Thứ Năm, 30 tháng 10, 2008

Trích tiểu thuyết Về từ Trường Sơn

Thế Vũ ra đi khi bản thảo tiểu thuyết Về từ Trường Sơn còn dang dở. Có lẽ đây là một trong những sáng tác tâm huyết nhất của anh. Bởi những gian lao, khổ đau mà Phan – nhân vật chính của tiểu thuyết – đã trải qua là những gì mà chính tác giả đã từng chịu đựng ngoài đời. Phan – một thanh niên bị bắt lính, bị ấn súng vào tay và bị đẩy ra mặt trận. Anh nhận ra mình đang tham gia vào một cuộc chiến phi nghĩa và sẽ phải hứng chịu một cái chết vô nghĩa bất cứ lúc nào. Phan đã bỏ ngũ, chấp nhận bị đày đọa dưới màu áo lao công đào binh. Chính trong những năm tháng khổ sai ấy, Phan đã dần giác ngộ để rẽ sang một hướng đi mới, hướng về phía nhân dân, về phía Cách mạng.

Bản thảo còn dở dang, Phan trong tiểu thuyết chưa đi được tới đích của cuộc hành trình. Nhưng Thế Vũ đã hoàn thành chuyến đi ấy. Anh đã tìm được lẽ sống để suốt đời sống và hướng ngòi bút của mình theo lẽ sống ấy.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc một phần trong chương IV của tiểu thuyết Về từ Trường Sơn mà Thế Vũ chưa kịp hoàn thành.

Ban Biên tập NXB Văn Nghệ

.......

Mùa mưa năm nay đến chậm hơn những năm trước, tuy vậy nó cũng đã tới, đều đặn, ẩm ướt, nhọc nhằn. Mưa liên lỉ nhiều ngày nhận chìm tinh thần lính tráng xuống một mức độ thảm hại, chúng ủ rũ đi trong mưa, ba lô đè nặng trên lưng cúi gập, súng chúi mũi xuống đất, khuôn mặt chúng hốc hác đau khổ. Chỉ có những lúc cần nguyền rủa chửi thề thì những khuôn mặt ấy họa may có vẻ sinh động hơn đôi chút.

Lao công đào binh thì còn gian nan hơn nữa. Họ phải làm việc ngay dưới mưa, nước từ những sườn đồi chảy xiết, các hầm than hư sụp tắt ngóm, năng suất tối thiểu cũng không đạt. Bù vào chỗ đình trệ đó, tên trung tá ra lệnh họ phải làm đêm. Nhiều doanh trại, pháo đài hư hỏng dột nát cần sửa chữa lại, lao công phải phân tán đi bớt. Số còn lại dầm mình trong mưa mịt mù xối xả từ sáng tới chiều, giờ nghỉ ngơi và ăn uống thu hẹp lại. Bữa ăn, hàng trăm lao công vây quanh bếp, trên tay mỗi người thủ sẵn một chiếc ca, thậm chí cả nón sắt hay bất kỳ một thứ gì nhặt được, để giành lấy phần ăn của mình. Họ ăn ngoài trời, có khi ngay dưới mưa, mặt mày quần áo bê bết bùn đất. Phải lao động cật lực trong điều kiện gay go như vậy, họ không bao giờ được ăn no, không kiếm thêm được gì để cải thiện, bệnh tật hoành hành dữ dội. Nhưng để bóc lột tối đa sức lực của họ, trung đoàn giới hạn khắt khe việc khám bệnh và điều trị cho lao công.

Phan được trả về căn cứ trong những ngày đó. Đầu anh bị cạo trọc, chiếc áo của anh bị cắt cụt tay và bốn chữ LCĐB được kẻ trở lại rõ nét bằng sơn đỏ chói, chiếc quần anh xin được của một người lính trẻ tuổi hồi thiết lập doanh trại mới bị cắt cụt ống lên quá gối. Người ta còn dọa bôi sơn đen lên đầu anh, bắt anh ở trần và xâm lên lưng mấy chữ LCĐB phản loạn nguy hiểm, hãy bắt giữ, đề phòng anh trốn đi nữa. Ngoài giờ khổ dịch, anh bị giam riêng trong một cái chuồng kẽm gai có khóa cẩn thận gần một vọng gác. Trong chuồng, đất lõm xuống chứa một vũng nước mưa đọng, và nó là chỗ duy nhất để anh có thể nằm - chỉ nằm được mà thôi.

Sau mấy ngày đầu, cơn sốt rét lại tái phát. Thường cơn bệnh đến vào buổi chiều, buổi sáng do đó Phan vẫn phải lao dịch. Cơn sốt ùa đến như thác lũ, cuồn cuộn qua từng khớp xương, co rút từng bắp thịt, Phan rã rời cắn răng chịu đựng, mê thiếp đi và tỉnh dậy bàng hoàng, biết mình vẫn sống. Nhiều khi anh nằm mơ thấy mình đang chết đi, vài người lao công đang gói anh lại và đào huyệt. Tỉnh lại, vừa thở dồn dập, nghẹt cứng, anh vừa tiếc rằng cái chết chỉ là một giấc mơ mà chưa phải là sự thực. Có phải nó báo trước phần số của anh như thế chăng? Những hồi tỉnh táo, lúc ú ớ chịu đựng con bệnh hành hạ, xót xa căm phẫn vì nghĩ đến hoàn cảnh khắc nghiệt của mình, Phan nghĩ thời gian đang triển hạn cái chết cho anh. Có phải số phận buộc anh phải chịu đựng tất cả sự nghiệt ngã ấy chứ không chịu buông tha để anh chết một cách bình lặng hay không?

Đến lúc Phan hoàn toàn kiệt quệ, không đủ sức đứng lên nữa mà phải run rẩy bò lê trên mặt đất nhão nhoét từ chỗ nằm đến nhà cầu rồi từ nhà cầu trở lại chỗ nằm. Vẫn là chỗ nằm trên vũng nước đọng trong chuồng kẽm gai, bây giờ được nằm là một ân huệ đối với anh. Mắt anh trở nên mờ đi như có làn mây bao phủ, chung quanh anh rừng núi, doanh trại, pháo đài nhòe đi không còn rõ hình thù nữa. Có lúc anh đưa tay lên sờ vào khuôn mặt mình như để tìm kiếm một cái gì quen thuộc, xoa xoa những sợi râu cằm lởm chởm, hiểu rằng đời mình đang tàn lụi đi không sao khác được, và cái chết của người bạn lao công nằm cạnh anh ở cửa bệnh xá hôm nào lại hiện ra, gần gũi và tội nghiệp. Đôi khi anh khám phá ra trong cơn mê sảng vừa qua anh đã tiểu trong quần không hay biết, nước tiểu đỏ sánh lại và tanh mùi máu. Sự triển hạn cái chết đã trở thành một hình phạt ghê gớm. Hai mươi lăm tuổi, anh chết đi khi chưa khẳng định được cuộc sống của con người có phải là để vươn tới hạnh phúc hay là để bị săn đuổi. Hai mươi lăm tuổi, anh sẽ chết tức tưởi, quằn quại, đơn độc ở khu rừng này chăng, anh sẽ kết thúc cuộc đời mình như thế chăng?

Nhưng anh không chết. Những ngày gian khổ ấy cứ trôi qua đều đặn và vô nghĩa, chẳng ai buồn để ý đến. Đôi khi anh được cấp cho một viên thuốc, y tá buộc anh uống ngay, và cái trò chơi kỳ cục ấy giục anh lì ra đối với số phận.

Sau một đêm mưa dầm dề, sáng ra người ta thấy Phan líu lưỡi, sùi bọt mép và thở phì phèo trong vũng nước đọng. Y tá đưa anh vào bệnh xá cấp cứu. Mấy giờ sau, cơ thể Phan ấm lại. Gã trung úy y sĩ đề nghị chuyển anh về quân y viện nhưng bộ chỉ huy khước từ, lấy cớ là cần trừng phạt làm gương cho những người khác. Tỉnh lại, Phan lờ mờ hiểu rằng mình vừa vượt qua một cái gì rất khủng khiếp, và anh đã thoát. Bỗng dưng, ý chí anh sáng lóe lên, anh hiểu rằng nếu có một thứ số phận, thì số phận của anh là sống để chiến đấu với những hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy.

Khi biết Phan là một sĩ quan đào ngũ, gã trung úy y sĩ đã khám bệnh cho anh, và đó là lần đầu tiên trong đời tù đày anh được khám kỹ đến như vậy. Gã trung úy có vóc người gầy thấp, mắt đeo kiếng trắng, khuôn mặt xương xương hơi khắc khổ. Tuy vậy, gã cười vui vẻ khi khám cho bệnh nhân, trao đổi với bệnh nhân bằng những câu hỏi ngắn. Khi bắt tay làm việc với Phan, gã vừa cặp ống nghe vào ngực anh vừa hỏi:

- Đi lao công mấy tháng rồi?

- Bốn.

- Quê miền Trung chắc?

- Nha Trang.

- Gia đình có lên thăm không?

- Không.

- Sao vậy?

Gã đổi thế ngồi, đặt ống nghe lên lưng Phan. Sau đó, gã nhìn vào mồm anh, bảo anh thè lưỡi ra. Cuối cùng gã hỏi thêm mấy câu về bệnh trạng rồi nhìn vào mắt anh, kê đơn.

- Bệnh nặng đó nhé. Phải chi được chữa trị ngay hồi đầu thì lại khác. Nhưng không sao, sẽ mạnh lại thôi - Gã đưa đơn thuốc cho Phan, tiếp: - Ra nhận thuốc đi. Nhớ uống đều, uống đủ.

Đơn thuốc dày đặc chữ nguệch ngoạc viết vội. Phan đi về phía kho thuốc, thấy nhẹ lòng. Gã y sĩ để lại cho anh một ấn tượng dễ chịu, nhất là cái cách hỏi chuyện khá tự nhiên và tế nhị của gã. Thường, đám sĩ quan khi hạ cố hỏi chuyện lao công, bao giờ cũng mở đầu: “Lao công à? Trước đi lính gì, cấp bậc, đơn vị nào?...” rồi tiếp theo mấy câu an ủi hoặc chê trách một cách ngu xuẩn.

Số y dược Phan lãnh được trội hẳn so với bất cứ lúc nào khác. Trưa hôm ấy anh đang nằm ngủ thì gã trung úy tới lân la nói chuyện. Ngồi vào mép giường của Phan gã cười:

- Này, đừng đào ngũ thì ông cũng là trung úy rồi đấy nhé.

Thấy Phan tỏ ra khó chịu, gã tiếp:

- Nhưng tất nhiên là ông không ưng rồi. Này, tôi có một thằng bạn cũng đào ngũ như ông ngay sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan trù bị. Có lẽ tốt hơn hết là phải khôn một tí, ông ạ! Ông, hay thằng bạn tôi, hay một số người có đào ngũ, bản thân các ông khổ chứ chiến tranh có chấm dứt cho đâu? Các ông khước từ, có lên án gì gì nữa thì sự đời nó vẫn cứ thế xuôi song các ông thì bị nó ngược đãi như thế đấy. Sao không lựa chọn khôn ngoan hơn.

- Lựa thế nào?

- Vẫn đứng ở cái vị trí mà người ta xếp cho ông trong quân đội miễn rằng... Hy sinh như ông vô ích quá, thấy không? Thằng bạn tôi, cuối cùng phải tự sát trong trại lao công chiến trường.

- Tại sao lại phải tự sát nhỉ?

- À... có biết đâu được! Uất ức, căm phẫn quá thì phải.

- Ai làm cho anh ấy căm phẫn ?

- Thì... ai vào đây nữa. Nhưng thôi - Gã trung úy y sĩ vỗ vỗ vào vai Phan - Các ông thì gớm lắm, tôi biết.

Gã chuyển câu chuyện sang tình hình sức khỏe của Phan, hỏi thăm “ăn uống thế nào, thiếu thốn những gì, công việc hằng ngày của lao công hiện nay ra sao... Cuối cùng gã nói:

- Tôi đang xin Bộ chỉ huy một lao công để giúp việc tại bệnh xá. Công việc cũng linh tinh thôi... Tôi muốn giữ anh lại đây, anh nghĩ sao?

Phan tỏ ra ngạc nhiên:

- Sao bác sĩ lại muốn giữ tôi?

- À..., nói sao nhỉ? Tôi thông cảm những gian khổ mà anh phải chịu đựng. Lao dịch nặng nề thế kia, còn bị bọn lính tráng nó hạch sách làm nhục, người như anh sao chịu được. Tóm lại, tôi muốn giúp đỡ anh một thời gian, đỡ vất vả...

- Bác sĩ muốn tôi phải nghĩ ra sao ?

- Cuộc sống là quý giá hơn tất cả. Anh đào ngũ không phải vì muốn sống đó sao? Cần phải giữ mình cho đến hết chiến tranh...

- Bao giờ?

- Thôi, vậy nhé. Ở lại đây với chúng tôi.

- Bác sĩ không sợ tôi đào tẩu à?

- Ồ, thôi đừng có liều, không được đâu!

Phan thở dài, chậm rãi nói:

- Nếu như bác sĩ có lòng tốt đối với tôi, tôi xin thật lòng cám ơn. Bác sĩ chớ lo, tôi chịu đựng được hết và... không chết chóc gì đâu. Tôi biết là tôi không bị giết bởi bất cứ lý do nào trong thời gian này. Còn gian khổ, tủi nhục tôi chịu được cả. Bao anh em lao công khác chịu được, huống chi tôi. Tôi không muốn nhận một thứ đặc ân nào cho mình đâu. Tôi đào ngũ cũng không phải chỉ vì ham sống, đúng ra là tôi không muốn chết vô ích.

- Tôi..., chúng ta không phải tranh luận làm gì, anh ạ! Tóm lại, anh đồng ý về làm việc ở trạm xá chứ hả? Thế nhé.

Gã đứng lên vỗ vỗ vào cánh tay Phan rồi quay đi.

Bệnh thuyên giảm dần và Phan nhận việc ngay sau đó ít hôm. Mỗi buổi sáng anh làm vệ sinh bệnh xá trước giờ làm việc: đổ những lon chứa nước tiểu, đờm dãi cho bệnh nhân, quét nhà, lau dọn bàn làm việc... Trưa trước giờ cơm, anh lại thu dọn một lần nữa: đổ giỏ rác, ống bô trong phòng khám bệnh, thu dọn thức ăn thừa bệnh nhân vất bừa bãi trong bệnh xá, lau sạch đờm dãi, nôn mửa... Dần dần bọn y tá sai vặt anh, từ việc lấy dụng cụ khám bệnh đến mua hộ thuốc lá, rượu. Cuối cùng, chúng sai anh giặt quần áo cho chúng. Anh phản ứng, chúng xỉa xói vào mặt anh:

- Mày là lao công, nhớ chưa? Về đây là sướng lắm rồi nhưng đừng có vênh mặt lên mà cãi lại. Tao trả mày ra ngoài kia thì ốm đòn.

Gã trung úy kịp thời ngăn lại. Phan lớn tiếng:

- Các ông không có quyền làm nhục tôi. Tôi về lại đại đội lao công ngay bây giờ, đừng tưởng tôi cần sự giúp đỡ khốn nạn ấy.

- Này, nhưng mọi việc có tôi lo - gã trung úy phân trần - Anh bỏ qua cho cái thằng ngu kia. Có phải ai cũng biết điều đâu anh. Anh ở lại đây với tôi.

Phan dứt khoát bỏ về đại đội. Đó là những ngày sức khỏe anh mới vừa bình phục. Gần một tháng sốt rét, lại bị hành hạ khổ sở, anh đã gầy càng xanh xao, gầy yếu hơn. Đôi mắt anh, suốt mấy tuần lễ qua mờ hẳn đi, nay bắt đầu sáng rõ hơn đôi chút. Đôi chân anh run run, bước đi chậm như một ông già. Anh biết về đại đội anh sẽ phải gánh vác công việc khổ dịch nặng nề và có thể đau trở lại, nhưng anh đã quyết. Ngày hôm đó, gã trung úy y sĩ lái xe xuống trại lao công tìm anh, gửi cho anh một bộ quần áo trận và một ít thuốc sốt rét.

Tối hôm đó, khi tập hợp cả đại đội lao công để điểm danh trước khi đi ngủ, trung úy Thịnh nói trước mặt mọi người:

- A, tay này giỏi đây, có bản lĩnh đây! Để xem mày còn giở thêm trò gì nữa.

***

Đang hì hục chất củi vào lò than, Phan nghe có người gọi mình và báo tin có gia đình lên thăm.

Trước hết, anh thoáng nghi hoặc. Nhưng cái tin bất ngờ ấy dội đi dội lại trong tim anh, đánh thức một tình cảm sôi nổi thiết tha từ lâu anh nén lại trong lòng. Không kịp báo cáo cho tên lính có nhiệm vụ coi giữ toán lao công, Phan quay bước, vội vàng đi về phía căn cứ. Mấy phút sau, anh chạy. Đoạn đường từ chỗ làm than về căn cứ xa khoảng gần năm cây số, Phan chạy mỗi lúc một nhanh hơn.

Về đến cổng trại, anh dừng lại thở dốc, dáo dác tìm đây đó trên đường, bên trong sân trại, giữa những pháo đài chìm nổi nhấp nhô... Đến bây giờ Phan mới tự hỏi: Vậy chứ ai đến thăm mình? Mẹ chăng? Không thể như thế đâu! Bạn bè chăng? Từ lâu anh có thư từ liên lạc với ai! Trong trí anh thoáng hiện ra rất mờ nhạt khuôn mặt những người bạn cũ thời còn đi học ở Nha Trang, ở Sài Gòn..., rồi đến những người bạn cùng làm việc ở nhà in... Anh bắt gặp cái nhìn dửng dưng của tên lính gác ngồi thu lu trong chòi canh cổng.

- Vừa rồi có thân nhân đến tìm thăm...?

Phan bỏ lửng câu nói, nhìn theo tay chỉ của hắn: căn chòi tranh phía sau vọng gác cổng. Anh lao về phía ấy. Gần đến nơi, anh thấy một cô gái đang ngồi trên chiếc ghế dài làm bằng khúc gỗ tròn, mắt ngó mông lung vào bên trong sân trại, tóc lòa xòa phủ xuống vai, che khuất nửa khuôn mặt. Bên cạnh cô gái ấy, bây giờ Phan mới nhận ra người đàn bà. Tự dưng anh ứa nước mắt.

- Má ơi!...

Anh níu lấy tay mẹ, sà xuống. Người đàn bà thoáng bàng hoàng rồi choàng tay ôm lấy Phan y như hồi nào anh còn bé nhỏ. Phan thấy vòng tay mẹ siết lại quanh mình, giọng nói đứt quãng trong cổ họng vì không kiềm giữ nổi tiếng khóc:

- Trời ơi, con!...

Nước mắt mẹ nhỏ lên trong tay Phan nóng hổi. Anh giữ bình tĩnh im lặng nghe mẹ hỏi dồn những câu ngắn giữa tiếng nấc nghẹn ngào:

- Sao cơ khổ thế này, con?... Sao con không tin cho má hay! Gần hai năm, má nào có biết con sống chết thế nào...! Trời, con gầy yếu quá, đau ốm lắm có phải không? Đói khát lắm có phải không con?... Ôi, chúng nó hành hạ, giết dần con tôi thế này đây, trời hỡi trời!...

Cô gái nắm tay người đàn bà khẽ rung rung, nhắc:

- Thôi bác ạ, bác bình tĩnh lại đi. Coi chừng chúng nó để ý nghe thấy thì khổ cho anh Phan thôi.

Phan nhìn cô gái một lần nữa và bỗng thốt lên:

- Ủa,... - Anh nhíu mày suy nghĩ - À, Vân phải không?

- Anh nhớ đúng rồi đấy! - Cô gái cười, nhìn thẳng vào mặt anh.

Qua lời kể của mẹ và của Vân, Phan hiểu là mẹ anh đã mỏi mòn chờ đợi thư từ, tin tức của anh trước khi bà không thể nào yên tâm được nữa, phải vào Sài Gòn tìm. Bà đã đến nhà in nơi trước kia Phan làm việc, mới được biết anh đã bị bắt từ hơn một năm qua. Vân đã giúp bà đi khắp những trại giam và các thứ tòa án ở đó mới tìm thấy tên Phan trong danh sách tù nhân đi lao dịch chiến trường. Rồi lại thêm một phen Vân đưa bà đi hỏi thăm nơi đóng quân của sư đoàn, rồi của trung đoàn bộ binh. Thế là đã ròng rã gần một tháng từ ngày mẹ anh rời quê nhà đi tìm con.

Mẹ anh gầy đi rất nhiều so với ngày anh về. Tóc bà đã bạc đi quá nửa, anh nhớ hồi đào ngũ về có hôm anh vui miệng khen tóc mẹ còn như thiếu nữ, khen mẹ trẻ lâu... Bây giờ nhìn lại mái tóc và khuôn mặt của mẹ, Phan không giấu nổi xúc động. Nỗi buồn xa con, sống quạnh hiu một mình ở quê nhà hay việc đồng áng gian khổ giữa một vùng nông thôn tăm tối đầy bạo lực đã làm mẹ anh già yếu đi như vậy? Hay thời gian một tháng bôn ba giữa một thành phố xô bồ đầy trại giam và tòa án đã tàn phá mẹ anh đến thế? Bất giác Phan cảm thấy mình có lỗi. Anh ân hận nói ra điều đó. Nhưng, sau một chút im lặng, người đàn bà đưa tay gạt những giọt nước mắt trên khuôn mặt anh, từ tốn nói:

- Không đâu. Má chỉ trách con không biên thư báo tin cho má biết, còn thì con không có lỗi gì đâu. - Bà nhìn sâu vào mắt Phan, hỏi: - Mắt con vàng quá, bị sốt rét hả?

- Con vừa khỏi.

Bà hỏi về việc thuốc men trong khi đau ốm, về công việc làm hằng ngày, về những biện pháp hành hạ tù nhân mà bà được nghe biết, về vấn đề ăn uống... Phan trả lời chừng chừng cho mẹ yên tâm. Anh nói:

- Con xem như tập cho quen gian khổ vậy thôi, má. Từ nhỏ đến lớn, việc gì má cũng lo sẵn cho con, con có biết khổ là gì đâu. Thật ra còn biết bao người chịu khổ ải, đày đọa hơn thế nữa.

- Lúc nãy mới lên, má gặp tay trung úy Thịnh. Hắn nói con không phải tay vừa, lì lắm. Đúng không?

Phan cười:

- Hắn còn nói gì nữa không, má ?

- Sao con không chịu làm thư ký cho hắn?

- Con không muốn. Thà chịu khổ như hàng trăm người khác... - Anh chuyển sang chuyện khác, hỏi mẹ: - Bao giờ má đi?

- Người ta nói sáng mai mới có xe xuống Kon Tum. Trung úy Thịnh nói tối nay cho phép má ở lại. Con có đói không?

Bà lôi từ trong xách ra một bọc cơm, một lon thịt kho, mấy loại trái cây chín, kẹo lạc, thuốc lá... Vân cũng lôi ra mấy gói thuốc lá và bánh kẹo, cười cười nói với anh:

- Anh chị em ở nhà in gởi lời thăm anh đây. Mấy gói thuốc này là phần anh Thế...

Phan ngồi giữa mẹ và cô gái, hỏi:

- Tôi quên đi mất. Anh Thế và anh em ở nhà in mạnh cả chứ? Lúc này công việc có nhiều không?

Vân lấy một gói thuốc mở nắp bao, rút một điếu đưa cho anh rồi lại loay hoay tìm trong xách lấy hộp quẹt.

- Anh Thế mạnh. Nhà in lúc này chỉ còn có bốn người làm: anh Thành đứng máy, hai thợ xếp chữ và em. Buồn lắm.

- Trước đó bao nhiêu người cơ mà, đi đâu cả?

- Bị bắt lính, vào tù... Một số đi làm nhà in khác. Báo bị đóng cửa từ sau khi anh bị bắt khoảng một tháng. Nay chỉ in lặt vặt chứ có việc gì nữa đâu mà cần nhiều thợ. - Ngưng lại một tí, Vân nói tiếp: - Anh Lập bị đưa đi Côn Đảo hồi đầu năm nay, chúng nó tra tấn anh ấy đến bại liệt cả hai chân. Anh Tám với chị Lý bị chúng giam ở nhà lao Gia Định. Riêng anh Cát bị bắt sau anh một tuần thì chưa ai biết chúng nó đưa đi đâu. Anh Bảo đi lính, đóng ở Đồng Tháp Mười. Còn anh Chiến bị chúng đưa ra sư đoàn 25 được hai tháng thì chết mất xác luôn...

Trong ký ức của Phan lần lượt hiện ra khuôn mặt từng người theo lời Vân kể: anh Lập, trưởng ê-kíp thợ sắp chữ, liệt một chân do bị tra tấn trong tù lần trước; anh Tám, thợ máy in ty-po, người luôn vui cười, khuôn mặt từ sáng tới chiều lúc nào cũng vấy mực in; chị Lý, thợ đóng sách, có khuôn mặt gầy và đôi mắt sâu, tóc kẹp thả dài dọc sống lưng y như các cô gái nông thôn; anh Cát, nhân viên sửa bản in, rất trẻ, nguyên là sinh viên sư phạm bị đuổi vì tham gia phong trào tranh đấu đòi quân Mỹ rút về nước; anh Bảo, thợ xếp chữ, người đã chỉ bảo cho Phan rất nhiều những ngày anh mới đến học việc... Và bao nhiêu người khác nữa, cả những đứa bé đến học việc như Phan, những người thợ cần cù, yêu nghề, sôi nổi vui theo những trang báo mới in xong, thẳng thắn nói lên khát vọng chân chính của hàng triệu người khao khát hòa bình, độc lập, tự do...

Phan nhớ từng niềm vui, nỗi buồn của cả tòa báo - từ ban biên tập đến mỗi công nhân học nghề - đối với từng dòng tin tức, từng bài báo nhỏ, những ngày hiếm hoi báo đến tận tay người đọc, những ngày liên tiếp báo bị tịch thu, cảnh sát nổi và cảnh sát chìm vây kín tòa soạn như một lũ thất nghiệp... Có lẽ ở khắp Sài Gòn, khắp miền đất này không đâu có một không khí làm việc kỳ lạ như ở nơi Phan đã học nghề in và đôi khi tham gia viết một bài báo nhỏ. Nhớ những bữa cơm cả tốp thợ từ già đến trẻ, cả nam và nữ kéo nhau ra quán cơm bình dân gần đó, ngồi chật cả con hẻm vốn đã hẹp, tay chân mặt mày người nào cũng vấy mực. Nhớ những buổi tối sau khi hoàn thành công việc trong ngày, mọi người ngồi la liệt trước cửa tòa báo, trên hè đường, vừa nhìn phố xá quay cuồng náo nhiệt hết sức quen thuộc và tầm thường, vừa đợi anh Thế chạy vạy ngược xuôi có tiền cho mọi người ăn bữa cơm chiều muộn. Và biết bao nhiêu lần, Thế trở về không, phải mua nợ cho mỗi người một mẩu bánh mì của bà cụ già đứng bán đằng góc ngã tư kế bên tòa soạn.

Phan bắt gặp cái nhìn của cô gái chằm chặp vào mình. Anh đưa tay gãi đầu, nhớ ra mái tóc cạo trọc nay vừa mới nhú lên lởm chởm những chân tóc cứng. Vân nắm bàn tay lem luốc của anh:

- Anh bị chúng hành hạ ghê lắm phải không?

Phan lại nhìn vào khuôn mặt cô gái. Vân buông tay anh ra, hai má ửng hồng lên, đẹp rực rỡ dưới cặp mắt vàng đục của người tù khổ dịch. Anh say sưa nhìn những sợi tóc bay bay theo cơn gió nhẹ lùa vào căn chòi, những sợi tóc lòa xòa phủ bên thái dương, mượt mà trên đôi vai đầy đặn. Anh dõi theo từng nhịp thở của cô gái và bất giác anh buồn bã thở dài...

- Chúng có đưa các anh đi tham dự các trận đánh không, anh Phan?

- Đến nay thì chưa, nhưng sắp tới...

- Anh định thế nào?

Hình ảnh những trận giao tranh tuyệt vọng dưới những cơn mưa liên lỉ trong rừng núi âm u lại thoáng qua trí Phan. Rồi anh nghĩ đến một cuộc đào tẩu... Bỗng dưng anh xua tay:

- Tôi sẽ sống sót. Tôi phải về với quê nhà, với mẹ tôi chứ - Anh nắm lấy bàn tay cô gái, nghe một cảm giác mềm mại, ấm áp trong tay mình. Giọng anh trở nên thiết tha: - Vân đã đến Nha Trang bao giờ chưa nhỉ? Có lẽ Vân nên ghé qua, nên đi cùng mẹ tôi. Sao lại không về nhà mẹ tôi ít hôm? Vân sẽ giúp cho bà vui biết mấy. Tôi, tôi chỉ làm cho mẹ tôi đau buồn, Vân ạ...

Cô gái rụt tay về, mắt đăm đắm nhìn anh. Bà mẹ nói:

- Vân nó đã hứa sẽ về chơi thăm nhà mình sau khi gặp con đó, Phan ạ.

Mắt cô gái long lanh:

- Em... cũng cần đi xa Sài Gòn một thời gian ngắn! Còn anh, cố gắng về được sớm càng hay. Có việc đang chờ anh nhưng... chưa tiện nói.

- Vân thử nói rõ hơn tí nữa xem.

Vân tỏ ra hơi lúng túng:

- Chưa tiện... À, anh nhớ các anh ở ban biên tập cũ chứ hả? Có hai người đang hoạt động ngoài chiến khu... Các anh ấy hỏi thăm anh... Hồi ở trong tù, anh có gặp một vài người tù chính trị phải không?

- À, có...

- Cả các anh ấy cũng hỏi thăm anh. Thôi, thế anh cố về...

***

Sáng hôm sau, người mẹ và cô gái theo xe liên lạc về hậu trạm để xuống thị trấn Kon Tum. Buổi sáng trời đầy sương mù. Không khí ban mai mát rượi sau một đêm mưa sùi sụt, mặt trời khuất sau sương mù chỉ còn thấy một dải mây ửng hồng trên khu rừng phía Đông. Đứng từ căn chòi tranh nhìn xuống đường trong khi chờ tài xế chuẩn bị cho xe nổ máy thử, Phan hỏi cô gái:

- Vân thấy miền đất này thế nào?

- ... Mai kia hết chiến tranh, nơi này phải trở thành một vùng trù phú. Những buổi sáng thế này chắc sẽ hết sức dễ thương...

Ba người đứng sát gần nhau. Bà mẹ đã có vẻ tươi tỉnh hơn nhiều, âu yếm nhìn con trai. Phan nắm tay mẹ:

- Má đừng lo buồn về con, nghe má. Con biết má già rồi, nếu có con ở gần má mới yên vui. Nhưng rồi đây con sẽ về - Anh quay sang phía cô gái - Phải đến ngày hòa bình, đoàn tụ chứ, có phải không Vân?

- Con phải cẩn thận, giữ mình cho tới ngày đó, nghe. Bây giờ má lại cảm thấy lo lo cho cái tính bướng bỉnh của con. Tất nhiên má không muốn khuyên con làm một điều gì trái lại đâu.

Phan siết bàn tay mẹ:

- Từ chiều hôm qua đến giờ là thời gian hạnh phúc nhất đời con, hơn cả những ngày còn nhỏ quẩn quanh với má ở quê nhà.

Bà mẹ lật đật rời con trai bước ra đường khi thấy dáng gã trung úy Thịnh từ trên sân trại đi về phía cổng. Phan thấy mẹ vồn vã nói năng, chúc tụng một điều gì đó với gã, và gã gật gật đầu. Anh nói với cô gái:

- Vân nghĩ tôi nên làm thế nào để đáp lại tình thương của mẹ?

- Sao lại hỏi em?

- Tôi tin điều Vân nói.

- Anh biết anh phải làm gì rồi cơ mà.

Phan lại chằm chằm nhìn vào khuôn mặt cô gái. Lòng anh tự nhiên rộn ràng, dậy lên một cảm giác bồi hồi kỳ lạ. Một trạng thái tình cảm từ lâu tưởng đã khô kiệt trong tâm hồn anh, nay bỗng ùa đến, giục giã... Anh bắt gặp đôi mắt dịu dàng, thắm thiết nhìn anh rồi chớp chớp trước khi ngẩng lên nhìn bầu trời xa. Hạnh phúc mà anh nhận được từ chiều qua đến sáng nay, như anh đã nói là do bà mẹ yêu dấu của anh mang đến, nhưng điều anh chưa nói ra, và anh đang ấp úng muốn nói lúc này là hạnh phúc ấy đậm đà thêm lên bởi chính cô gái này đây. Anh nghe mùi hương tóc thoang thoảng, ngây ngất. Anh nắm bàn tay cô gái, run run đan ngón tay vào nhau, tâm hồn rộn lên niềm xúc động muốn bật ra thành lời...

...

1974 - 1978

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét