Thứ Năm, 29 tháng 5, 2008

Mù tăm

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Gã ngồi như một pho tượng trước hiên một căn nhà gạch cũ kỹ. Cơn mưa làm mờ con đường đất lát sỏi mỏng trước mặt, bên kia đường là vịnh biển cạn nhấp nhô những hòn cuội nhỏ lớn. Gã ngồi một mình, buồn bã nhìn cơn mưa mù trời, buổi chiều như một nỗi quyến rũ kỳ lạ đối với gã, gió reo rào rạt từ mặt biển vào đong đưa những tàn lá dừa rũ nước trên bãi cát. Xa hơn nữa trong tầm mắt nhìn, cây cầu dài bắc qua vịnh nước cạn, nối từ con đường phía bên này và khu chài lưới nhà cửa đông đúc xô lấn nhau phía bên kia. Ngoài chân trời mịt mù mây xám, che mất những đỉnh núi tím thẫm mọc lên từ mặt biển xanh rợn như những buổi chiều có nắng rực rỡ. Mùa hè, cơn giông bao trùm lấy toàn thể cái quang cảnh bình lặng thường ngày, phủ lên đó một dáng dấp tiêu điều, những ngọn dừa lá đã vàng, nước trong vịnh đã cạn đi phơi trần một lớp bùn nhớp nhúa những lúc thủy triều rút xuống, những căn nhà đóng kín cửa chắn những cơn gió mạnh quất nước mưa vào. Sau lưng người đàn ông, cửa cũng được đóng kín, tuy nhiên khoảng hiên gã ngồi khá rộng, bức tường vôi đã xám mốc loang lổ những vết nứt vỡ. Bao thuốc lá xanh nằm giữa hai đùi, khói thuốc từ miệng mũi bay ra, lộng trong gió rồi tan mất, gã thong thả vất từng mẩu thuốc hút dở, thong thả đốt những điếu khác. Con đường vắng tanh không một bóng người, chỉ có một vài chiếc xe lam thỉnh thoảng phun khói chạy lẻ loi trên chiếc cầu gỗ bên kia.

Buổi chiều, chuyến xe chở nhân công đầu tiên từ quận trở về lừ đừ chạy qua cầu về phía khu chài lưới, tiếng động những thanh gỗ gõ lên nhau nghe đều đặn, kéo dài mệt mỏi. Ngày tháng, ngày tháng trong đời một người đàn ông trẻ tuổi, ngày tháng trong đời ta có phải chỉ còn là những buổi chiều ê chề ngồi trên một chiếc ghế cũ bắc trước hiên một căn nhà tàn tạ, căn nhà vốn dĩ không phải là quê hương ta, đốt thuốc lá một mình để nhìn lại quang cảnh tàn phai quanh đây, để hồi tưởng quá khứ. Ngày tháng trong đời ta có phải là những sợi râu mọc buồn bã trên cằm, những sợi tóc đã úa, có phải là một đời sống đã hết sinh khí, lặng lẽ đếm những chuyến xe qua con đường trước mặt ta kia, ngồi nhìn cơn giông chiều nay, hay tự mình vỗ tay cười trên đường làng vắng tanh những đêm khuya. Ngày tháng, hình như với gã điều đó thật sự chẳng còn một ý nghĩa nào nữa, ngày qua và mai kia có gì khác hôm nay, chiều nay. Cơn mưa bắt đầu dịu lại, những sợi nước nhỏ bay mù trong cơn gió xoáy mạnh; buổi chiều trên vịnh biển nhòa nhạt như một buổi sáng mùa đông xưa trên cao nguyên, khí lạnh, sự ủ ê lười biếng, những buổi sáng trong những lần chăn trên người ở hậu cứ một đơn vị, những đêm rét căm trong rừng âm u, người đàn ông vừa nghe như mình lại vừa mới ngã xuống một lần nữa, cơn đau nhói tim cuốn lấy gã tàn bạo, gã tưởng như mình vừa mới đánh rơi, một lần nữa, trái núi cao chắn đằng trước mặt, sương mù dày trời sớm mai chợt tan đi, toàn thân gã hực lửa, mồ hôi toát ra trên mặt mày, trên da thịt, những ngón tay gã trơn tuột, rã rời và đời sống từ phút đó, buồn bã rũ cánh từ biệt gã. Gã đã lịm đi trong trạng thái đó, lúc thức dậy gã nghe nồng nặc một mùi vị kỳ lạ không phải là mùi đất đỏ ngai ngái dưới lớp lá mục, cũng không phải là mùi mồ hôi của bộ đồ trận nhiều ngày chưa được thay. Gã khổ sở nhìn lên trần nhà, đôi mắt nhòe nhoẹt, ở đó gã chỉ thấy một khối không gian màu trắng có những ngôi sao, những đốm tròn màu đỏ màu đen trôi chờn vờn, nhảy múa, gã đã muốn khóc nhưng chưa kịp khóc thì đã rơi vào một cơn mê man khác.

Lúc thức dậy lần nữa, gã thấy như mình nhẹ tênh, hình như có một cái gì đó đã không còn nữa, trí óc gã đờ đẫn, những dáng người lui tới làm gã chóng mặt. Một tuần lễ sau đó gã được một người đàn bà bế đặt trên một chiếc xe đẩy đi ra hàng hiên, nhìn màu nắng dịu dàng của buổi mai tuôn xuống những phiến lá xanh ngoài sân, nhìn bóng nắng trôi trên nền xi măng bóng và những cụm hoa trên những cây phượng già nở đỏ rực rỡ. Những ngày sau đó gã vẫn được bế lên xe đẩy ra hiên, có lúc vào buổi trưa, có lúc vào buổi chiều, gã được ngồi khoảng một giờ trong chiếc xe thảm thương đó, nhìn qua nắng, nhìn qua mưa, khu bệnh viện có những khóm hoa sứ nở trắng, những cây phượng già bắt đầu trơ trụi dưới những cơn mưa mùa mỗi ngày một thường xuyên hơn. Nhiều lần một gã lao công Thượng đẩy gã đi qua nhiều nơi khác những lần trước thay vì người đàn bà. Lâu dần gã quen đi cái không khí thảm thiết ở bệnh viện, những người nằm gần bên, những người y tá, những lão lao công Thượng, những chiếc áo choàng trắng, gã cũng bắt đầu được cấp cho một chiếc nạng gỗ, lão người Thượng mặc áo xanh tập gã bước đi với chiếc nạng đó đi vòng ra hiên, đi lên phòng quang tuyến, phòng ăn, phòng giấy, nhà cầu, đi xa hơn ra những xe quà bán đêm ngoài rào nhà thương, đi dạo tình cờ qua những dãy khác, những trại lao, trại mắt mũi tai họng, nhà vĩnh biệt. Gã thực sự quen thuộc với cái không khí quanh gã, có lúc gã đã nghĩ rằng kể từ nay, đời gã lại thuộc hẳn vào một cái gì đó kỳ cục có thể gọi là đời sống bệnh viện chẳng hạn, nhưng cuối cùng, giữa lúc gã đang có thể bước những bước thật đều và thật thân mật trong khuôn viên bệnh viện, người ta gọi cho gã được về nhà. Gã cắp chiếc nạng gỗ còn mới lớp sơn lên nách, bước ra khỏi nhà thương, về bến xe ở cuối thị trấn đón xe ra đi. Ngồi trên một chuyến xe đò để tìm lại quê nhà, quả thật gã không còn biết mình vui hay buồn. Gã thấy thật chua xót khi không còn được ngồi bên bạn bè trên lá khô mục ở giữa những cánh rừng ngút ngàn như trước nữa, không phải là gã luyến tiếc gì cái đời sống dã chiến đến cùng như thế nhưng thật ra, đã đến lúc gã ý thức được rằng mình bất lực, bị ném trả về một chỗ khác một cách bất ngờ, bất ngờ hơn cả lúc gã được người ta đưa vào trại nhập ngũ cách đó bốn năm. Gã ê chề nghĩ đến những thứ như đời sống, hạnh phúc; những thứ mà đã từ lâu gã không hề nghĩ tới. Hạnh phúc, đó có phải là điều thiết yếu nhất trong đời sống ta, có phải đó là một khám phá mới lạ trong đời người đàn ông, bởi quả thật gã chưa hề, trong tuổi thơ, trong thời niên thiếu và rồi là những ngày vừa qua, hạnh phúc đã hoàn toàn vắng mặt trong đời sống. Đâu từ hồi bốn tuổi, mẹ gã chết. Gã đi học, cắp sách đến một ngôi trường làng bên được hơn một năm, thời đó gã còn nhớ, có những buổi sáng đứa nhỏ sợ hãi đứng nhìn đoàn quân trong đồn kéo đi tảo thanh, những súng ống, những cần ăng-ten cao lêu nghêu, những tên lính da trắng to lớn, những tên da đen râu ria, gã còn nhớ rõ chúng vẫn thường đi qua làng; bi bô những lời nói lạ tai, những ngày đó đứa nhỏ nghỉ học, ở nhà cuốn lấy chân người cha; những ngày sau đó đứa nhỏ có lúc theo chị đến ngoài vòng rào kẽm gai đồn quân đứng bán từng chiếc bánh nếp cho lính bản xứ, những đêm nằm dưới gầm ván nghe súng liên thanh nổ giòn giã, trọng pháo nổ ầm ì yểm trợ cho một trận đánh nào đó gần xa, cuối cùng người cha một ngày chết ngoài ruộng lúa, đồn quân bỏ trống sau một đêm súng nổ vang rền, buổi sáng thức dậy, đứa nhỏ như cảm thấy có một thứ bầu trời mới ở bên ngoài phên cửa nghèo khó. Bọn lính da trắng da đen rút đi, đứa nhỏ cũng nghỉ học vì trường thôi dạy, xác người cha chôn ở một khu nghĩa địa công cộng của xã, đứa nhỏ chỉ còn lại người chị duy nhất, hai chị em ôm lấy nhau sống qua những ngày bơ vơ đó, hơn một năm sau, người chị cũng bỏ đứa nhỏ đi lấy chồng. Tám tuổi, đứa nhỏ bị bỏ quên lại bên một mái nhà tranh dột nát, khu vườn cây trái đã cằn khô, bộ ván kê trong nhà rộng thênh thang những đêm nó co người cho đủ ấm với một chiếc chiếu cói đã sờn đã rách và bàn thờ người cha còn lại những tấm vải sô, lư hương lạnh lẽo và ngọn đèn dầu chập chờn trong những giấc ngủ lẻ loi của nó. Đứa nhỏ buồn bã rong chơi tối ngày, rồi một lần nó đến chiếc ga xép cách xa nhà khoảng một cây số, lúc đoàn xe tới, nó nghịch ngợm leo lên một toa đầy những giỏ súc vật cùng những người đàn bà nhai trầu đỏ hoét hình như cũng giống như mẹ nó ngày xưa, những người đàn ông nhà quê già khọm và khô đét như người cha trước đêm ông chết; đứa nhỏ ngồi thử trên toa xe lửa, rồi chuyến tàu hú còi, bỏ đi; nó giật mình sợ run người, ngồi lặng lẽ ứa nước mắt nhưng không khóc được thành tiếng. Chuyến xe tình cờ mang đứa nhỏ chạy qua những cây cầu sắt đen gỉ, chui qua những căn hầm tối om, chạy miết bên những dãy núi ngút mắt, những cánh rừng, chạy men theo bờ biển có sóng vỗ bạc trắng trên những ghềnh đá xám thấp, ghé lại những chiếc ga xép xa lạ, vắng tanh và buồn bã. Chiều hôm đó, đứa nhỏ bị chuyến tàu bỏ lại trong sân nhà ga thị trấn, nó ngơ ngác ứa nước mắt định tâm tìm một đoàn tàu khác về nhà. Tám tuổi, đứa nhỏ nhìn những toa tàu nằm trong sân, những chiếc đầu tàu đen đủi nhả khói, mê mải ngắm nhìn những người đàn ông cầm cờ phất phới ở cuối khuôn viên nhà ga, những con chim bay chập chờn trên trụ dây điện, nóc nhà thờ cao trên đồi đằng kia; đời sống tưởng chừng như đã khác, thật ra có những giây phút đứa nhỏ quên hết, sống với những hoạt cảnh chung quanh, quên mình còn có một nơi phải trở về, dù sao. Sẩm tối, đứa nhỏ lê thân qua bức tường nhà ga, đi thẫn thờ trong sân trước sân sau của một nhà ga quạnh hiu, đêm rúc đầu dưới một gốc me bên kia khu hỏa xa chờ sáng, đứa nhỏ tủi thân, ứa nước mắt nhưng không dám khóc lớn. Sáng sớm hôm sau, đứa nhỏ thức dậy lúc còi tàu hú vang, nó tìm lại chuyến tàu ngày hôm qua nhưng không còn thấy nữa. Suốt ngày, một ngày xa xưa nào đó trong quá khứ mù mịt của người đàn ông, đứa nhỏ là gã đã đi lang thang ra phố xá, ra bãi biển, ngủ một giấc dưới gốc một cây dương liễu sau khi nhìn một cách thèm thuồng những ổ bánh mì của bữa ăn trưa của đám trẻ con bán hàng rong trên bãi. Buổi chiều, nó được bọn kia bố thí cho một đoạn bánh mì, buổi tối nó lại nằm ngủ dưới một gốc thông xén phẳng đầu trên bãi cát, sáng dậy ngồi khóc một mình trên ghế đá. Một người đàn bà đến hỏi han rồi giúi vào tay nó những đồng bạc giấy thật mới trước khi bỏ đi. Những ngày sau đó cũng có một đôi lần đứa nhỏ trở lại nhà ga, định tâm tìm chuyến tàu cũ về quê, nhưng nhà ga thị trấn quá rộng lớn, những chuyến tàu hú còi triền miên, toa tàu nào cũng giống nhau làm nó ngại ngùng và nó cũng không đủ can đảm liều mình leo lên bất cứ một chuyến tàu nào và hy vọng chuyến tàu đó sẽ mang trả nó về lại quê nhà. Sau đó, nó bắt đầu sống những ngày buồn thảm, quen dần với những sinh hoạt dồn dập của một thị trấn, quen với nếp sống bấp bênh mới; những ngày đầu, hằng đêm nó tấm tức khóc trên một sạp hàng trong chợ, tấm tức khóc trên một chiếc ghế đá lạnh lẽo ngoài công viên, tấm tức khóc dưới những cây me cây phượng già nua trên các đường phố. Hằng ngày, đứa nhỏ đưa tay xin tiền lẻ từng người đàn bà từ chợ về, những lão Tàu già bán bánh mì nơi bến xe, trên các ngã tư ngã năm, tủi nhục nhai từng đoạn bánh mì mà bọn trẻ con đánh giày, bán báo, bán hàng rong thương tình cho. Lâu dần, đứa nhỏ quen đi, quên dần quá khứ, quê nhà, niềm tủi thân, những giọt nước mắt của một thứ tuổi thơ đã cạn; đứa nhỏ nhập vào một bọn đánh giày, hàng ngày quỳ mọp người xuống nền đất lau chuốt cho bóng loáng những đôi giày của đám đàn ông ngồi bắt tréo chân trong các tiệm ăn, tiệm nước, trong nhà đợi của hãng hàng không; đứa nhỏ tưởng chừng như một ngày không còn xa, nó sẽ trở thành một tên thợ lành nghề, trở thành một đứa bé tự do và sung sướng, có thể mua những điếu thuốc lá lẻ ngồi phà khói trước cửa hiệu ăn như cái thế giới trẻ con mà nó vừa nhập bọn, và một ngày kia, nếu muốn, nó có thể leo lên một chuyến tàu hỏa nào đó để đi đến bất cứ một nơi nào khác mà không còn lo sợ gì nữa.

Tuổi thơ của gã đó. Sau này lúc đã lớn nhiều lần gã ngồi nhìn lại cái tuổi thơ của mình, một tuổi thơ buồn bã như một thứ định mệnh. Khi gã đã lớn, đã có thể suy nghĩ về mình, cuộc sống, quá khứ, những thứ liên hệ với một cá nhân, lúc gã bị ném vào những bi đát cùng cực, gã bắt đầu biết và chịu đựng như một thứ tội nhân chịu đựng hình phạt đối với mình. Ban đầu gã không thể hiểu được tại sao cái thứ hình phạt đó lại có trong đời mình, nhưng càng về sau gã hiểu ra rằng không phải là cứ vô tội thì khỏi phải chịu hình phạt. Người cha, hình như đó là một người đàn ông hoàn toàn quê mùa, thất học, sống lầm than suốt đời, một viên đạn xuyên vào đầu chết đi ngoài đồng ruộng một đêm xưa nào đó cũng đã là chịu đựng một hình phạt không dưng mà có. Người mẹ, người mà gã không còn nhớ một chút gì nữa từ vóc dáng lời nói, hành động (những người quen thân sau này cũng có lúc phác họa cho gã nhớ đó là một người đàn bà tầm thường, rất tầm thường) là người đàn bà tật nguyền và bất hạnh từ nhỏ. Gã không có một người anh trai nào, người chị duy nhất còn sống ở đâu đó bây giờ, cũng đã từng sống qua một tuổi thơ buồn bã, vô tình, nhọc nhằn như người mẹ và người cha, cũng đã sống qua một tuổi dậy thì chán nản, âm thầm, bất hạnh như người mẹ và sau này, lúc đã bắt đầu biết suy nghĩ, gã thấy việc người chị bỏ đi lấy chồng lúc gã chưa lên mười tuổi là có lý. Không thể bắt một con chim đứng sau cửa sổ nhìn ra ngoài trời xanh mà không thèm khát tự do, bỏ đi, tìm một đời sống khác biết đâu chẳng hạnh phúc hơn. Gã ít khi tự hỏi tại sao bố mẹ, người chị và gã nữa đều phải sống trong sự nhục nhằn như vậy. Chỉ có những lúc buồn bã, gã mơ ước tới một mái gia đình đầm ấm như bao nhiêu đứa trẻ khác, chỉ có những lúc cúi xuống nhìn lại mình bằng đôi mắt ngây thơ của tuổi mười hai, mười lăm, gã biết mình không còn gì cả, không có gì cả, và hình như không lệ thuộc gì vào đời sống chung quanh. Lần được cảnh sát đem vào nhà thương tỉnh sau một trận đánh nhau với những đứa trẻ khác, mặt mày sưng vù, tay chân rớm máu, đứa nhỏ là gã ngày xưa đã tủi hổ nhìn xuống cái thân thể đen đúa và ốm yếu của mình mà bật khóc. Mười lăm ngày trong nhà thương, người ta dọa nói sẽ mang nó vào viện tế bần, nó đã thầm nghĩ và tưởng tượng ra nơi đó là một thứ thế giới đầm ấm hơn, đó có thể thay thế cho mái nhà mà nó đã đánh mất, đó phải là nơi mà lý ra, tuổi nó phải được đón nhận nhiệt thành. Đứa nhỏ giữ mãi cái thiện cảm này cho đến ngày lớn lên, lúc nào có những bè bạn thật sự và những điếu thuốc lá thoải mái bay khói trên môi, bởi vì nó vẫn không biết gì về nhà tế bần cả. Người ta không đưa nó vào đó như chính nó đã nghe nói và ao ước. Một người đàn ông đã mang nó ra khỏi nhà thương, đem nó ra bến xe, tìm hai chỗ ngồi trên một chuyến xe đò cũ kỹ, chạy qua những cây cầu sơn trắng ra ngoại ô, về một khu xóm xa. Nó rời tỉnh lỵ với người đàn ông đó, hai năm sau ngày tình cờ ngồi bên đống súc vật trên một chuyến xe lửa đen thui, tồi tàn, một trong những chuyến xe vừa chạy vào những ngày sau đình chiến.

Bây giờ gã đang ngồi nơi căn nhà mà mười mấy năm trước đây, người đàn ông kia đã mang gã tới. Gã đang ngồi trước hiên căn nhà đó nhìn ra trời mưa mù đằng trước mặt, vịnh biển, cây cầu gỗ, con đường, xóm chài, vườn dừa xanh hình như đã già, mười ba năm trước đứa nhỏ tới, vườn dừa mới trồng, bãi cát còn vàng nhẵn chạy dài tới ngôi nhà lầu cổ trên ngọn đồi lẻ loi, khu chài lưới bây giờ đã cũ hơn, xám mốc và tiêu điều hơn, cây cầu gỗ vẫn bắc qua con nước đó, nhưng ngày xưa cây cầu còn hấp dẫn tuổi thơ gã, nay thì đã hết. Cũng có nhiều lần từ ngày trở về lại đây, gã muốn đi qua cây cầu, đến xóm chài bên kia như ngày nào, nhưng thật tình gã không còn đủ can đảm gõ chiếc nạng gỗ lên suốt chiều dài của nó. Buổi chiều như đang đông cứng lại trong mắt nhìn của người đàn ông, một nụ cười lặng lẽ trên môi khi gã nghĩ đến cái chỗ ngồi của gã bây giờ, năm năm sau ngày ra đi. Mười tuổi, người ta mang đứa nhỏ là gã đến đây. Hai mươi tuổi người ta gọi gã lên đường, cầm súng. Hai mươi bốn tuổi, gã được tống khứ ngược trở về với chiếc nạng gỗ. Vịnh biển vẫn như thế, người ta đắp thêm ở hai bên đầu cầu những chiếc lô cốt, xóm chài lưới vẫn còn đó nhưng bao nhiêu chiếc ghe câu ngày xưa giờ đã nứt nẻ trên bến cạn khô, những tấm lưới đã mục nát, trên những bức tường đã in hằn dấu đạn xung phong và phản công, con đường đất vẫn còn đó nhưng xác những chiếc xe lam từ quận lỵ về đây đã lật nhào xuống ruộng sau khi nổ tan tành. Gã ghi nhận được từng đó biến đổi từ ngày trở về, bất lực ngồi thở khói và đưa mắt nhìn những ngày qua. Gã cũng còn biết thêm được một điều nữa, đó là đám ngư phủ già trẻ ngày xưa, nay hoặc đã chết, hoặc đã ra đi, hoặc đang là những công nhân cho những cơ sở ngoại quốc trú đóng trên đèo nửa đường về quận lỵ.

Thời mà gã được người đàn ông kia mang về đây mười mấy năm trước, ban đầu gã cũng đã được cắp sách lại đến trường nhưng đứa nhỏ ngày đó học quá tệ, sau người đàn ông cho nghỉ học đúng như ý muốn ngây thơ của nó, cho nó đi đan lưới cho đám dân chài, sau cho nó theo các ghe câu ra biển một thời gian. Cuối cùng nó được người đàn ông cho làm phụ việc trên chiếc xe hàng của ông ta hàng ngày chạy hai chuyến từ khu phố cũ về quận lỵ, cũng có khi phải lên đổ hàng mãi trên tỉnh lỵ hay sang một vài quận lỵ ven đó. Lúc này đứa nhỏ đã lớn, thấy như đó là sự tự do, mặc dù cái tự do đó đứa nhỏ đã mua lấy một cách khá cay đắng. Trong suốt thời gian đó cũng có nhiều khi sau một ngày làm việc nặng nhọc, mệt mỏi, sau mỗi lần cay đắng học lấy một chút kinh nghiệm, một chút khôn ngoan trong đời sống, gã cũng đã quay quắt nhớ đến quê cũ, mảnh vườn của người cha để lại khô nẻ đất, mái nhà tranh dột nát, cũng có lúc gã đã quay quắt nhớ tới hình bóng của người cha đã qua đời một cách âm thầm nhưng tức tưởi, nhớ tới người chị đã bỏ đi, đang sống nơi nào đó ngoài trí tưởng của gã, người chị với những kỷ niệm khốn khó bên cạnh gã một thời thơ ấu và lúc lớn lên dường như không hề tìm thấy một niềm vui nào, không hề có lấy một manh áo thơm mùi vải mới cho mỗi ngày xuân, người chị bên cạnh gã và người cha gầy yếu bệnh hoạn đã không thể nào tạo ra được một chút không khí đầm ấm, hạnh phúc dưới mái nhà tranh buồn bã ở nơi quê cũ. Gã đã ứa nước mắt, nhiều lần gã đã giấu mặt khóc tức tưởi một mình trong căn nhà dù sao vẫn xa lạ kia, niềm bơ vơ dựng dậy trong gã sự thiết tha của những người thân yêu dấu, niềm ân cần của bàn tay một người mẹ, sự bao dung của một người cha, những người anh em ruột thịt. Lý ra, ta phải có một thời thơ ấu khác hơn, có phải không?

Cơn mưa mù ngoài trời đã dứt. Chiều tà trên vịnh biển. Người đàn ông khẽ trở mình trên ghế đổi thế ngồi, cánh cửa sau lưng gã vẫn đóng. Lúc nữa đây, khi bóng tối phủ xuống quang cảnh này, dĩ nhiên gã sẽ đứng dậy, như chiều hôm qua, như mọi ngày, tì tay lên nạng gỗ bước vào phòng, bật diêm đốt sáng ngọn đèn dầu, vẫn căn nhà vắng lặng toát ra một thứ không khí u mê và lạnh lẽo. Đã nhiều lần gã thấy ghê sợ căn nhà rộng thênh như một ngôi biệt thự cổ nằm xa cách hẳn những căn nhà nghèo khó khác quanh đây, đêm đến con đường đằng trước không một bóng người, khu xóm im lìm khủng khiếp, âm vang khu xóm những đêm khuya là một con chó sủa trăng nghe rợn người, đạn trọng pháo nổ ở xóm bên kia, đạn liên thanh đe dọa một góc xóm. Từ ngày trở về với một chân còn lại, đã có lúc gã thấy mình vô lý khi trở về nơi này, nhiều lần gã có ý định ra đi, có thể là về tỉnh lỵ hay một thị trấn nào đó sống lây lất cho qua ngày, rời xa nơi đã chôn vùi quá khứ gã, dù đó là một thứ quá khứ thảm thương và cần quên. Nhưng gã không đi được. Có một cái gì vô hình níu giữ gã lại, hoặc là gã cũng biết được rằng gã sẽ không còn có thể tìm thấy cho mình một chỗ đứng nào nơi những thị tứ ồn ào và vội vàng, thật khó mà tưởng tượng ra được rằng gã có thể tìm thấy một xó chợ, một bến xe, dưới những gầm cầu, bên những lề đường để dung túng cái thân xác tàn tạ của mình, cuối cùng gã vẫn còn ở lại căn nhà cũ, với những lớp quá khứ mỏi mệt và bên cạnh hai người đàn bà. Năm năm sau ngày ra đi, gã trở về với một chân còn lại, những chiếc áo trận cũ bạc màu sờn vai rách gối và một chiếc nạng gỗ còn mới lớp sơn, gã đã buồn bã ngồi sờ mó những sợi râu mỗi ngày một dài thêm trên cằm những buổi sáng thức dậy, những buổi chiều mưa, những đêm phiền muộn. Cuộc sống êm đềm của mỗi gia đình chỉ có với những ai khác, gã thì không hề. Hạnh phúc, điều đó có phải chỉ là nỗi đau xót cho những kẻ như gã hay không?

Ngày nay căn nhà chỉ còn lại có hai người đàn bà. Người đàn ông mười mấy năm trước đã mang gã từ nhà thương tỉnh lỵ về đây đã chết trong một tai nạn nào đó với chiếc xe đò banh xác trên con đường đất từ quận lỵ về, sau ngày gã ra đi. Hồi tưởng lại thời trước, căn nhà còn yên vui, ồn ào với bạn bè của người đàn ông, những đêm thức suốt sáng với những canh bạc đông người, với những người con trai con gái của người đàn ông. Anh Sâm, chị Sâm, Thuận, Cát, Sương và Hải, những náo nức của một thời bình yên, của một gia đình giàu có, với những người con lớn lên, bước vào đời sống bằng những tự tin lớn lao, công thành danh toại đã tưởng như chắc trong tay nắm. Căn nhà thời đó đêm đêm đèn sáng choang, khu chài lưới bên kia vẫn thường xuyên thức giấc những ba bốn giờ sáng, bãi ghe câu, những chuyến xe giòn giã nổ máy lúc bốn năm giờ sáng đem cá tươi về quận lỵ, cây cầu dậy lên tiếng gỗ gõ lên nhau dưới những vòng bánh xe lúc hừng sáng. Bây giờ thì những sinh hoạt thời đó đã không còn nữa. Anh Sâm lên đường trước tôi hai năm, sau đó là Thuận. Ngày tôi ra đi, bốn năm năm trước, căn nhà đã thôi không còn những ngày vui sum họp như xưa, nhưng chưa đến độ tàn tạ như bây giờ. Ngày trở về tôi ngồi rưng nước mắt nghe người đàn bà kể lại anh Sâm bị thương mãi tận dưới miền Hậu Giang, chị Sâm tìm đi thăm, chuyến bay một ngày mù sương mang chị đi thăm chồng đã đâm đầu vào một ngọn núi nào đó mất tích, mang theo cả tiếng cười vui của bé Na bốn tuổi. Lành bệnh, anh Sâm trở về quê nhà như một gã thất tình, dắt Sương đi long rong trên con đường sỏi trước nhà những buổi tối gió lớn, rồi anh lại đi. Thuận chết sau đó trong trận đánh trên cao nguyên. Cát lấy chồng mấy tháng trước khi người cha lại chết một cách thảm thiết trong tai nạn, không còn thấy trở về nhà lần nào nữa. Và cuối cùng Hải cũng đi. Một mình Sương lớn lên, gầy nhom, tóc phủ xuống lưng, mắt sâu thu mình ở lại trong căn nhà, những hình ảnh yêu dấu tàn phai theo và một người mẹ già nua, đó là một người đàn bà tóc xõa trắng, suốt ngày trong phòng một mình, thôi vui thôi cười, ở bà người ta có thể nghĩ đến một cái chết chậm chạp, chậm chạp đến mức độ tàn bạo. Cái thế giới lạnh lẽo của căn nhà này như phủ trùm lên cả một khu cửa biển sầm uất ngày nào. Dãy phố cũ, với những cột điện lâu đời, nhà máy bỏ hoang đâu như nhiều hơn tuổi của Sương, người ta chỉ còn thấy nó chuyển động nặng nề một lúc vào buổi sáng và buổi chiều, lúc mấy chuyến xe chở nhân công đi và về từ nơi này đến khu quân sự ngoại quốc và ngược lại. Đêm khuya, súng nổ vu vơ trên cầu, ngoài ven làng, trên con rạch nhỏ dẫn ra biển lớn, đạn trọng pháo nổ ầm trên sườn núi phía Nam, phía Bắc.

Những đêm trời không mưa, người đàn ông thường mang bao thuốc lá ra hiên ngồi lại trên chiếc ghế bố buổi chiều, buồn bã nhả khói, nhìn lên những vì sao, những tàu lá dừa đẫm ướt lóng lánh, mặt vịnh nước lao xao cho đến khuya gã thấy đã thấm lạnh. Trở vào nhà, ngồi trên chiếc đi-văng cũ kỹ kê ở phòng ngoài, buồn bã lục lại cái xách tay, tìm một vài món đồ cũ mà gã đã cất giữ được từ hồi còn ở đơn vị, lục tìm như sờ mó lại một thứ quá khứ xa lắc bỗng dưng cầm nắm được trong tay. Có lúc gã thấy muốn dắt Sương đi loanh quanh trước sân nhà, nói với nàng một điều gì đó, như một kỷ niệm hay một ước mơ chẳng hạn, hay có thể gã sẽ cố gắng chống nạng gỗ trên con đường sỏi trước nhà, đi về phía căn nhà lầu bỏ hoang trên ngọn đồi nhỏ, chậm rãi đi bên cạnh nàng, nói cho nàng nghe về người chị của gã, về căn nhà xưa, về những ngày cầm súng ngoài mặt trận hoặc đưa nàng ra ngồi trên cây cầu gỗ, nhìn thủy triều lên xuống táp bì bõm dưới chân, con đường những đêm sáng trăng, khu phố lấp lánh dưới trời đêm, dịu mướt, cũng có lúc gã muốn nói với nàng về những điều gã đã nghĩ đến từ lâu, thỉnh thoảng lặp lại một cách nhức nhối trong đầu, chẳng hạn như một mơ tưởng về hạnh phúc, về ấm no, về tình yêu, những thứ mà gã chưa hề tìm thấy. Cũng có khi, trong lúc nắm cái xách cũ trong tay, gã đã muốn âm thầm bỏ đi, đi tìm lại quê nhà của mình, tìm lại người chị xem đang sống ra sao ở một nơi nào đó, hay ít ra cũng có thể bỏ đi đến một nơi nào khác, miễn là bỗng dưng gã thấy mình ở một nơi nào khác dứt khoát được cái quá khứ mệt mỏi mười mấy năm qua...

Pleiku cuối 1970

(Tạp chí Ý Thức 12/1971)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét