Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2008

Người về

Truyện ngắn của THẾ VŨ

- Sống một mình không có anh em buồn lắm phải không?

Người đàn bà vùi tóc vào khuôn mặt chồng, những ngón tay nàng cuống quýt siết lấy đôi vai gầy khô yêu dấu của người đàn ông, nói trong hơi thở cho thấy câu hỏi của người đàn ông đã là thừa thãi. Người đàn ông cũng vừa nhận ra như thế, nhưng cái động lực muốn bày tỏ cho người vợ thấy rằng mình đã luôn luôn nghĩ tới nàng dù trong hoàn cảnh nào, luôn luôn xót xa lo lắng về nỗi cô độc mà nàng phải chịu đựng suốt tháng ngày buồn thảm vừa qua, chính cái động lực đó thôi thúc chàng lên tiếng. Từ lúc người vợ buông thân vào vòng tay chàng, chàng đã nói về những chuyện quẩn quanh như thế. Cuối cùng, chàng bắt đầu thấy mình rơi hẫng vào chính cái điều mà chàng muốn quên, hay ít ra chàng cũng không muốn nhớ đến, nhắc tới, giải thích cho vợ hiểu quá sớm. Cả hai còn đang cần say sưa quấn chặt lấy nhau, mỗi người lắng nghe lại hơi thở quen thuộc và êm đềm của người kia, với nhịp đập rộn rã của lồng ngực áp lên nhau, hạnh phúc mở ra bát ngát cùng mùi hương yêu như những ngày đầu.

Vẫn giọng nói của người đàn ông nhưng chậm chạp và ngập ngừng:

- Anh không ra chiến trường nữa, em tin không?

Không trả lời ngay, dường như người đàn bà còn đợi cho câu hỏi của chồng lắng xuống thật sự trong tâm trí mình, đánh giá lại sự ngờ vực không thể nào che giấu được. Nàng nói:

- Hy vọng anh không đùa như trước...

Một sự thực vỡ bùng ngoài ý muốn của người đàn ông. Từ trước, để an ủi vợ mỗi lần trở về năm ba ngày tìm lại không khí gia đình, chàng lại nói mãi cho nàng nghe những câu như anh sẽ ở lại, không đi nữa em tin không, hay em muốn anh ở nhà luôn với em không. Những câu nói như vậy không có tính chất lừa dối, nó chỉ một hình thức an ủi, xoa dịu nỗi cô độc của người đàn bà. Bây giờ câu nói đó không còn tác dụng như những lần đầu nữa, nhưng nó đã trở thành một thói quen buồn bã của chàng, nàng nghĩ chàng nói để cho đỡ buồn, nói để đầy thêm tình yêu. Bất giác người đàn ông mỉm cười một mình.

Lâu lắm mới có tiếng người vợ cất lên:

- Anh ở lại được bao lâu?

Không muốn trả lời câu nàng hỏi, nhưng để nàng yên tâm, chàng nói:

- Hơn những lần trước.

Chàng xua đuổi những ý nghĩ vừa hiện đến trong trí, vân vê những sợi tóc của nàng xõa trên ngực mình, đặt lại nụ hôn lên má của vợ, phía dưới con mắt bên trái. Buổi chiều trời mưa sương bên ngoài cửa sổ, mùa đông chưa qua hết trong thành phố ngày về. Chàng tự nhủ sẽ sống lại những ngày êm ấm với các con đường quen trong thành phố, với bãi biển ngoài kia như những đêm mùa đông lạnh cóng ngày trước, với người vợ hiền ngoan trong tay những đêm hạnh phúc tìm thấy lại sau những năm dai dẳng ôm chầm nỗi chết ngoài mặt trận. Chàng thấy cần phải quyết định ngay tương lai, hay gần gũi hơn là những ngày đang tới trong đời mình. Hạnh phúc là điều ta phải tìm tới chứ không phải là điều tìm tới ta, chàng nhắc lại ý tưởng đó một lần nữa. Điều gì xảy ra nếu giờ này chàng còn đang lặn lội trong rừng sâu, dưới mưa lạnh ướt, với những người bạn lính tàn tạ già nua theo cuộc chiến, chiến đấu vô vọng với đỉa vắt muỗi rừng, nâng niu một ngày hòa bình hư tưởng. Những người lính bạn, đơn vị sau những ngày chàng vắng mặt liệu đã ra sao, có kẻ nào âm thầm bị bỏ rơi lại giữa rừng núi điệp trùng, có kẻ nào ứa nước mắt lấy gói cơm khô nhai cho đỡ buồn giữa đêm khuya nặng nề trôi qua nghe tiếng chim núi cất tiếng bi thảm báo hiệu trận đánh sẽ bắt đầu, có kẻ nào trằn trọc trong lều, buồn bã hút điếu thuốc giấu kín ánh lửa trong áo rét dã chiến, chờ giờ khai hỏa. Còn có kẻ nào nghĩ tới những người vắng mặt, những người đã chết rơi rớt đâu đó trên đường tháo chạy trở về. Chàng không thể nào tưởng tượng ra được một cách rõ ràng cái khung cảnh đơn vị và đồn binh ngày chàng trở lại. Chàng nghĩ tới căn hầm của mình nơi căn cứ, người bạn nằm bên, những đêm mưa, những ngày rã rời trôi qua buồn thảm, chàng nghĩ tới mình khi mang ba lô, cầm súng, đi tới trong những đêm băng rừng, quãng đường ra biên giới, buôn ấp, những chuyến xe bùn đất bê bết. Chàng nghĩ đến những lá thư đã viết gởi về cho vợ trong những ngày tháng trước đó. Cuối cùng, chàng nhớ tới con đường trở về thành phố này. Những ngày sắp tới vụt trở lại trong tâm trí chàng, nỗi ám ảnh như những mũi kim đâm vào da thịt. Choàng tay ôm người vợ đang yên lặng nằm bên, chàng nói, rụt rè và ngao ngán:

- Em biết anh sống như thế nào ngoài đó không?

Câu hỏi tẻ nhạt, lạnh lùng, không tỏ lộ được điều mà cả hai người cùng mong muốn. Người đàn bà đáp không suy nghĩ:

- Có gì khác những điều anh viết trong thư sao?

- Không.

Người đàn ông thở dài, buông thõng. Ôm vợ chặt hơn trong tay, người đàn ông tưởng như mình hoàn toàn thất bại. Chiến tranh có thể tước đoạt cả lời nói của con người, không riêng gì đời sống, tình cảm, lương tri. Thật lâu chàng lại lên tiếng hỏi:

- Em biết tại sao anh về không?

- Không.

Người đàn bà trả lời ngay, vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi có mang dáng dấp khác lạ của chàng. Không thấy chàng giải thích, nàng hỏi lại:

- Tại sao anh về, nói đi chứ?

Lúc gần bật ra được lời giải thích thì chàng ngăn lại kịp. Tay hơi run trên làn da mát rượi của nàng, chàng có cảm tưởng như mình sắp rơi xuống hố. Nếu nàng biết được tất cả, có thể nàng hốt hoảng và bị ám ảnh. Chàng tìm cách nói dối, nhưng không được, đành khỏa lấp đi bằng nụ hôn. Buông vợ ra, chàng ngồi bật dậy, nói nhanh:

- Như thường lệ, không sao cả. Em yên tâm.

Ra cửa sổ, chàng đứng nhìn bầu trời đục mù bên ngoài. Trận mưa cuối đông ở thành phố êm ả, không bạo tàn như những trận mưa ngút ngàn nơi chiến trường. Chàng say sưa nhìn những cánh hoa bưởi nở trái mùa rụng ngoài khu vườn nhỏ. Gió lướt trên những đọt cây đọng nước, khu phố vắng, những chiếc xích lô kín bưng đạp qua con đường bên ngoài khu vườn, chuông leng keng gợi cho chàng nhớ những âm thanh quen thuộc cũ. Khu phố vẫn không thay đổi nhiều lắm như chàng tưởng.

Người đàn bà bước tới nắm cánh tay chàng, tì nửa thân vào cửa sổ, hỏi:

- Em đi làm cơm chiều. Anh có thấy cần đi đâu không?

Chàng vuốt tóc vợ:

- Anh còn nhiều thì giờ để đi.

Còn lại một mình trong phòng, chàng trở vào ngồi nơi chiếc ghế mây cũ kê bên chiếc bàn con thấp, ly cà phê người đàn bà pha lúc chàng mới về đã nguội lạnh. Chàng uống một ngụm nhỏ, tỉnh người. Điếu thuốc được châm lửa tỏa khói. Ít nhất hạnh phúc của chàng lúc đó cũng tìm thấy nơi tách cà phê và điếu thuốc lá bình thản hút trong nhà, không phải vội vã, không phải mệt nhoài quệt mồ hôi bằng tay áo trận.

***

Quen nếp sống ngoài chiến trường, buổi sáng anh cũng thức dậy rất sớm. Nhìn vợ nằm say ngủ bên cạnh, anh vui lòng nhận ra nỗi sung sướng tràn ngập tâm trí. Anh bước ra ngoài phòng, hé cửa nhìn ra ngoài đường phố. Buổi mai còn mới quá, mát rượi kỳ lạ sau những cơn mưa bụi tiếp nối từ chiều qua kéo dài đến quá nửa đêm. Thành phố im lìm tuyệt vời, anh bước ra sân, vươn vai bẻ xương sống răng rắc. Sân cát ẩm nước lạnh tê lòng bàn chân làm anh tỉnh hẳn. Anh nhìn lên đỉnh nhà thờ, ngọn đèn tắt mù trên nền trời mờ mịt. Vài chuyến xe chở công nhân vào sở ở xa ngoài ngoại ô không khuấy động nổi khu phố còn ngủ ngon, thỉnh thoảng những chiếc xích lô đạp qua con đường trước mặt, tiếng chuông leng keng nghe thích thú hơn cả những tiếng chuông mà anh đã nghe hồi chiều hôm qua. Tiếng chuông đó gợi anh nhớ lại những ngày đã xa lắc trong trí nhớ, thời mà anh còn sống thảnh thơi chưa có cái chết và cuộc sống cực hình ngoài chiến trận ám ảnh. Ngọn đèn ngoài đường phố chiếu chếch một vùng ánh sáng vào sân nhà, lên bực thềm và nửa cánh cửa. Anh ngồi dưới hiên đốt một điếu thuốc. Mùi khói thuốc thơm như hoàn toàn mới lạ. Còn quá sớm, nếu giờ này anh ngồi bên cạnh bạn bè ngoài rừng chắc hẳn cả bọn đang sửa soạn cho bữa ăn vội vã lót lòng trước khi xuất trận, chắc chắn họ đang quây quần bên một đống lửa, người này nhìn râu tóc của người kia, nói năng lí nhí trong cổ họng, bàn tán về mặt trận ngày hôm nay hay về một đơn vị thua trận ngày qua, khốn khó chờ đợi. Anh đã khốn khó chờ đợi như vậy suốt bốn năm, cuối cùng thấy rằng đó là một sự chờ đợi tuyệt vọng. Chiến thắng hay thảm bại? Cả hai điều không mang đến cho anh và những người bên cạnh anh một niềm vui nào, cả hai đều là những thứ ảo tưởng mịt mù mà đến lúc nhận ra người ta thấy chua xót tội nghiệp. Suốt trong những năm đó, nếu quả thật có chờ đợi một điều gì, thì đó chính là ngày về, buông súng hoan hỉ trở về như hôm nay.

Anh đi vào nhà, dùng nước sôi còn lại từ đêm qua pha cho mình một tách cà phê. Hương cà phê bốc lên ngây ngất, cùng lúc đó anh nghe thấy tiếng trở mình của vợ. Anh bước vào buồng ngủ cúi mặt sát xuống đôi mắt người đàn bà.

- Anh quen tật rồi. Cứ ngủ tiếp đi.

Không có tiếng trả lời nhưng anh vẫn hôn lên trán nàng trước khi bước ra ngoài. Ngồi vào chiếc ghế cũ, anh uống hết tách cà phê trong một khắc, cố gắng không nghĩ đến chuyện chiến trận nữa. Sau đó, khi tiếng động cơ xe cộ lưu thông đã đều hơn ngoài phố, anh thay quần áo rồi bước ra đường.

Buổi mai bình yên có cái quyến rũ đặc biệt và mãnh liệt. Anh đi ra hướng biển, hơi lạnh phả vào mặt mũi tê tái. Anh gõ những bước chậm nhưng tin tưởng lên mặt đường nhựa, khám phá ra rằng dù sao anh vẫn còn nhiều lạc quan hơn là trước đây anh tưởng. Chiến tranh vẫn không thể thui chột được hết những cảm quan của con người, hay nói khác đi, cuộc đời anh chưa bị đốt trọn cho nó suốt thời gian vừa qua. Anh thấy mình có thể bắt đầu lại được tất cả, từ việc yêu dấu một người đàn bà cho đến sống say mê như thời nhỏ. Bản chất của sự sống là tự do, sự khám phá ra cảm xúc chứ không phải thỏa mãn thú tính và tránh né phản ứng. Điều đó từ lâu nay anh không tìm thấy. Nơi đó anh run sợ và chạy trốn, bậm răng nhả đạn về phía đối diện để sau đó thấy mình còn thở và chạy trở về. Nơi đó càng ngày anh càng thấy cái nhu cầu của sự sống, cái ý nghĩa cuộc đời là sự thù nghịch và tiếp tục truy tìm kẻ thù nghịch hư tưởng đó.

Trời hửng sáng. Mặt biển sáng như những mảnh giấy trắng cắt vụn rắc đều trên mặt thảm xanh rực rỡ. Dải cát thẫm màu vắng tanh chạy mút tầm mắt. Những đợt sóng hoan hỉ xô giạt vào bờ cát, rút nghiêng xuống dưới thấp rồi lại mừng rỡ đứng lên. Hàng quán phía sau còn đóng cửa kín bưng, những trụ đá bị cát phủ lấp gần hết, trồi lên những dấu tích sau cùng của một thời kỳ chìm sâu vào quên lãng. Gió nhẹ nhưng cũng đủ sức cuốn lấy những ngọn phi lao sắp hàng rất đều dọc đại lộ. Dòng Chúa Cứu Thế nằm đằng sau những ngọn phi lao đó đột nhiên cất lên tiếng chuông lễ sáng, tiếng ngân như dội mạnh từ sườn núi phương nam thành phố ngược về, bay là đà trên mặt cát phẳng lì bởi thủy triều dâng lên đêm qua. Người đàn ông nghiệm ra nỗi buồn đang thành hình trong tâm trí mình: tuổi anh không còn có thể hào hứng giẫm chân lên những con sứa bị sóng đánh giạt vào bờ, hay chạy đuổi theo những con còng lốm đốm đỏ khêu gợi trước mắt. Tuy nhiên anh cũng không phải là một người nghiêm nghị ngồi trên một trụ đá u hoài nhìn ra khơi tìm chút bình an cho tâm hồn mình. Anh bước thơ thẩn dưới bãi trong lúc mặt trời chói lòa từ từ nhô lên.

Bấy giờ bãi cát chỉ có thêm được vài đứa trẻ vui sướng nghịch sóng và cát. Ánh nắng sưởi ấm mặt biển, sưởi ấm bãi cát và ban mai, sưởi ấm thành phố đằng sau lưng, và sưởi ấm lòng anh.

Lúc bãi cát đã có khá đông người, từng đợt nữ sinh của các ngôi trường trong phố, những người đàn ông nhàn hạ, những chú bé say sưa biển, những người lính rảnh rỗi hiếm hoi ngồi đứng đi lại trên bãi cát thì nắng đã lên cao. Buổi mai bây giờ mang khuôn mặt mới, một ngày rực rỡ im gió cuối mùa đông trong thành phố ướt sũng từ nhiều tháng qua, những hòn đảo nhỏ ngoài khơi xanh sậm trông thấy rõ sau một thời gian dài khuất sau sương mù, biển xanh rợn phẳng im bao dung những con thuyền câu về bến muộn. Dưới vùng bến cảng, khói nhả đen lên bầu trời từ một chiếc tàu hàng hải có lẽ sắp khởi hành. Nhưng ở đó là một khung cảnh khác của thành phố, ở đó anh đã nghe mãi một thời tiếng động cơ của xe cần trụ, tiếng hú của còi tàu trước giờ nhổ neo, tiếng reo hò của phu phen trong lúc cất hàng lên bến. Tuổi thơ anh ở nơi đó. Mười năm, thời gian cũng đã đủ để anh thấy rõ sự quý hóa của một đời sống đích thực, một đời sống không bị điều khiển bởi guồng máy chiến tranh. Lý ra, đó chỉ là thời gian để anh đú đởn, nhưng thực sự đó là thời gian đã làm anh già đi. Anh bỗng thấy chới với trên bãi cát buổi sáng đó khi một câu hỏi thoáng lên trong đầu, câu hỏi đặt anh vào thực tế, đánh bật anh ra khỏi nỗi hân hoan quý hóa của ngày tự do thứ thất trong thành phố này. Câu hỏi đó: liệu anh sẽ làm gì trong những ngày sắp tới?

Trước hết, cái lý do đưa anh trở về là một lý do hoàn toàn tình cờ và mang nhiều tính chất chua xót. Cuộc hành quân đang vào ngày thứ tư kể từ hôm nhận lãnh năm ngày thực phẩm khô ở một căn cứ hỏa lực nằm trên một dãy núi cao 1.500 bộ giữa quận lỵ và biên giới. Trận đánh bắt đầu giữa một vùng rừng ẩm ướt đầy rẫy muỗi và vắt, cách căn cứ hỏa lực khoảng bảy cây số về hướng Tây Nam. Bốn ngày băng rừng để đến mục tiêu vô định đã làm cho mọi người mệt mỏi, bọn lính nhốn nháo thất kinh khi những trái đạn pháo kích đầu tiên rơi vào vị trí dừng quân. Tuy nhiên trận đánh chỉ thực sự bắt đầu vào buổi chiều, khi cánh quân thứ nhất phát hiện được đối phương. Nửa giờ sau, cùng với tiếng gào kêu của bộ chỉ huy chiến thuật gọi về trung tâm hành quân xin phi pháo yểm trợ, cánh quân bị đánh tan tành. Thời tiết không thuận lợi để phi cơ yểm trợ, pháo binh thì không đủ sức chi phối lực lượng địch, những người lính cuối cùng của cánh quân bất hạnh đó phải phấn đấu với một bãi tranh ngập nước, dưới lằn đạn đối phương để tháo chạy về bộ chỉ huy. Gần sáu giờ chiều, tất cả bộ phận còn lại của đơn vị được chia thành hai cánh lội rừng đi tìm xác đồng đội.

Rừng già biên giới vào những buổi chiều mưa mùa đông tối lại thật nhanh. Chẳng mấy chốc, mọi người mò mẫm trong bóng tối để đi, thực sự không ai nghĩ tới việc sẽ chiến đấu như thế nào trong một hoàn cảnh khốn đốn như vậy. Đã từ lâu, những đơn vị bộ binh không còn đủ khả năng đảm nhiệm công tác lùng diệt địch trong đêm tối, nhất là trong đêm tối giữa rừng già không quen thuộc, mọi người đều chán ngán mong mỏi sớm đến chỗ dừng chân nghỉ đêm. Đại bác rót từng hồi vào vùng giao tranh buổi chiều, tiếng nổ ầm vang rền hung hãn. Cơn mưa dứt nhưng mọi người đều ướt nhẹp, sự sống thu lại trong những chiếc poncho phủ kín người không khác cái xác chết biết đi. Ngoài những tiếng nổ kinh khiếp và buồn thảm, mỗi người chỉ còn biết mình đang làm gì qua tiếng cọ soàn soạt của chiếc poncho vào cỏ dưới chân và tiếng những con chim giật mình hớt hải bay đi bỏ lại những âm thanh nặng nề đầy đe dọa. Người ta hiểu súng sẽ nổ nhưng không thể biết được lúc nào, và trong bóng tối mịt mùng không ai biết mình đang ở đâu. Chân bước không do chính mình kiểm soát, vấp ngã và đứng dậy tiếp tục như những phản xạ tự nhiên, mấy trăm con người di hành không hề tìm thấy một ánh lửa của điếu thuốc ấm trên môi, vắng hẳn tiếng nói giọng cười. Cho đến khi súng nổ ran bốn phía, người ta mới thật sự thấy bi thảm bắt đầu.

Chỉ cần khoảng một khắc sau đó là anh thất lạc. Trong đêm tối, đạn lửa xé vút qua mắt, những tiếng nổ lớn bùng lên một ánh chớp rồi tắt ngấm không soi rõ được một vật gì ngoài những thân cây dày đặc. Anh bò đi khỏi nơi người bạn lính bị hai viên đạn ghim vào đầu, tìm một chỗ ẩn nấp khác, ghìm súng vào tư thế chiến đấu và suy nghĩ. Liệu anh phải chiến đấu như thế nào từ giây phút đó?

Những phút gay cấn của trận đánh dường như không kéo dài lâu lắm. Lúc ngớt dần tiếng súng, anh bắt đầu hiểu rõ là mình bị bỏ rơi lại. Những tràng súng nhỏ rít lên trong bóng tối bao la không làm cho anh sợ hãi, trái lại cũng không làm anh lóe lên một tia hy vọng nào. Suốt trận đánh không thấy một trái chiếu sáng, tuy nhiên cho đến lúc anh không còn hy vọng tìm thấy cánh quân nữa thì vùng giao tranh bắt đầu được soi sáng liên tiếp. Thoạt đầu điều đó làm anh hoảng hốt lui về chỗ ẩn nấp cũ, nhưng sau khi nghe những tiếng gọi thăm dò của một vài người lính thất tán khác ở những bờ bụi chung quanh, anh yên tâm đứng lên cất tiếng khe khẽ đáp lại. Họ tìm đến nhau, tất cả được sáu người. Chiến trường yên tĩnh một cách buồn thảm ngoài sức chịu đựng của họ bên dưới thứ ánh sáng vàng khè sôi xì xèo chênh chếch bay xuống. Cả bọn không ai nghĩ đến những việc thường ngày sau mỗi trận đánh như lục soát những tử thi, tịch thu những chiến lợi phẩm, bây giờ chỉ còn có những điều đang càng lúc càng đè nặng hơn lên tâm trí mỗi người: đêm sẽ sáng lúc nào, bom sẽ triệt hạ khu vực giao tranh lúc nào, và số phận bọn họ sẽ ra sao?

Bọn họ gồm hai trung sĩ, một hạ sĩ, hai tân binh mới ra trường và anh, có lẽ anh là viên sĩ quan cuối cùng còn sống sót của cánh quân cũng nên. Anh hiểu chỉ có sáu người thì không phải là một đơn vị thì vai trò của anh không thể là vai trò của một sĩ quan được. Tuy nhiên, nếu năm người kia cần thoát khỏi khu vực này thì sự có mặt của anh là rất cần thiết, hơn nữa, anh vốn là một sĩ quan trẻ được mến chuộng trong đơn vị hơn là được kính nể. Anh bắt đầu thấy mình có trách nhiệm.

Trước khi nghĩ đến việc tìm đường trở về căn cứ, việc họ phải làm là thoát ngay ra ngoài khu vực giao tranh càng sớm càng tốt để khỏi trở thành những con mồi tình cờ của phi pháo biến khu rừng thành bình địa. Anh mở địa bàn phỏng chừng một phương giác triệt thoái rồi cùng năm người kia dọ dẫm rút đi. Chiến tranh mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy lúc, đôi khi nó là một cuộc thánh chiến, đôi khi nó mang nặng một màu sắc lý tưởng lạc quan, rất nhiều khi nó lại vô nghĩa một cái trơ trẽn, như lúc này. Những kẻ cầm súng trong bất cứ một cuộc chiến nào cũng được gán cho một hình dung từ, chẳng hạn đó là anh hùng, chẳng hạn đó là những con chốt thí trong trường hợp này họ là những anh hùng thất tán buồn rầu hoặc con chốt thí nằm ngoài những ô kẽ trên bàn thờ. Họ hết trách nhiệm về cuộc chiến tranh, trái lại chiến tranh chịu trách nhiệm về chính họ. Một trong hai người hạ sĩ quan gợi cho anh những ý tưởng đó, anh ta nói không thể có một cái chết nào vô duyên và vô ích hơn cái chết bắt gặp trên nửa đường tháo lui từ chiến trận trở về. Câu nói vô tình đó đặt cho anh một trách nhiệm nặng nề hơn anh tưởng.

Sau khi đi được khoảng hai giờ đồng hồ, tất cả mọi người đều mệt lả vì đói và buồn ngủ. Dễ chừng trời gần sáng. Rừng tĩnh mịch một cách khác thường ngoài tiếng bom nổ vang phía sau lưng từ những pháo đài bay trút xuống. Tiếng nổ nghe muốn bung lồng ngực khiến anh hiểu rằng bom dội rất gần, tuy nhiên anh còn đủ bình tĩnh để nhận hiểu cái khoảng cách khả dĩ an toàn để bọn anh có thể tạm dừng chân nghỉ ngơi lấy lại sức.

Anh có cảm tưởng như bom không dội đúng mục tiêu, tuy nhiên điều đó không còn đáng nghĩ đến nữa. Họ bước đến giữa một khoảng rừng tre và không ai bảo ai, mọi người cùng tìm chỗ ngả lưng. Trên lớp lá mục rã ẩm ướt, cả sáu người, mỗi người một góc, ngủ một cách ngon lành năm mười phút sau khi đặt chân tới.

Lúc anh thức dậy thì trời đã sáng. Ánh sáng nhá nhem của khu rừng chỉ cho phép anh quan sát ra chung quanh một bán kính rất hạn chế. Một phía của khu rừng tre là rẫy Thượng trồng lúa, xa hơn có lẽ là một con suối nhỏ với một hai mái chòi mốc thếch trơ trọi. Anh gọi những người kia dậy. Bữa ăn lót dạ của họ là những hạt cơm khô thiếu nước trong những túi chế sẵn, tiếng nhai rào rạo trong miệng tạo cho anh một cảm giác ghê người. Anh nghĩ đến đêm vừa qua mà giật mình. Một loạt súng nổ ngay lúc đó... (còn tiếp)

T.V

(Tạp chí Trình Bày số 38, 1972)

1 nhận xét:

  1. Comments
    (6 total) Post a Comment

    * MAP M
    * Offline

    em là một con bé lớn lên trong hòa bình , có đói khổ một tí nhưng bình yên , không hiểu hết những cảm nhận như truyện của Anh vừa kể , chỉ biết cảm nhận một điều : Có đi qua , chạm tay vào cái chết - dù chỉ rất nhẹ , bên ngòai ...thì mới hiểu hết cái qúy giá của nhịp thở mà ta đang có . Cho nên , có đời sống là phải trân trọng . TRân trọng để đừng bội bạc thêm với nó , dù bất cứ vì lý do gì !

    Saturday August 30, 2008 - 06:18pm (ICT) Remove Comment

    * gió h…
    * Offline IM

    Câu chuyện làm em nhớ lại những đau thương hồi chiến tranh chị Hà ạ . Ngày ấy em còn quá trẻ nhưng đủ để biết , để thấy những khốc liệt của chiến tranh , đủ để có những lần xót con mắt đỏ thương một người thân , một người bạn đi xa ... Tuổi trẻ chúng mình ngày ấy sao buồn ghê chị nhỉ ? Tự nhiên giống như nhỏ M em cũng trân trọng vô cùng cuộc sống hôm nay .

    Saturday August 30, 2008 - 08:33pm (ICT) Remove Comment

    * Thu N…
    * Offline

    Đọc lại, thấy sao quá nặng nề cho thân phận con người trong chiến tranh. Kí ức về chiến tranh tưởng như trôi xa bỗng chốc ùa về đến ngạt thở.
    Nhưng đọc để thấy thương yêu những người còn lại hơn, Hà ạ!

    Saturday August 30, 2008 - 10:48pm (ICT) Remove Comment

    * Chou
    * Offline

    Chị Hà còn giữ tờ tạp chí có đăng truyện này của Anh ko? Nếu còn thì quý lắm chị à.
    Cái không khí chiến tranh, buồn u ám và ko lối thoát bàng bạc trong những truyện ngắn thời đó của nhà văn Thế Vũ, những ng sau này như em đọc nhờ đó có thể cảm nhận được 1 thời kỳ của đất nước!

    Tuesday September 2, 2008 - 03:16am (PDT) Remove Comment

    * NgocY…
    * Offline IM

    Em thích truyện "Nhatrang tốc hành" lắm ,khi nào chị post lên đọc nhé .

    Friday September 5, 2008 - 02:14am (PDT) Remove Comment

    * NgocY…
    * Offline IM

    Quên , "tốc hành miền trung chứ" , có trong danh mục , thấy rồi , em thích nhất truyện này chị ạ.

    Friday September 5, 2008 - 02:18am (PDT) Remove Comment

    Trả lờiXóa