành thạo hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn…

Sự mặc cảm về bản thân khiến Thủy Tiên sống thu mình. Rời trang sách tuổi học trò, trong lúc những người bạn cùng trang lứa, đứa thì vào đại học, đứa vào khu công nghiệp làm công nhân, Thủy Tiên chỉ biết “một cõi đi về” của mình từ nhà cho đến cái chợ cóc mà người mẹ đã còng lưng gánh nỗi ưu tư mấy chục năm rồi.

Thế giới tâm hồn của Thủy Tiên chỉ là cái lu đựng nước, đựng trong đó cả tấn bi kịch tuổi thơ và những lời ca như con chim còn nằm trong vỏ trứng…

Một ngày nọ, sau khi hát với thế giới của mình, Thủy Tiên bắt gặp một người con gái trạc tuổi mình từ đâu tìm đến. Đó là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc dáng như người mẫu. Cô gái giới thiệu tên là Lệ Uyên và muốn được làm quen với Thủy Tiên.

Lệ Uyên có người quen ở gần nhà Thủy Tiên. Khi đến chơi nhà người quen, tình cờ Lệ Uyên nghe được câu chuyện về một người con gái tập hát trong lu nước. Một chút tò mò xen lẫn sự thương cảm, mến phục, Lệ Uyên tìm đến.

Uyên đang làm việc tại một công ty ở Khu chế xuất Tân Thuận, là người rất mê nhạc Trịnh và hát khá hay. Lệ Uyên là thành viên của Hội Những người hát nhạc Trịnh. Tối thứ bảy hàng tuần họ lại tụ tập về Hội quán Nhạc Trịnh tại Khu du lịch Bình Quới, hát cho nhau nghe. Thành viên của hội có cả những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Sau mấy lần đến thăm bạn, Lệ Uyên động viên Thủy Tiên hãy can đảm bước ra khỏi sự mặc cảm, hòa nhập với cuộc sống. Số phận nghiệt ngã với mình, nhưng mình không được nghiệt ngã với chính mình. Lệ Uyên đưa Thủy Tiên đến với Hội quán Nhạc Trịnh và động viên Thủy Tiên lên hát.

Lần đầu tiên đứng dưới ánh đèn sân khấu, Thủy Tiên như muốn không gian tối sầm lại, để mọi người đừng nhìn thấy mình, chỉ nghe mình hát mà thôi. Thủy Tiên hát, nước mắt chảy tràn tình khúc. Hát mà như đang kể chuyện đời mình.

Khi lời ca vừa dứt cũng là lúc cô bật khóc nức nở. Cả Hội quán lặng im. Thủy Tiên trở thành hội viên Hội Những người hát nhạc Trịnh bằng ấn tượng như thế.

Tại hội thi hát nhạc Trịnh tổ chức sau đó ít lâu, Thủy Tiên gây bất ngờ lớn khi vượt qua hàng trăm ca sĩ để giành giải nhất. Cô nổi danh từ đó. Những chương trình ca nhạc từ thiện hoặc chương trình dành cho người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,… các đạo diễn thường xuyên mời Thủy Tiên tham gia.

Sự góp mặt của cô trên sân khấu và truyền hình, không chỉ mang tiếng hát phục vụ khán giả, mà quan trọng hơn, đó là một bằng chứng sống động về một con người đã chiến thắng nỗi đau, bệnh tật để vươn lên bằng ý chí, nghị lực và trên hết là bằng sự sẻ chia của một tình bạn cao cả và cảm động.

Mỗi lần Thủy Tiên hát, Lệ Uyên đóng vai trò là người phối bè. Họ biểu diễn rất ăn ý trên sân khấu và thân thiết với nhau trong cuộc sống như ruột thịt. Lệ Uyên trở thành nguồn sức mạnh của Thủy Tiên, động viên, tiếp sức cho bạn.

Để giúp Thủy Tiên có cuộc sống ổn định, Lệ Uyên xin cho bạn vào làm việc tại Khu Chế xuất Tân Thuận với công việc kiểm hàng. Ban ngày làm việc, buổi tối họ đi hát ở Hội quán, phòng trà và tập luyện để tham gia các chương trình biểu diễn khi có lời mời.

Thủy Tiên chỉ hát nhạc Trịnh và biểu diễn rất thành công các ca khúc “Một cõi đi về”, “Đừng tuyệt vọng”, “Xin cho tôi tình yêu”, “Diễm xưa”…

Câu chuyện của Thủy Tiên đầy nước mắt, nhưng ngồi với chúng tôi, Thủy Tiên không khóc. Dường như những đớn đau, bi lụy đều đã đi qua, như bóng đêm hun hút phía sau lưng. Cô nói rằng, nếu không có Lệ Uyên, có thể giờ đây thế giới tâm hồn của cô vẫn chỉ là… cái lu đựng nước.

Còn Lệ Uyên thì không nói gì về mình. Trong ánh mắt và suy nghĩ của cô, Thủy Tiên là một người bạn tốt, đã vượt qua những nỗi đau và mặc cảm, tự ti để khẳng định mình.

Nếu như… Vâng! Nếu như không có căn bệnh quái ác ấy, thì Thủy Tiên đẹp lắm. Ánh mắt ấy, vóc dáng ấy, làn da ấy, gương mặt có cái lúm đồng tiền ấy… đủ để trở thành niềm mơ ước khát khao của biết bao chàng trai…

TP Hồ Chí Minh đầu tháng 1/2008
Phan Tùng Sơn

Nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh: 1 tay, chơi 2 nhạc cụ!



Trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn” vừa rồi tại khu du lịch Văn Thánh, có một nghệ sĩ nghiệp dư nhưng lại tạo sự chú ý đặc biệt, đó là Nguyễn Thế Vinh.

Vóc người nhỏ thó, da ngăm đen và bị cụt mất một tay, thế mà anh lại độc diễn cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica với sự hòa điệu hết sức độc đáo, làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và thán phục…

Tuổi thơ bất hạnh

Quê của Nguyễn Thế Vinh vốn là một vùng đất nghèo ở Bắc Bình, Bình Thuận. Ba Vinh mất trong chiến tranh. Ba năm sau ngày ba mất, mẹ của Vinh cũng buồn khổ mà chết khi anh mới tròn 7 tuổi. Bốn anh em nheo nhóc mồ côi được ông bà ngoại đem về cưu mang.

Sau mỗi buổi học về, Vinh lại dắt đôi bò của hợp tác xã đi chăn để phụ giúp ông bà. Trong một buổi chiều xui rủi, Vinh bị ngã từ trên lưng bò xuống và gãy tay. Nếu như được đưa vào bệnh viện băng bó kịp thời thì chẳng có chuyện gì lớn, đằng này Vinh lại được đưa đến một thầy lang và không biết ông ta chữa trị như thế nào mà sau đó ít hôm cánh tay phải của Vinh bị hoại tử, phải cắt bỏ. Hai chữ “độc thủ” đeo bám đời Vinh từ đó.

Bôn ba tìm kế sinh nhai

Với hai nhạc phẩm Một cõi đi về và Ngụ ngôn mùa đông, anh đã làm ngây ngất những ai có mặt trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn”. Đây cũng là chương trình lớn đầu tiên anh được tham gia (sau khi trở thành thành viên của hội quán Hội Ngộ chừng hai tháng nay) và ngay lập tức tạo được một tình cảm đặc biệt nơi công chúng yêu nhạc Trịnh.

Sau mỗi ca khúc của Vinh, mọi người lại vỗ tay không ngớt và dành cho anh những bó hoa tươi thắm nhất. Có ai đó còn thốt lên rằng: “Lại xuất hiện thêm một “quái kiệt” mới trong làng âm nhạc thành phố!”. Quái kiệt hay không còn phải chờ thời gian thẩm định thêm. Chỉ biết rằng trong giờ phút ấy, ai tinh mắt sẽ nhận thấy những giọt lệ đang lặng lẽ lăn ra từ khóe mắt Vinh.

Anh xúc động tột cùng vì lâu nay anh tập chơi đàn cốt để thỏa mãn đam mê âm nhạc, để gửi gắm tâm sự cuộc đời chứ đâu ngờ lại có thể đem niềm vui đến cho người khác.

Hè năm lên lớp 4, sau khi da thịt đã lành lặn, Vinh bắt đầu tập viết bằng tay trái. Sau một tuần miệt mài và quyết chí tập luyện, Vinh đã viết được tuy hơi chậm hơn trước đây và sẵn sàng cho năm học mới.Thời gian đầu Vinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải gò viết bằng tay trái, nhưng với ý chí vượt khó của một cậu bé đầy nghị lực, Vinh vẫn học rất chăm và luôn đạt kết quả cao trong học tập.

Dù còn một tay nhưng Vinh vẫn tiếp tục phụ chăn bò cho gia đình đến hết lớp 7… Thấm thoắt vậy mà cậu bé một tay ấy cũng học hết lớp 12.

Sau khi tốt nghiệp THPT, vì không muốn phụ thuộc gia đình nên Vinh quyết định vào TP.HCM tìm kế sinh nhai. Trong thời gian tá túc “ké” mấy anh sinh viên ở cơ sở D Trường ĐH Kinh tế (sau lưng nhà hát Hòa Bình), được mấy anh khuyến khích, động viên, Vinh quyết định học tiếp và mượn sách vở của các anh để ôn thi.

Năm 1989, Vinh trúng tuyển vào ĐH Kinh tế TP.HCM. Để có tiền ăn học, Vinh đã phải dành dụm số tiền học bổng ít ỏi hằng tháng và làm đủ thứ nghề từ vá xe đạp, dạy kèm cho đến giữ xe chung cư…

Tuy học quản trị kinh doanh nhưng Vinh lại rất mê ngành điện tử. Anh đã học lóm nghề này từ một người bạn và mua sách vở mày mò học thêm. Vậy mà không ngờ chính nghề điện tử này lại gắn bó với anh đến tận bây giờ (hiện anh đang là thợ sửa chữa điện thoại di động và có hẳn một cửa hàng riêng ở Gò Vấp).

Ba năm cho một ngón đàn

“Năm học lớp 6, mặc dù bị cụt một tay nhưng khi thấy người cậu chơi đàn guitar, mình rất mê. Hễ có dịp là mình lấy đàn ra tìm cách đánh thử. Khi thì kẹp phím vào cùi tay cụt để gảy, khi thì gảy thử bằng chân… nhưng tất cả đều thất bại” – Vinh nhớ lại.

Mãi đến ba năm sau Vinh mới nghĩ ra cách để có thể chơi đàn với tay trái duy nhất của mình: dùng ngón trỏ để gảy và các ngón còn lại bấm phím. Thời gian đầu anh chỉ tập bấm từng nốt một, tập một cách mày mò, kiên trì vì chơi đàn như thế rất khó và hầu như chưa thấy ai chơi như vậy bao giờ. Dần dà Vinh cũng đàn được một số bài hát và chừng đó cũng cảm thấy sướng lắm rồi.

Tuy nhiên đàn từng nốt như thế thì chưa thể gọi là đàn nên sau khi vào đại học, Vinh dành dụm tiền đi làm thêm – được 60.000 đồng – và mua một cây đàn guitar mà đến nay anh vẫn còn nhớ ngày mua là 14-6-1990.

Có đàn, Vinh bắt đầu tập bấm hợp âm, từng đêm tỉ mẩn mày mò khổ luyện tập từng hợp âm một. Mỗi hợp âm như thế Vinh phải tập cả tháng trời, khi đã nhuần nhuyễn mới tập tiếp hợp âm khác. Cứ thế anh âm thầm luyện ngón đàn trong ba năm và thành công ngoài mong đợi. Các ngón tay Vinh giờ đây dường như đã độc lập với nhau và anh có thể đàn một cách rất bài bản, chỉ với một bàn tay!

Song song với chơi guitar, Vinh còn chơi tốt harmonica từ khi học lớp 10. Sau này anh nảy ra ý định “sao mình không thử hòa âm harmonica với guitar nhỉ?”. Thế là anh lại lao vào cuộc chơi mới vừa đánh guitar vừa thổi harmonica.

Để hai tiếng đàn và kèn này hòa âm đồng bộ với nhau thì đây lại là một giai đoạn tập luyện kỳ công nữa của Vinh. Cuối cùng, với lòng kiên trì và quyết tâm, Nguyễn Thế Vinh đã chơi được cùng lúc hai nhạc cụ, với một sự kết hợp tuyệt vời mà nhiều người không hiểu tại sao anh có thể làm được.

HỒNG SƠN

Khi Richard Fuller hát nhạc Trịnh

TP- Năm 1969, Richard làm việc cho một tổ chức tình nguyện quốc tế và có dịp đến VN, bắt đầu đồng cảm với những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Từ đó ông thường xuyên có những chuyến đi – về giữa Mỹ và Việt Nam, năm 1993 trở lại VN trong thời bình Richard được gặp Trịnh Công Sơn, họ đã cùng nhau hát trong một số chương trình đặc biệt.

Và khi thăm lại quê hương của Trịnh Công Sơn vào năm 2001, Richard không còn được gặp ông nữa vì nhạc sĩ đã qua đời.

Bước lên sân khấu phòng trà ATB tối 3-4/9 vừa hát, Richard vừa giới thiệu nghệ sĩ khác một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh khiến khán giả bật cười: Xin giới thiệu một “kẻ thù” sẽ lên biểu diễn (ám chỉ các ca sĩ cạnh tranh với nhau trên sân khấu!), đó là Thế Vinh.

Tôi gặp Vinh và thích tài năng của anh, từ đó chúng tôi hát chung với nhau. Nghệ sĩ Thế Vinh đàn cho Richard hát Diễm xưa đong đầy cảm xúc. Không chỉ hát Dậy mà đi (Tôn Thất Lập), Người con gái Việt Nam da vàng (Trịnh Công Sơn), Không (Nguyễn Ánh 9)… mà Richard còn chiều lòng khán giả, hát ca khúc ngoại như Quantalamera, nghệ sĩ Thế Vinh hóm hỉnh: “Anh Phú Phong Trần nhớ tiếng Việt rất tốt, nhưng nghe anh hát tiếng Anh mà tôi cứ sợ anh quên.

Vừa rồi anh hát rất tốt chứng tỏ trình độ tiếng Anh đang khá lên rất nhiều!”. Khán giả cười ồ còn Richard thì vừa cười vừa lắc đầu: “Bó tay! Đấy, quý vị đã hiểu vì sao tôi gọi anh ấy là… kẻ thù!”.

Bà chủ phòng trà ATB Ánh Tuyết nhận xét về ca sĩ đặc biệt này: “Nghe Richard hát bằng tiếng Việt, cách rung động làn hơi rất chân thành và chứa chất nhiều day dứt mà dường như chính anh đã chứng kiến, đã thấu hiểu. Nhiều lần tiếp xúc với anh, tôi biết anh rất yêu VN.

Mấy tháng trước tôi cùng anh ra dự Festival Huế 2008, trước khi tới Huế, anh nằng nặc bảo tôi rằng anh phải ra Nha Trang thăm bà con. Tôi ngạc nhiên bởi anh làm gì có bà con ở Nha Trang mà thăm nom, anh cười: tôi có nhiều bà con ở Nha Trang chứ, đó là những người VN…”.

Yêu đời hơn, yêu người hơn, đó là điều đọng lại sau khi nghe một người nước ngoài yêu VN như Richard Fuller cất giọng hát.

Lâm Văn
--> Read more..

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Tím ngát


Bạn gái của con trai, tặng cho chùm hoa tím ngát, post lên để bạn bè cùng ngắm nhá, vì không phải chỉ mình thích màu tím mà rất nhiều bạn đều yêu màu tím...

(Thỏ Pink Bác thích màu tím, tặng bác cả rừng hoa oải hương :P...
Cám ơn Thỏ nhá, bác thích hoa hơn thích sầu riêng của Thỏ.. )



(TT&VH Online) - Nếu mùa xuân người ta muốn đến La Bình (Vân Nam) ngắm hoa cải thì mùa hè không ít người lại hướng về Tân Cương khi mà thung lũng Y Lê bước vào mùa oải hương tím ngát.

Không chỉ có các nước Châu Âu như Anh, Pháp mới có những cánh đồng trải dài sắc tím hoa oải hương mà thung lũng Y Lê của tỉnh Tân Cương cũng là nơi có bạt ngàn hoa oải hương. Mùa hè là quãng thời gian mà sắc tím của hoa oải hương trải đều trên những cánh đồng của thung lũng Y Lê. Nơi đây được xem như miền đất hoa oải hương tại Trung Quốc.
 
Có người nói: “Chưa đến Tân Cương thì không biết Trung Quốc rộng, chưa đến Y Lê thì không biết Tân Cương đẹp”. Quả vậy, thung lũng Y Lê đẹp nhờ có sự tô điểm dịu dàng từ sắc tím của những cánh đồng hoa oải hương. Từ năm 1964, giống hoa oải hương bắt đầu được đem từ Châu Âu về ươm trồng tại Tân Cương. Kể từ đó đến nay thung lũng Y Lê đã có 46 năm lịch sử phát triển với nghề ươm trồng loài hoa tím biếc lãng mạn này. Diện tích trồng loại hoa này tại Y Lê lên tới 20.000ha, đưa địa danh này trở thành một trong bốn nơi có diện tích trồng hoa oải hương lớn nhất thế giới.



Có người cho rằng hoa oải hương mang hàm ý là sự nghi ngờ, nhưng người Trung Quốc lại nói hoa oải hương hàm chứa ý nghĩa “chờ đợi tình yêu”. Một phần vì ý nghĩa đó, một phần vì khung cảnh lãng mạn của thung lũng bạt ngàn hoa mà cứ mỗi độ hè về nhiều người lại muốn đến Y Lê để chìm mình trong sắc tím hoa oải hương.

Mùa hoa tháng 6, thung lũng Y Lê như được khoác lên mình một chiếc áo màu tím. Nếu như được cùng người bạn yêu đến đây vào mùa hoa, cùng nắm tay đi dạo trong biển hoa tím, dưới bầu trời nắng trong xanh, hít sâu vào lồng ngực hương thơm oải hương hẳn cảm giác đó sẽ hạnh phúc và lãng mạn lắm thay.


 
--> Read more..

Thứ Năm, 15 tháng 7, 2010

Biển Nha Trang và cà phê Hòn Kiến (11.7.2010)




--> Read more..

Cuộc đời thật vô thường!

Về Nha Trang lần này, ngoài chuyện đám cưới cháu và cùng hai con vui chơi vài điểm... mình có một nơi cần đến. Nhớ một trưa nhận được mes từ Bống: Quý vợ Cường đã qua đời rồi... mình tẩn ngẩn tần ngần, tin và không tin. Mỗi con người đều có một phần số, ông trời cho sống thì sống thì sống, bắt chết thì chết... thấy cuộc đời phù du quá, buồn muốn khóc. Tự hứa có dịp sẽ về thắp cho Quý nén nhang.

Nhớ hồi ấy, ở phòng kế hoạch của Sở Nông nghiệp có bà bà cô đều quá tuổi cập kê.. mà mình luôn được gán cho nhãn hiệu: Hàng mẫu tồn kho không bán. Hồi ấy cả bọn đều ở tuổi 25-27. Nhớ có một giai đoạn chú Hiền làm trưởng phòng - chú dáng người cao cao, rất hiền và với mình - cô gái của chế độ cũ (hồi ấy mình làm việc được 1-2 năm gì đó thì giải phóng)  vẫn có nhiều ương bướng, có những buổi phân công lao động mình không chấp hành, và chú... với giọng thật hiền và ánh mắt trìu mến, nói cho mình hiểu nhiều điều. Rồi có những hôm giữa trời đêm, mình và Lan canh những rẫy bắp, nói canh giữ chứ hai cô nàng liễu yếu đào tơ thì làm gì được, chỉ biết ôm cái chăn quấn vào người ngồi co ro trong đêm tối với nỗi hãi hùng... mỗi khi có tiếng động gì đấy vang lên và có những đêm như thế - không ngủ.

Quý là vợ Cường cùng là dân đi học ở Bulgaria về, nhớ hồi ấy Cường phụ trách khâu kế hoạch, mình là dân thống kê, chuyên theo dõi thực hiện kế hoạch Cường đưa ra... và cùng làm việc thật ăn ý. Vẫn nhớ mãi câu nói của Cường khi ấy: Khi nào Cường không còn thì Hà không còn.. Câu nói để xác định rằng mình cũng rất quan trọng. Thế rồi phòng giảm biên chế, ai đi ai ở... mình không nghĩ mình rơi vào tầm ngắm, vì ở phòng chỉ có một mình mình là dân thống kê - một công việc không thể thiếu của phòng kế hoạch. Và một hôm được trưởng phòng Tổ chức gọi lên: Một là đi Phú Yên (hồi ấy chia tỉnh), hai là nghĩ việc: tổ chức xét thấy hoàn cảnh của mình khi nghỉ việc cũng không đến nỗi bi đát vì có gia đình hậu thuẫn. Thế là mình cầm quyết định nghỉ việc với 15 năm 15 tháng lương. Nhớ có lần trình bày: trong quá trình công tác, lao động tiên tiến liên tục, có bằng khen của UBND tỉnh, có cả bằng khen của Bộ Nông nghiệp về mức độ nhanh nhạy trong công tác. Thế nhưng vô hiệu. Và từ ấy mình trở thành thường dân. Không liên lạc gì với những anh em từng một thời gắn bó buồn vui với công việc.

Đã quá lâu không hề gặp lại dù năm nào mình cũng về Nha Trang, đã từng đến nơi làm việc xưa kia... lòng bồi hồi nhưng để gặp gỡ đồng nghiệp cũ thì không hề có trong tư tưởng. Có nhiều lối rẽ cho mỗi người và mình đã từ lâu không nghĩ ngợi về những ngày ấy nữa. Cường dân Hà Nội, ăn nói nhẹ nhàng, khôn khéo. Hạnh cũng vậy duy chỉ có Lan là chậm chạp dù tốt nghiệp bằng đỏ Liên Xô về, vẫn chậm trong công việc và trong cả lời ăn tiếng nói. Còn Bình, là một nam nhân nhưng hình như chẳng dám làm mếch lòng ai, mình không thích những người như thế. Nhưng chả còn dịp để mà thích hay không thích. Và những khuôn mặt ấy đã xa tít tặp thậm chí chẳng bao giờ nhớ.

Từ Bống mình biết được địa chỉ nhà cả số phone của Cường. Cứ ngỡ là ngôi nhà số 68 Mê Linh, tần ngần hỏi thăm ra là không phải... lại nhớ hay là 69, thế là đi ngược lại một đoạn đường, dừng trước ngôi nhà mấy tầng lầu, trên cao cao là bảng hiệu NGỌC QUÝ - LS... nhưng gọi mãi chả thấy ai ra mở cửa. Thời gian thì cấp bách, chỉ còn hơn 2 tiếng là phải ra xe về lại Nha Trang. Đành gọi taxi chạy về KS lấy điện thoại. Cường đã mở cửa sẵn chờ. Câu hỏi đầu tiên là "Hà thế nào rồi, anh Vũ có cùng về không?. Ra là Cường cũng không biết gì về mình. Thế đấy, những con người từng một thời...

Và trước mặt là di ảnh của Quý, nhiều nén hương vẫn đang cháy dở... và thêm mấy nén nhang mới. Khuôn mặt ấy hãy còn rất trẻ, đẹp... Đời người ta đúng là không nói được điều gì. Cường kể nhiều về những dự định tương lai. Thế nhưng! Và có tiếng thở dài trên gương mặt hằn nỗi buồn đau.

Giọng đều đều: Chú Hiền cũng "đi" rồi, trước khi đi chú thều thào: Nhớ phòng kế hoạch lắm. Bình, Lan, Hạnh Cường đều có mặt... duy chỉ Hà không ai biết ở đâu để mà nhắn tin. Cường nhắc nhiều về những ngày hàn vi ấy, nói: Nhớ mãi cảnh Hà bỏ xe đạp ngồi ôm mặt khóc... ra là vẫn còn nhớ! Ông xã Lan cũng không còn, cách đây 2 tháng đột quỵ trên xe trong chuyến công tác. Lan tội lắm, giờ mắt mờ cả, lụ khụ... thấy thương. Và Hạnh cũng vậy. Bình thì nuôi vợ bị liệt nhưng giờ khôn ra biết cách "làm giàu"...  Những cảnh đời của những ngày cũ từng gắn bó với bao vui buồn, làm mình chạnh lòng... bần thần, tự hứa lần về sau sẽ tìm đến thăm từng khuôn mặt cũ.

Cuộc đời con người ta không ai nói trước được điều gì... 
--> Read more..

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2010

Nha Trang - đám cưới cháu Tường Giang (11/7/2010)




Ngày cưới của cháu đã được định sẵn từ rất lâu. Cháu gọi mình bằng cô. Đang học ở Đan Mạch. Không hiểu duyên nợ gì xui khiến lại kết hợp thành một đôi với anh chàng Malaysia, lớn hơn cháu 2 tuổi nhưng nhìn rất trẻ con. Mình thì thích cháu sánh đôi cùng một người mà trong tư tưởng mình phải già dặn một chút, vững chãi một chút. Nhưng đó chỉ là hình ảnh trong tưởng tượng... còn thực tại trông hai đứa trẻ "cũng được"... thôi thì thôi, coi như mỗi người có một duyên số ông trời sắp đặt cả. Mong sao hạnh phúc bền vững, và cháu mãi có nụ cười hạnh phúc.
--> Read more..

Thứ Ba, 6 tháng 7, 2010

HIỂU ĐỜI

Thêm một người bạn ra "thông báo" tạm đình bản blog. Tự dưng cũng buồn buồn. Multi dạo này im ắng lắm rồi, từng khuôn mặt bạn bè cũ cảm thấy như thưa hơn. Nhớ một langtusaigon những ngày đầu vào mulit với những háo hức, vui vẻ chạy qua chạy lại... và thi thoảng để lại vài bông hoa hoặc vài comments chia sẻ lửng lơ. Dạo sau này không thấy bạn xuất hiện nữa. Thỉnh thoảng nhớ và có một nỗi bâng khuâng: không biết bạn có bình an không? Và một Kim Dung nữa vắng nhà từ 19/5 đến giờ, không biết gì về bạn. Chả lẽ rồi sẽ là "ảo" sao? Vẫn có chút tình lưu luyến từ những bông hoa những vòng ôm ảo. NHỚ!

Hôm qua đọc bài này ở nhà Langtusaigon, copy về cùng chia sẻ với các bạn.

HIỂU ĐỜI       

Tác giả : Chu Dung Cơ

Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. Chẳng dám nói hiểu hết mọi lẽ nhân sinh nhưng chỉ có hiểu đời thì mới sống thanh thản, sống thoải mái.

Qua một ngày mất một ngày- Qua một ngày vui một ngày - Vui một ngày lãi một ngày

Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mục tiêu cuối cùng của đời người, niềm vui ẩn chứa trong những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng.

Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân, khi ra đời chẳng mang đến, khi chết chẳng mang đi. Nếu có người cần giúp, rộng lòng mở hầu bao, đó là một niềm vui lớn. Nếu dùng tiền mua được sức khỏe và niềm vui thì tại sao không bỏ ra mà mua? Nếu dùng tiền mà mua được sự an nhàn tự tại thì đáng lắm chứ! Người khôn biết kiếm tiền biết tiêu tiền. Làm chủ đồng tiền, đừng làm tôi tớ cho nó.

“Quãng đời còn lại càng ngắn thì càng phải làm cho nó phong phú”. Người già phải thay đổi quan niệm cũ kỹ đi, hãy chia tay với “ông sư khổ hạnh”, hãy làm “con chim bay lượn”. Cần ăn thì ăn, cần mặc thì mặc,cần chơi thì chơi, luôn luôn nâng cao chất lượng cuộc sống, hưởng thụ những thành quả công nghệ cao, đó mới là ý nghĩa sống của tuổi già.

Tiền bạc là của con, địa vị là tạm thời, vẻ vang là quá khứ, sức khỏe là của mình.

Cha mẹ yêu con là vô hạn; con yêu cha mẹ là có hạn.

Con ốm cha mẹ buồn lo; cha mẹ ốm con nhòm một chút hỏi vài câu là thấy đủ rồi.

Con tiêu tiền cha mẹ thoải mại; cha mẹ tiêu tiền con chẳng dễ.

Nhà cha mẹ là nhà con; nhà con không phải là nhà cha mẹ.

Khác nhau là thế, người hiểu đời coi việc lo liệu cho con là nghĩa vụ, là niềm vui, không mong báo đáp. Chờ báo đáp là tự làm khổ mình.

Ốm đau trông cậy ai? Trông cậy con ư? Nếu ốm dai dẳng chẳng có đứa con có hiếu nào ở bên giường đâu (cửu bệnh sàng tiền vô hiếu tử). Trông vào bạn đời ư? Người ta lo cho bản thân còn chưa xong, có muốn đỡ đần cũng không làm nổi.

Trông cậy vào đồng tiền ư? Chỉ còn cách ấy.

Cái được, người ta chẳng hay để ý; cái không được thì nghĩ nó to lắm, nó đẹp lắm. Thực ra sự sung sướng và hạnh phúc trong cuộc đời tùy thuộc vào sự thưởng thức nó ra sao. Người hiểu đời rất quý trọng và biết thưởng thức những gì mình đã có, và không ngừng phát hiện thêm ý nghĩa của nó, làm cho cuộc sống vui hơn, giàu ý nghĩa hơn.

Cần có tấm lòng rộng mở, yêu cuộc sống và thưởng thức cuộc sống, trông lên chẳng bằng ai, trông xuống chẳng ai bằng mình (tỷ thượng bất túc tỷ hạ hữu dư), biết đủ thì lúc nào cũng vui (tri túc thường lạc).

Tập cho mình nhiều đam mê, vui với chúng không biết mệt, tự tìm niềm vui.

Tốt bụng với mọi người, vui vì làm việc thiện, lấy việc giúp người làm niềm vui.

Con người ta vốn chẳng phân biệt giàu nghèo sang hèn, tận tâm vì công việc là coi như có cống hiến, có thể yên lòng, không hổ thẹn với lương tâm là được. Huống hồ nghĩ ra, ai cũng thế cả, cuối cùng là trở về với tự nhiên. Thực ra ghế cao chẳng bằng tuổi thọ cao, tuổi thọ cao chẳng bằng niềm vui thanh cao.

Quá nửa đời người dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho vui thì sống, việc nào muốn thì làm, ai nói sao mặc kệ vì mình đâu phải sống vì ý thích hay không thích của người khác, nên sống thật với mình.

Sống ở trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu cứ chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực, thế nào cũng xong.

Tuổi già tâm không già, thế là già mà không già; Tuổi không già tâm già, thế là không già mà già. Nhưng xử lý một vấn đề thì nên nghe già.

Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức. Ăn uống quá thanh đạm thì không đủ chất bổ; quá nhiều thịt cá thì không hấp thụ được. Quá nhàn rỗi thì buồn tẻ; quá ồn áo thì khó chịu…. Mọi thứ đều nên “vừa phải”.

Người ngu gây bệnh (hút thuốc, say rượu, tham ăn tham uống….)

Người dốt chờ bệnh (ốm đau mới đi khám chữa bệnh)

Người khôn phòng bệnh , chăm sóc bản thân, chăm sóc cuộc sống.

Khát mới uống, đói mới ăn, mệt mới nghỉ, thèm ngủ mới ngủ, ốm mới khám chữa bệnh…. Tất cả đều là muộn.

Chất lượng cuộc sống của người già cao hay thấp chủ yếu tùy thuộc vào cách tư duy, tư duy hướng lợi là bất cứ việc gì đều xét theo yếu tố có lợi, dùng tư duy hướng lợi để thiết kế cuộc sống tuổi già sẽ làm cho tuổi già đầy sức sống và sự tự tin, cuộc sống có hương vị; tư duy hướng hại là tư duy tiêu cực, sống qua ngày với tâm lý bi quan, sống như vậy sẽ chóng già chóng chết.

Chơi là một trong những nhu cầu cơ bản của tuổi già, hãy dùng trái tim con trẻ để tìm cho mình một trò chơi ưa thích nhất, trong khi chơi hãy thể nghiệm niềm vui chiến thắng, thua không cay, chơi là đùa. Về tâm và sinh lý, người già cũng cần kích thích và hưng phấn để tạo ra một tuần hoàn lành mạnh.

“Hoàn toàn khỏe mạnh”, đó là nói thân thể khỏe mạnh, tâm lý khỏe mạnh và đạo đức khỏe mạnh. Tâm lý khỏe mạnh là biết chịu đựng, biết tự chủ, biết giao thiệp; đạo đức khỏe mạnh là có tình thương yêu, sẵn lòng giúp người, có lòng khoan dung, người chăm làm điều thiện sẽ sống lâu.

Con người là con người xã hội, không thể sống biệt lập, bưng tai bịt mắt, nên chủ động tham gia hoạt động công ích, hoàn thiện bản thân trong hoạt động xã hội, thể hiện giá trị của mình, đó là cuộc sống lành mạnh.

Cuộc sống tuổi già nên đa tầng đa nguyên, nhiều màu sắc, có một hai bạn tốt thì chưa đủ, nên có cả một nhóm bạn già, tình bạn làm đẹp thêm cuộc sống tuổi già, làm cho cuộc sống của bạn nhiều hương vị, nhiều màu sắc.

Con người ta chịu đựng, hóa giải và xua tan nỗi đau đều chỉ có thể dựa vào chính mình. Thời gian là vị thầy thuốc giỏi nhất. Quan trọng là khi đau buồn bạn chọn cách sống thế nào.

Tại sao khi về già người ta hay hoài cựu (hay nhớ chuyện xa xưa)? Đến những năm cuối đời, người ta đã đi đến cuối con đường sự nghiệp, vinh quang xưa kia đã trở thành mây khói xa vời, đã đứng ở sân cuối, tâm linh cần trong lành, tinh thần cần thăng hoa, người ta muốn tim lại những tình cảm chân thành. Về lại chốn xưa, gặp lại người thân, cùng nhắc lại những ước mơ thuở nhỏ, cùng bạn học nhớ lại bao chuyện vui thời trai trẻ, có như vậy mới tìm lại được cảm giác của một thời đầy sức sống. Quý trọng và được đắm mình trong những tình cảm chân thành là một niềm vui lớn của tuổi già

Nếu bạn đã cố hết sức mà vẫn không thay đổi tình trạng không hài lòng thì mặc kệ nó! Đó cũng là một sự giải thoát. Chẳng việc gì cố mà được, quả ngắt vội không bao giờ ngọt.

Sinh lão bệnh tử là quy luật ở đời, không chống lại được. Khi thần chết gọi thì thanh thản mà đi. Cốt sao sống ngay thẳng không hổ thẹn với lương tâm và cuối cùng đặt cho mình một dấu châm hết thật tròn./
--> Read more..

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Off với Quỷ nhỏ..




Quỷ tác giả bài viết Có một thiên đường mặn đắng và là tác giả của nhiều phóng sự ảnh rất đẹp - cùng với Gió hẹn gặp Quỷ tại Khúc Ban Chiều. Thật ngỡ ngàng khi đối diện với một chàng thanh niên hãy còn rất trẻ (1981), và bên cạnh Quỷ là Nguyên cô bạn nhỏ xinh xắn (nhỏ hơn cả con trai mình.. hehheh). Vẫn có lúc chị, có lúc cô... và tranh thủ chộp vài tấm ảnh.. làm quen!.. hehhhe..
--> Read more..

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2010

Những chuyện tình... của nhỏ langyen

Nhỏ nhà zăn cười bắt ghét.. thiệt đó..





Nhớ hôm nọ nhỏ ấy hẹn off tại Miền Đồng Thảo, và trời mưa mưa có lúc thật to, rồi ngớt tí, rồi rỉ rả... và quyết định đi trong trời mưa, đến nơi - vẫn là người sớm nhất. Miền Đồng Thảo lúc 5 giờ hãy còn vắng khách, từng vũng nước mưa đọng lại trên mặt bàn, trên ghế. Từng nhân viên đang lau chùi và mình bước vào, hơi ngại ngùng.. vì cái dáng vẻ hơi ươn ướt, hơi co ro... cũng bởi một mình và tìm một góc bàn có 4 cái ghế để chờ. Gió heo may thì chắc chắn không đến rồi, còn Ngọc Yến chắc phải còn chờ lâu... cứ dõi mắt ra phía ngoài mong bắt gặp một dáng quen thuộc. Và nhỏ nhà zăn xuất hiện, dáng cao lều khều, vẫn nụ cười hiền hiền, mình luôn thích những nụ cười hiền như thế.

Từ rất lâu hình như không ai đặt câu hỏi "Chị sướng ở giai đoạn nào nhất". Mình phải hỏi lại lần nữa, và lại nhớ những xưa cũ, ai cũng có chặng đường đã qua, có thể là những lo toan, có thể là những thảnh thơi...  nhưng tất cả đều nằm im trong một góc nhớ. Và một chiều, một câu hỏi bỗng dưng ký ức ùa về và mình cũng không muốn kể nhiều. Thế đấy và những câu chuyện xoay quanh những chuyện đời thường, chuyện đời ảo... Có ai nghĩ rằng một cô nàng lúc nào cũng im im cười cười lại ra cùng lúc 5 quyển sách nói về 5 chuyện tình...  Mình chỉ mới đọc được 2 chuyện tình ở Biển vẫng Lặng Yên và Ngôi nhà có những bông hoa MÀU TÍM do nhỏ tặng. Trong 5 ấn phẩm của nhỏ, tự dưng mình thích 2 quyển này. Hình như biển và hoa tím đều gợi ở mình nhiều cảm xúc. Và trong hai chiều đọc một mạch hết hai chuyện tình.

Với cách viết đơn giản, hiền hậu... nhỏ dẫn dắt chuyện tình của mình một cách nhẹ nhàng. Ở Biển vẫn Lặng Yên có một cô nàng lòng bỗng dậy sóng khi gặp lại người cũ. Người cũ ở đây chỉ  là một gặp gỡ tình cờ và những rung động nhẹ như gió thoảng. Một chuyện tình tay ba, không có những tính toán, tranh giành chỉ có những đau khổ âm ỉ, đau khổ để hy sinh cho hạnh phúc người mình yêu. Đọc và cảm thấy cuộc đời thật hiền qua những trang viết của nhỏ. "Chia tay Bảo Anh, Danh gắng gượng mỉm cười. Ngày mai anh lại tiếp tục cuộc hành trình đơn độc. Hạnh phúc không phải là sự cướp đoạt trên tay kẻ khác..." và "Bảo Anh nhớ lại câu chuyện hai vợ chồng nọ rất thương nhau nhưng vì một sự hiểu lầm mà giận nhau suốt nhiều tháng trời. Sau đó ít lâu người chồng bị bênh ngặt nghèo ra đi mãi mãi để lại cho người vợ nỗi nhớ thương ân hận muộng màng... Lần này thi không có gì ngăn cản được Bảo Anh. Cô bước vội về phía ánh đèn..." Nơi ấy, có một người đang chờ cô! Một kết thúc lòng bỗng LẶNG YÊN. Cám ơn nhỏ!

Và ở Ngôi nhà có những bông hoa MÀU TÍM thì lại khác, với mối tình học trò, có những thầy cô với những yêu thương sâu sắc dành cho những học trò nhỏ của mình, có hoàn cảnh tưởng rơi vào ngõ cụt không lối thoát nhưng ở đây có những tấm lòng nhân hậu và đã cưu mang một cảnh đời. Vẫn là chuyện tình nhẹ nhàng và có những ngộ nhận cứ ngỡ là tình yêu và lại có những giây phút đau khổ, âm thầm rơi rơi giọt nước mắt và cuối cùng là "Mình là cô gái đầy lòng tự trọng, không nên để mọi người nhận ra sự nghiệt ngã oái ăm này...". Chuyện tình ở Ngôi nhà có những bông hoa màu tím kết thúc thật nhẹ. "Những bông hoa tím xinh xinh vẫn ngủ yên trong sương mờ. Những bông hoa bé nhỏ cũng có cuộc đời huyền diệu của mình. Huyền diệu như cỏ cây trăng sao, như tình yêu bất tận muôn đời..."

Đấy là hai chuyện tình của nhỏ qua cách viết dí dỏm nhưng lại rất hiền, đọc xong thấy cuộc đời vẫn đẹp sao tình yêu vẫn đẹp sao... và cười. Cám ơn nhỏ về quà tặng đặc biệt nhá. (khoe vài tấm hình ở MĐT nè!) và hy vọng một ngày gần đọc tiếp Chuyện tình tuổi xế chiều của nhỏ... hehhhe...

Một góc Miền Đồng Thảo và ba gương mặt quá quen của hội off nè!


Tin mới nhận nè, sách của nhỏ đã phát hành ngày hôm nay 2/7 tại Hội sách - 92 Lê Thánh Tôn, quận 1... có giảm giá bìa 10%, bạn bè nhớ nhanh chóng ủng hộ nha.. hehhhe..
--> Read more..

Thứ Năm, 1 tháng 7, 2010

MĐT 1/7/2010




Từ xế chiều trời đã mưa, mưa dai dẳng.. kệ.. thế là mấy chị em vẫn có mặt tại miền đồng thảo... để nhận sách biếu của nhà zăn Langyen, (tiếc là Gió không đến được) cùng 888 đã đời mãi đến 9g30 mới chịu dời MĐT..
--> Read more..