Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008

Người về (tiếp theo)

Truyện ngắn của THẾ VŨ

***

Từ ngày chính thức cầm súng chiến đấu ngoài chiến trường, anh đã nhiều lần chứng kiến cảnh đồng đội thất trận một cách tội nghiệp và cũng đã nhiều lần anh phải tháo chạy với họ một cách chua xót, nhưng chưa bao giờ sự thua trận làm anh suy nghĩ nhiều như lần này. Trận đánh đã diễn ra trong hơn một tuần lễ, trận tuyến rộng quá sức chịu đựng của những đơn vị bộ binh không quen thuộc địa thế và thường không có đủ sức chịu đựng dẻo dai như người ta mong đợi. Việc thiết lập kế hoạch lùng kiếm đối phương đã không hoàn bị, các phương tiện yểm trợ lại không hữu hiệu, những cánh quân di chuyển đến mục tiêu coi như những kẻ ra đi trong lãng quên. Thất trận cũng bởi một lý do khác nữa: tinh thần của mọi người trong đơn vị thấp kém một cách rõ rệt sau một thời gian bị áp lực nặng nề của địch chi phối, trái lại những lần tung quân ra biên giới không mang lại kết quả nào làm cho mọi người mất đi những phản ứng nhanh nhẹn, điều vốn dĩ phải có của một cánh quân trên chiến trường. Sau hết, thực phẩm khô khan và thiếu thốn mà mỗi người phải cố nuốt giữa vùng rừng núi ẩm ướt, sình lầy, muỗi vắt là nỗi ám ảnh thường trực khiến tất cả giảm sút khả năng chịu đựng. Với vai trò của một sĩ quan rất nhỏ bé và với một địa vị rất khiêm tốn trong đơn vị, anh thấy rõ tất cả những điều đó nhưng không thể làm gì khác hơn là cùng chịu đựng như mọi người. Bây giờ, sức chịu đựng đó cơ hồ không còn đủ để bảo vệ tính mạng anh và năm người kia.

Buổi sáng tinh mơ bắt đầu một cách buồn thảm khiến anh chìm sâu thêm vào nỗi lo lắng. Sau loạt đạn nổ, họ tìm thấy một người chết và một người bị thương ở mé rẫy lúa. Cả hai đều là đồng đội thất lạc. Người chết mang một chiếc máy truyền tin còn người bị thương là viên sĩ quan trung đội trưởng thuộc một đại đội bạn. Vết thương sâu hút phía trên hạ bộ, mở banh thịt vùng phía lưng. Đôi mắt nạn nhân nhìn chòng chọc vào anh, lạc thần. Anh hiểu chỉ còn có hai cách để giúp anh ta, hoặc là ngồi chờ cho anh ta chết hẳn rồi hãy rút đi, hoặc là bồi cho anh ta một phát đạn nữa. Tuy nhiên cả hai điều đều không thể làm được, ngồi chờ thì nguy đến tính mạng của cả sáu người còn lại nhưng bồi thêm một phát súng nữa thì không ai đủ can đảm. Cuối cùng sự may mắn đã đến với họ, anh ta chết sớm hơn họ tưởng.

Ngoài chiếc máy truyền tin được mang theo, tất cả vật dụng của người chết đều phải bỏ lại. Buổi sáng tạnh mưa nhưng trời vẫn rét như cắt, cái đói hình như đã làm cho hai người tân binh kiệt sức sớm hơn cả. Dầu sao, anh cố trấn an họ: còn phải chịu đựng nhiều hơn mới có thể tìm ra đến quốc lộ hoặc một nơi an toàn, và chỉ còn duy nhất mỗi cách đó để sống sót. Cho đến buổi trưa thì hai người tân binh già thực sự kiệt quệ. Thực phẩm đã hết từ chiều hôm qua, phần dự trữ không nhiều và đã cạn từ sáng. Một trong hai người lại lên cơn sốt. Tình trạng bi quan hơn anh tưởng rất nhiều. Một trong hai hạ sĩ quan hỏi anh liệu có sáng kiến nào khác hơn là dọ dẫm trong rừng như thế không. Chiếc máy truyền tin không giúp được việc gì, tần số liên lạc có lẽ đã thay đổi sau khi các cánh quân thất lạc nhau. Đến một đồng cỏ tranh ngập bùn và nước, gã hạ sĩ đã vất chiếc máy xuống một cái hố đạn đã cũ. Họ nghỉ mệt nơi một bờ suối nước đục ngầu, sau đó tất cả tiếp tục đi về hướng Đông Bắc, nơi mà anh hy vọng sớm tìm ra đơn vị bạn hoặc một con đường mòn dẫn ra quốc lộ.

Cơn mưa buổi chiều úp chụp lên nỗi rã rời của họ một cách tàn bạo. Gã tân binh không đi được nữa, nằm bẹp lên lớp lá ẩm kêu khóc và van nài những người khác kết thúc giùm cuộc đời gã. Dĩ nhiên không ai có thể làm được như vậy, và sau cùng gã phải lê lết theo. Đến xẩm tối gã lên cơn sốt, sau đó quân trang và vũ khí của gã phải bỏ lại, gã vừa đi theo vừa rên rỉ lo lắng – làm thế nào khác hơn khi một người lính chạm địch thì không có súng bảo vệ, về đến nhà thì chắc chắn sẽ bị tù về tội không giữ được vũ khí? Lúc dừng chân nghỉ đêm, anh lưu ý những người kia nên giữ kỹ khẩu súng của mình lúc ngủ bởi gã có thể liều. Đêm đó mưa suốt sáng, mọi người trùm kín poncho lên đầu, một nửa còn lại lót xuống lá mục làm chỗ nằm, ủ kỹ khẩu súng vào lòng mà ngủ. Nửa đêm gã tân binh vụt la vang rừng:

- Giết tôi đi, giết giùm tôi đi, tôi không chịu được nữa...

Người hạ sĩ quan già bật dậy xách súng tới bên gã, cáu:

- Mày muốn chết thật thì ông cho mày chết, nhưng đừng có giết ông. Địch nó kéo tới thì mày khỏi xin xỏ gì cả, hiểu chưa?

Cả bọn thức dậy ngồi yên trong mưa nhìn tên tân binh ướt sũng không có áo quần súng ống, trần như nhộng giữa rừng. Gã van nài:

- Trung sĩ thương tôi chớ, sống làm chi như thế này. Không súng đạn, không poncho che mưa, áo quần ướt hết cả. Tôi chớ có phải là tù binh đâu. Mai kia về tới đồn ai hiểu cho tôi, hay tôi bị an ninh đánh đập rồi bỏ tù. Ông giết tôi đi còn hơn.

- Tao có muốn thế đâu. Mày tưởng tao sướng lắm hả?

- Thôi ông giết quách tôi đi.

Gã bị người hạ sĩ quan đánh một phát vào giữa mặt, té nhào phía sau. Ngồi dậy xong, gã thét lên lần nữa:

- Giết đi...

Anh đứng dậy xách súng bước tới thì một phát súng tóe lửa. Tiếng viên trung sĩ già khàn khàn ghê tởm:

- Cho bõ ghét. Còn thằng nào muốn chết nữa không?

Tất cả im lặng. Gã tân binh nằm co rúm người, ngọ nguậy một cánh tay trên mặt đất. Chờ cho nỗi xúc động lắng dần xuống, anh nói với viên trung sĩ:

- Từ sáng tới giờ ba người. Hai người hồi sáng cũng ông bắn. Cứ cái nhịp này thì chỉ đủ người để ông bắn trên nửa đường về. Thế mà mười mấy năm lính ông chỉ thăng cấp lên trung sĩ cũng uổng!

- Ông bảo tôi làm sao nữa? Không lẽ chờ chết cả đám?

- Có nhiều cách làm cho nó ngậm họng lại, không phải chỉ có cách của ông.

Anh quay đi, trở lại chỗ cũ ngồi xuống, rút một điếu thuốc bật lửa đốt trong poncho, nghe giọng chửi thề của viên hạ sĩ quan già. Khói thuốc không thoát ra ngoài được nung cay xè ứa nước mắt. Rít được vài hơi anh dụi tàn thuốc xuống đất, đứng vụt dậy vừa sửa soạn ba lô vừa nói như ra lệnh:

- Bây giờ ngồi đây chờ chết hay sao?

Họ lại rục rịch lên đường. Trong đêm tối, họ đi lạc vào một buôn Thượng bỏ hoang. Ba người nằm lại ngoài rẫy chờ đợi, viên hạ sĩ quan già dắt theo tên tân binh bò vào thăm dò hai căn chòi còn sót lại hy vọng tìm được chỗ nghỉ khô ráo. Khi chắc là không còn ai ở lại trong buôn, họ rúc vào chia nhau tìm chỗ nằm. Rừng núi im lìm hơn lệ thường ngoài tiếng mưa xối xả bên ngoài những tấm phên nứa cũ. Không có tiếng một con chim, không có tiếng một con vật, không cả một tiếng nổ như suốt những ngày qua.

Sáng hôm sau họ vẫn thức dậy sớm như thường lệ. Cái đói ùa đến ngay làm họ vội vã đi kiếm thức ăn may ra còn sót lại trong buôn. Ngoài rẫy, gã hạ sĩ tìm thấy vài trái bắp khô còn trên cây. Viên trung sĩ và tên tân binh đào được ít sắn mì còn có thể ăn được. Bữa ăn được sửa soạn ngay trong hai căn chòi trong nỗi lo âu đầy ắp. Sau đó, họ lội mưa lên một ngọn núi nhỏ rồi dừng lại nghỉ. Dù sao những củ sắn mì quá lứa cũng tăng cường thêm cho họ một chút sinh lực và giúp họ tin tưởng hơn vào chuyến thoát hiểm. Hơn nữa, cả năm người còn lại đều có sức khỏe bình thường, họ hy vọng nhiều hơn vào những ngày sắp tới.

Cái may mắn tưởng chừng sẽ theo đuổi họ cho đến cuối cuộc hành trình, nhưng không, xẩm tối ngày thứ ba, trong khi dừng chân nghỉ mệt bên một bờ suối nhỏ để lấy nước, họ bị đối phương phát hiện. Sau vài loạt đạn nổ dồn, viên trung sĩ trẻ tuổi và tên tân binh gục ngay. Ba người còn lại không còn đủ sức kháng cự vội vã rút chạy lên đỉnh núi nhỏ. Khi họ lên tới chóp đỉnh thì cơn mưa lại trút xuống. Tất cả mệt nhoài, không cần suy nghĩ gì nữa, mỗi người một hốc đá trú mưa rồi ngủ quên trong cái giá lạnh của từng cơn gió Lào thổi dồn qua. Lúc anh thức dậy, cơn mưa vẫn chưa dứt, sự rã rời choáng ngợp toàn bộ ý nghĩ và thân xác anh ê ẩm cùng cực. Anh cựa mình tưởng như hết muốn nổi, mò mẫm trong bóng tối tìm một điếu thuốc lá. Bao thuốc cuối cùng còn được vài điếu cong queo, ướt nhẹp, anh đã cất công để dành lại từ những ngày đầu. Hộp diêm hoàn toàn ẩm nước không dùng được nữa, anh loay hoay mãi mới tìm được hộp dự trữ trong ba lô. Hơi thuốc cứng, rít được vài hơi thì anh không tìm thấy hứng thú gì nữa. Nằm yên lặng trong hốc đá nghe mưa chảy dưới lưng áo, nghe cái đói dâng lên càng lúc càng bạo tàn, anh tưởng như sẽ không bao giờ còn đủ sức vượt qua chặng đường còn lại. Gần bốn năm ở chiến trường, nhiều lần anh đã nghe kể lại những chuyến thất trận, lưu lạc trong rừng, cực nhọc tìm đường trở về đơn vị của những người khác, của những đơn vị khác, nay thì anh không còn lạ lùng gì việc đó nữa. Trong bóng tối, anh tự hỏi liệu anh còn có thể trở về lại nhà, nơi có người vợ yêu dấu, có còn ôm nàng trong tay, sống lại những ngày hạnh phúc xưa nữa hay không. Nếu không, anh tự hỏi, những ngày sắp tới sẽ ra sao. Từ lâu anh đã không tin ở những điều được xưng tụng, ngợi ca cuộc chiến này, tuy nhiên anh phải chấp nhận nó như một phần số phận mà anh không sao tránh khỏi. Chính nơi hốc đá này, trong đêm khuya lạnh mất ngủ và lo lắng đến sự mất còn của chính mình, anh mới thấy rõ là mình nhầm. Thái độ hy vọng suông ở tương lai rất nhiều khi là hèn nhát. Nếu không tin tưởng gì ở chiến tranh, tại sao anh không làm khác đi? Câu hỏi vừa lóe lên đã đẩy anh giạt về một phía, ở đó anh phải khổ tâm chọn lựa một chỗ đứng khác.

Anh đội poncho cầm súng bước ra ngoài hốc đá, mở mắt nhìn chòng chọc vào đêm tối. Cái lạnh, mưa gió cơ hồ có thể quật ngã anh một cách dễ dàng. Hai người kia vẫn ngủ say ở đâu đó anh cũng không biết tới, anh mang cảm giác như đang đứng trên đỉnh núi một mình. Tự hủy mình đi có lợi gì không? Thép súng lạnh trong tay, mưa xối xả trên đầu, anh bình tĩnh lắng nghe. Âm thanh buồn bã của cơn mưa đổ trên rừng cây và đá núi nghe quen thuộc đến độ khiến anh rùng mình. Những người lính bất đắc dĩ trong cuộc chiến này tự hủy mình là một điều quen thuộc đến nỗi lâu dần người ta không lưu ý đến nữa, tuy nhiên đó là cách thế cuối cùng. Anh nghĩ mình chưa bị dồn vào bước đường cùng đó, hành động như vậy quả thật rồ dại. Không phải mỗi người sống duy chỉ để cầm súng, như vậy anh có quyền từ giã chiến trường.

Gần sáng thì trời tạnh mưa dần, ngược lại cái lạnh tăng thêm đến độ nhức nhối. Anh chợp mắt thêm được một lúc thì gã hạ sĩ đánh thức dậy. Sương mù xuống thấp sát đầu, buổi mai làm cho họ thèm kinh khủng một bát cơm, một tách cà phê nóng hoặc một điếu thuốc lá ngon. Anh chuyền tay cho mỗi người rít một hơi điếu thuốc cuối cùng, sau đó cả ba sửa soạn vượt thêm một ngọn núi nữa.

Lúc họ lên đến đỉnh núi cao nhất thì sương mù cũng vừa tan hẳn. Mặt trời soi yếu ớt trên đầu họ. Đỉnh núi trọc, cỏ tranh lên cao gần ngập đầu, những tảng đá sần sùi đen thẫm nằm trơ bên sườn cho họ biết rằng sườn núi thật dốc và sâu. Trong khi cởi chiếc poncho cho vào ba lô, anh nhận ra mình đang mang theo thật nhiều vật dụng vô ích. Ngoài một ít đạn với một khẩu súng cần phải có để tự vệ từ lúc này cho đến khi ra quốc lộ hoặc đồn binh, anh chỉ mang theo chiếc võng và tấm chăn, tất cả đều bị vất lại. Anh có cảm tưởng chẳng những nó không còn cần thiết trên đường thoát hiểm mà sau đó cũng chẳng bao giờ được dùng đến nữa. Cuối cùng, trước khi tiếp tục, anh đưa mắt nhìn xuống phía dưới chân núi. Còn một ít đồi thấp lởm chởm nằm ngang dọc giữa cánh rừng ngút ngàn kéo dài ra đến con tỉnh lộ xa lắc đằng hướng Bắc và quốc lộ chìm mịt mù đằng hướng Đông, quận lỵ heo hút hiện ra nhạt nhòa ở cuối tầm mắt. Nơi xa xôi đó vài mái tôn chiếu hắt ánh sáng mặt trời đìu hiu như một buổi chiều buồn thảm, ở đó đã bao nhiêu lần trong mấy năm qua anh đi về, say khướt, rã mỏi, chán ngán, khổ nhục và đau đớn ngắm nhìn lại mình như một kẻ lạc đường, ở đó bao nhiêu lần anh đã tưởng nhớ đến người vợ yêu dấu chỉ như tưởng nhớ đến một kỷ niệm nhạt mờ, bao nhiêu lần anh đã xót xa thấy mình đang thui đốt cuộc đời mình một cách tội nghiệp và bi đát không vì một lý do khả hữu nào. Ở đó biết có người lính nào trong những cánh quân thất tán đang ngồi soi cuộc đời mình, soi khuôn mặt mình vào tấm kính chiến tranh đã vỡ để tìm lý tưởng cho những kẻ đến sau? Anh buồn rầu nói với hai người lính bạn, cốt để cắt đứt ý nghĩ:

- Hy vọng khoảng hai ngày nữa chúng ta sẽ ra đến chỗ an toàn. Cầu mong cả ba đều may mắn cho đến cuối cùng.

Gã hạ sĩ im lặng nghe trong khi viên trung sĩ già lên tiếng:

- Còn mong gì hơn. Không hiểu cả đơn vị còn được bao nhiêu người sống sót sau trận này. Riêng tôi, sau mười mấy năm lính, thất trận cũng nhiều, lạc mất đơn vị cũng đã vài ba trận, chưa bao giờ tôi ghê sợ đời lính như bây giờ. Từ lâu cái chết xảy ra cho đồng đội trước mắt không làm tôi suy nghĩ bận tâm gì nữa, nhưng đêm nọ khi bắn hạ tên tân binh lên cơn sốt, sau khi ông chửi xong bỏ đi, còn lại mình tôi với cái xác cong queo của nó, tôi đâm hoảng. Cảnh đó ám ảnh tôi về cái chết của chính mình...

- Ra đến khu an toàn, có rượu vào là ông khỏi ngay.

Có thể như vậy thật, nhưng cuối cùng viên trung sĩ già không về đến nơi an toàn với anh được. Dốc núi dựng đứng với những tảng đá làm thành vực sâu hút, họ khổ nhọc leo xuống suốt một buổi chiều. Đêm đó họ ngủ lại ở lưng chừng sườn núi, trời mưa nhẹ chứ không tàn bạo như những ngày trước, gần sáng hôm sau họ lại tiếp tục. Xuống đến chân núi, đứng giữa rừng mịt mùng anh không nhìn thấy viên trung sĩ già đâu nữa. Anh và gã hạ sĩ đợi mãi vẫn không thấy hắn. Trưa hôm đó, hai người ăn lót lòng bằng ít lá giang hái được, rồi buồn thảm tiếp tục giai đoạn chót của cuộc hành trình.

***

Những ngày đầu tiên sống bên vợ trôi qua một cách vô cùng thoải mái và hạnh phúc. Chàng bắt đầu thích hợp với từng giờ từng phút bên mái nhà, quên dần những ngày tháng ngoài chiến trường. Buổi sáng chàng vẫn quen thức dậy sớm, pha cho mình một ly cà phê sảng khoái ngồi trước hiên nhà đốt thuốc lá chờ sáng, đi bộ ra bãi biển, dạo một vòng trên dải cát mịn phẳng nhìn bọn trẻ con đi chơi sớm đùa với những con còng hay những đợt sóng trắng xóa vung vãi lên bờ. Đôi khi vào buổi chiều chàng đưa vợ đi lại những con đường quen thuộc cũ trong thành phố, chui vào rạp chiếu bóng, ghé chân vào một quán nước hay đi dạo trên bãi cát vào buổi tối như thói quen ngày hai người mới yêu nhau. Cuối mùa đông thành phố se lạnh vào những buổi tối nhưng trời không mưa, thời tiết của yêu đương và dành cho những người cần tạo dựng lại cuộc đời mình.

Hơn tuần lễ nhịp nhàng như vậy. Một buổi sáng, khi chàng từ bãi biển trở về nhà, người vợ ôm choàng lấy chàng ứa nước mắt nghẹn ngào khóc ngay nơi bậc cửa. Đưa nàng vào nhà, chàng lo lắng gạn hỏi. Điều mà cuối cùng nàng tiết lộ cho chàng hiểu, thực sự chàng cũng chưa nghĩ tới bao giờ:

- Có người vừa đến cho tin về anh...

Nàng nghẹn lại không nói được gì nữa. Sự sửng sốt bất ngờ làm chàng không tìm ra lời. Nàng tiếp:

- Họ bảo anh chết mất xác ngoài biên giới...

Chàng bắt đầu hiểu. Sự kiện đã đến một cách bất ngờ, chính chàng, ngoài lý do không muốn làm vợ hoảng hốt và lo ngại từ những ngày đầu, hạnh phúc bên gia đình vừa tìm thấy lại đã làm chàng quên bẵng đi việc bỏ đơn vị bất hợp pháp của mình. Sau sáu ngày vượt rừng thoát hiểm, sau khi bỏ lại trong vùng giao chiến bốn đồng đội đã theo chàng từ sau cuộc giao tranh, chàng và gã hạ sĩ thoát ra đến một nơi an toàn nằm trên quốc lộ 14, cả hai đều đói lả, rách rưới, mệt mỏi một cách tồi tệ. Họ nghĩ, thật vô lý nếu về trình diện đồn binh để nhận lãnh những hậu quả về vấn đề an ninh và sức khỏe vốn không mấy khả quan cho những trường hợp tương tự, cả hai người tìm cách gửi vũ khí ở một toán nghĩa quân giữ an ninh trục lộ rồi đón xe đò về thị trấn nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, gã hạ sĩ chào từ biệt chàng để về quê nhà. Đó là lần cuối cùng, chàng nghĩ, còn nhìn thấy một đồng đội từ gần bốn năm lặn lội trên các chiến trường. Sau đó chàng tìm phương tiện rồi trở về thành phố này.

Đơn vị báo cáo chàng chết mất xác là phải, bởi vì sau trận giao tranh thất bại nặng nề đó, hẳn là đơn vị chàng không còn ai trở lại nơi đó để tìm những người đã chết. Những kẻ thất tán như chàng có thể có người tìm về lại đơn vị, và sự vắng mặt đã lâu của chàng không thể được hiểu bằng một cách nào khác. Đương nhiên chàng đã bắt đầu được xóa tên ở đơn vị, chàng đã trở thành một kẻ tử trận, một anh hùng, một con cờ đã bị hất tung ra ngoài những ô vuông buồn thảm. Điều đó quả có làm chàng xót xa, nhưng rõ ràng chàng vừa thấy mình thực sự trút bỏ được một định mệnh.

- Họ còn bảo em ra đơn vị để lập hồ sơ tử tuất cho anh...

Chàng hốt hoảng. Sự kiện có vẻ không giản dị như chàng vẫn tưởng. Nhưng để trấn an vợ, chàng cố điềm tĩnh nói:

- Em nghĩ thế nào?

Người đàn bà thoáng đưa mắt nhìn lên dò xét phản ứng của chồng, nàng nói:

- Em đâu có biết được việc gì đã xảy ra cho anh. Cho đến bây giờ em vẫn chưa hiểu gì cả. Tại sao anh không nói cho em biết?

- Anh định sẽ kể cho em nghe vào một lúc khác, anh sợ em phải lo lắng quá nên chần chờ mãi. Đánh trận, thua trận, đơn vị bị thất tán, anh trốn ra khỏi rừng rồi về thẳng nhà. Đơn vị nghĩ rằng anh đã bị giết. Ý định của anh là không ra trình diện lại...

- Anh không nghĩ đến những khó khăn sẽ đến sau này sao?

- Có, nhưng điều đó không quan trọng. Anh chỉ khao khát một đời sống tự do hơn, không lệ thuộc vào kẻ khác, không sống và chiến đấu cho kẻ khác...

Chàng ngồi trong lòng ghế, tự tay rót một tách trà nóng uống cạn. Người vợ im lặng theo dõi những động tác của chồng. Chàng thấy rõ những thoáng lo âu hiện ra trong ý nghĩ của vợ. Chàng hỏi sau khi châm lửa một điếu thuốc:

- Em nghĩ sao?

Lâu lắm nàng mới nói được:

- Em tin anh, tin rằng những gì anh làm đều được cân nhắc kỹ lưỡng. Nhưng việc ra đơn vị lập hồ sơ tử tuất cho anh...

Điều đó chính chàng cũng chưa biết phải giải quyết bằng cách nào. Khai tử chàng, sau đó cái chết của chàng mặc nhiên được chính thức hóa, điều đó khôi hài đến độ bi đát. Nhưng nếu không, bao nhiêu vấn đề phải đặt ra về sau, cái chết của chàng có thể bị ngờ vực, điều đó chàng không muốn. Cái tên và vai trò của chàng trong tập thể màu cứt ngựa đó phải được xóa tan càng sớm càng hay, sự liên hệ của chàng và cái tập thể buồn thảm đó cần phải cắt đứt càng sớm càng tốt. Sự hèn nhát mà người ta vẫn dùng làm chiêu bài để xúi giục người khác cầm súng, ngược lại không hề tìm thấy nơi những kẻ biết lựa chọn. Chàng nói với vợ một cách quyết liệt:

- Đó là thủ tục cuối cùng của quân đội mà em cần phải làm cho anh. Đứng trước mặt họ em cứ xem như anh đã thật sự không còn nữa. Sau đó chúng ta yên ổn sống cuộc đời của chúng ta.

Chàng hớp một tách trà nữa rồi đứng dậy bước ra hiên nhà. Nắng đã lên cao, ấm áp và rực rỡ. Ném mẩu tàn thuốc xuống khoảng sân, chàng nhớ đến gã hạ sĩ, người cuối cùng theo chàng về đến vùng an toàn. Trước khi từ biệt chàng, gã nói hy vọng tôi sẽ khỏi phải cầm súng trở lại, tôi không muốn nhưng đã ở lính đủ bốn năm, thời gian quy định cho mỗi người, và tôi nghĩ như vậy đã đủ. Điều đó không có gì lạ nhưng chàng nghĩ ít ra không phải tất cả mọi người cầm súng ngoài chiến trường đều là những kẻ không biết mình bị đánh lừa, trái lại chính cái nhu cầu đánh lừa cả một lớp người như chàng và gã hạ sĩ đã bất toại và đó là một mưu đồ thất bại. Chiến tranh sẽ kết thúc vào lúc những ô kẻ trên bàn cờ trống trơn không còn một con tốt nào nữa, tướng đổi tướng thảm bại và nhục nhã, hai bên bờ sông không phải là nơi để mai phục, suối nguồn sẽ dẫn nước về ươm xanh thửa ruộng lúa của gã hạ sĩ hèn mọn. Đó là lúc hạnh phúc của mỗi người mở lớn.

T.V

Nha Trang, 1972

(Tạp chí Trình Bày số 38, 1972)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét