Thứ Năm, 3 tháng 1, 2008

Mùa xuân phương Nam

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Chưa bao giờ họa sĩ Hoàng Vinh vui như tối nay, trong bữa tiệc rượu chiêu đãi bạn bè nhân khai mạc phòng triển lãm tranh sơn dầu mang chủ đề: “Mùa xuân phương Nam” của anh. Sau giờ mở cửa, gần một nửa trong số ba mươi bức tranh trưng bày đã có người mua, trong đó có nhiều bức tranh anh đề giá rất cao. Vậy là anh sẽ có được một khoản tiền lớn vượt xa mọi dự kiến của anh và Dã Lan, người bảo trợ phòng triển lãm; vượt xa mọi ước mơ của anh từ lâu, hơn cả toàn bộ số tiền anh vất vả kiếm được suốt bốn chục năm có mặt trên đời. Các nhà phê bình tranh, công chúng sành hội họa và bạn bè trong giới mỹ thuật hầu như đều có chung một nhận định về các tác phẩm trưng bày của Hoàng Vinh: Sự xuất hiện lại khá muộn màng của anh sau hai mươi năm im lặng là rất thuyết phục, sức sáng tạo của anh khá sung mãn, các mảng đề tài anh khai thác mới lạ với nét cọ tài hoa độc đáo. Mảng tranh về sông nước, nắng gió, cây trái phương Nam rực rỡ ánh sáng nhưng vẫn lưu lại chút buồn vương vấn qua đôi mắt kẻ tha hương. Mảng tranh về núi non, biển cả – ví như bức tranh anh vẽ con đường vắng tênh hun hút chạy qua một vùng cát mênh mông xa ngái, hoặc bức tranh khổ rộng anh vẽ đôi bàn chân trần thô ráp của một nông dân đang băng qua mặt ruộng khô nẻ, mảng tranh ấy đọng lại nỗi buồn và lòng hoài tưởng của đứa con xa xứ. Có mấy bức tĩnh vật anh vẽ theo phong cách cổ điển Nhật Bản, đẹp một vẻ kiêu sa, đặt chung trong phòng tranh trông chúng có phần xa lạ một cách gợi cảm. Hoàng Vinh ít vẽ người, chỉ vài ba bức thiếu nữ như để điểm xuyết cho cả phòng tranh, tất cả đều khỏa thân, tất cả đều không nhìn rõ khuôn mặt, anh không vẽ toàn thân mà ở bức này là mái tóc xõa tung trên gối, kia là một bờ vai trần, ở bức nọ là vòng mông với những mảng sáng tối của một đêm hồng... mảng tranh này toát lên một vẻ đắm say đầy xa xót.

Dã Lan tổ chức tiệc rượu giản dị và sang trọng nhưng ấm áp thân tình với gần hai trăm người tham dự, sôi nổi nhộn nhịp vào ra từ phòng trưng bày đến khoảng sân nhỏ rải đá cuội dưới giàn phong lan. Hàng chục loài lan khác nhau, dễ có đến hàng trăm giò lan hồ điệp, hoàng kim điệp, hoàng phi hạc, báo hỉ, nghinh xuân, giả hạt, cẩm báo... khoe sắc đủ màu. Có mặt dự tiệc vui gồm các nghệ sĩ, các chủ gallery, nhiều cô gái xinh như mộng là khách thường xuyên của các cuộc trưng bày mỹ thuật, các nhà báo, các nhà sưu tập tranh, bạn bè của Hoàng Vinh trong và ngoài giới mỹ thuật, trong đó có nhiều người đã mười năm, hai mươi năm anh không gặp. Khách khứa, bạn bè kẻ lôi anh về phía này, người gọi anh sang phía kia, có lúc một mình, có lúc có cả Dã Lan. Máy ảnh liên tục chớp lóe, máy quay phim chạy xè xè, nhiều cô túm lấy anh xin chữ ký... Túi bụi, tất bật nhưng chưa bao giờ Hoàng Vinh có cảm giác vui sướng, được chạm tay tới sự thành đạt thực sự như lần này. Anh chạm cốc với người này nhưng chưa uống đã có người kia rót đầy hai cốc mới trao cho anh và Dã Lan. Những lời chúc tụng nồng nhiệt, những lời hỏi han đầy khích lệ... Trên khuôn mặt anh là nụ cười thường trực rất tươi, rất sáng, khác hẳn ngày thường, khác hẳn cái vẻ lầm lì khắc khổ cố hữu. Vẻ tươi sáng ấy có được còn nhờ Dã Lan đã để tâm trang điểm khuôn mặt anh khá chu đáo trước khi hai người xuất hiện trước mọi người.

Giữa chừng cuộc vui, ai đó gọi Hoàng Vinh ra ngoài. Đợi anh ngoài cửa phòng triển lãm là một nhân viên bưu chính với bức điện tín gửi từ quê nhà: “Mẹ và con chúc mừng cuộc triển lãm “Mùa xuân phương Nam” của ba. Rất mong ba về kịp đoàn tụ với mùa xuân”. Anh sững đi giây lát, một thoáng xúc động, một thoáng chơi vơi giữa cuộc vui chưa có vẻ gì sắp đến giờ kết thúc. Trong những cuộc vui như thế này, người ta có khả năng uống nhiều gấp hai mươi lần tửu lượng bình thường mà chả ai say cả. Sắc mặt, cử chỉ của Hoàng Vinh thay đổi dần khi anh quay lại giữa bạn bè. Rồi như kẻ vừa bị lôi bất ngờ ra khỏi giấc mơ, anh cười vui gượng gạo, đi lại thất thần, vẻ tươi sáng trên khuôn mặt được sửa sang cẩn thận của anh phút chốc đã thay đổi, đã trở lại cái dáng dấp lưu cữu của nỗi ưu phiền. Anh chuếnh choáng say sớm hơn dự kiến, trán vã mồ hôi, tay chân bải hoải rã rời. Cố gắng chống chọi thêm được một lúc, anh lặng lẽ kiếm một chiếc ghế, kê đầu vào tường, nhắm mắt, chùng lòng lại, gạt hết mọi tiếng động, âm thanh của cuộc vui ra khỏi ý nghĩ. Anh châm một điếu thuốc để chống lại cái lạnh của trời đêm đang thấm sâu qua đôi vai chốc chốc lại rung lên chịu đựng. Cái cảm giác cuộc vui kia là của ai khác chẳng liên quan gì đến anh, rằng anh là người ngoài cuộc bị lãng quên trong bóng tối – cảm giác ấy bất chợt tràn qua tâm tưởng.

***

Nhiều người còn nhớ tên tuổi họa sĩ trẻ Hoàng Vinh từ hai mươi năm trước. Đấy là thời anh còn là sinh viên mỹ thuật nhưng đã có tranh dự thi các cuộc triển lãm lớn, một số bức về sau còn được chọn đưa ra nước ngoài, và đã thuộc về một vài nhà sưu tập tranh nổi tiếng châu Âu. Ở cái tuổi hai mươi, tranh của anh sớm vượt qua tính chất trường lớp để trở thành những ý tưởng sáng tạo độc đáo mà lớp bạn bè cùng tuổi anh thời đó chưa đạt tới được, ngược lại lớp họa sĩ từng trải lại sớm đánh mất. Tốt nghiệp trường mỹ thuật với lời đánh giá rất cao về tài năng và triển vọng, với những thành công và danh tiếng bước đầu như vậy làm vốn liếng chào đời, Hoàng Vinh tình nguyện trở về địa phương – một tỉnh lẻ xa xôi để gây dựng sự nghiệp cho mình. Một trong nhiều lý do thôi thúc anh trở về, ấy là mối tình đầu của anh, cô gái mà anh chớm yêu từ thuở mười lăm, trao gửi nụ hôn thiêng liêng đầu đời vào năm mười tám khi anh vẽ những bức khỏa thân đầy ấn tượng.

Sau khi nhận việc ở một đơn vị trực thuộc ngành văn hóa – thông tin, anh cưới vợ và được bố trí một căn hộ mười lăm mét vuông trong khu tập thể. Mọi việc như thế là thuận lợi và tốt đẹp như mọi người hằng mong. Công việc của anh hàng ngày là kẻ vẽ, sao chép, phóng lớn những tấm pa-nô, áp phích theo yêu cầu tuyên truyền cổ động cho những cuộc lễ lạt hội hè, cho những đợt vận động thi đua ngắn hạn và dài hạn, những chỉ tiêu kế hoạch của ngành, của địa phương từng quý, từng năm... Chịu trách nhiệm kèm cặp, hướng dẫn, giám định công việc anh làm là ông Văn, một người có gần hai chục năm kinh nghiệm trong nghề, mà theo ông phương châm đạt tới thành công trong mọi trường hợp là thấu hiểu cá tính, nỗi buồn, vui của cán bộ lãnh đạo trực tiếp. Bản thân ông là một người khôn ngoan đúng lúc, ngoài ra khá cởi mở xuề xòa, hào phóng và thương yêu Hoàng Vinh như đối với cậu em giỏi giang, chăm chỉ. Biết anh vẫn dành thời gian để sáng tác, ông chỉ cười và xem đó như một trò chơi ngông cuồng của tuổi trẻ.

Hai đứa con anh lần lượt ra đời cách nhau bốn năm. Trong bốn năm ấy đã ba lần Hoàng Vinh gửi tranh tham dự triển lãm mỹ thuật hàng năm ở địa phương, đáng tiếc là không lần nào tranh của anh được tuyển chọn. Người ta lập ra một hội đồng chọn tranh gồm đủ các vị chức sắc đáng kính, còn đại diện cho giới chuyên môn về mỹ thuật là ông Văn – họa sĩ Lê Văn! Có lần sau cuộc họp xét duyệt để chọn tranh triển lãm nhân một ngày lễ lớn của địa phương, ông Văn đến tận nhà anh vào buổi tối sau khi đã uống chút đỉnh cay. Ông ta bỗ bã nói với anh: “Công bằng mà nói, tranh của chú mày vẽ đẹp và lạ mắt, nhưng vẽ để chơi thì được chứ làm sao đưa ra trưng bày cho công chúng xem! Các vị trong hội đồng duyệt tranh bảo là tranh của chú mày có nội dung lãng mạn suy đồi huyễn hoặc”. Anh hỏi lại: “Còn anh, ý kiến anh thế nào?”. Ông Văn cười hề hề: “Bố tao cũng chẳng hiểu mày vẽ cái gì, làm sao có ý kiến được? Mà dù tao có ý kiến ra sao đi nữa cũng chẳng thay đổi được số phận các bức tranh của mày!”. Anh lặng lẽ chịu đựng cái gọi là số phận đã dành sẵn cho các tác phẩm của mình như theo lời ông Văn nói. Anh tự tin, kiên trì sống và làm việc, chờ ngày đám mây số phận ấy trôi đi.

Nhưng cuộc sống không như anh tưởng. Hai đứa con anh ra đời, nhu cầu hàng ngày của gia đình tăng lên, đồng lương còm cõi của hai vợ chồng không thấm vào đâu so với giá cả ngày càng đắt đỏ, căn hộ mười lăm mét vuông mới ngày nào là tổ ấm hạnh phúc của hai vợ chồng son, nay đã trở nên chật chội đến ngột thở. Nguyên khoản tiền mẫu giáo cho đứa lớn, nhà trẻ cho đứa nhỏ đã chiếm hơn một nửa thu nhập của cả gia đình buộc anh phải dành tất cả thời gian còn lại tranh thủ được để bươn chải kiếm sống. Anh nhận vẽ thuê các biển hiệu, quảng cáo, can kẻ các tấm sơ đồ cho người ta thuyết trình tại các hội nghị, về sau nhận cả việc sơn cửa, sơn tường, sơn vật dụng cứu hỏa, kể các loại biển cấm: từ cấm đậu xe, cấm đổ rác, cấm phóng uế... nói chung là tất cả những công việc có quan hệ xa gần với những gì anh được học ở trường mỹ thuật: cầm cọ, pha sơn... Khổ nỗi anh làm những việc ấy chẳng bằng ai, vừa chậm vừa kém và hóa ra lại tốn nguyên liệu hơn bất kỳ một anh thợ tầm thường nào khác trong nghề. Chẳng thể nhớ ra từ bao giờ anh không còn để tâm vào việc sáng tác nữa. Chiếc giá vẽ đã được xếp lại cùng với mớ son cọ hư cũ khô chết nằm quên một góc dưới gậm giường. Những bức tranh cho anh hào hứng sáng tạo sau ngày tốt nghiệp, qua vài lần bị từ chối, nay ám khói xỉn màu trên tường mà ngay cả anh cũng chẳng mấy khi dừng mắt nhìn ngắm lại chúng nữa.

Cơm áo, đói nghèo cuốn anh đi theo một tốc độ chóng mặt. Nhiều lúc anh tưởng hoàn toàn kiệt sức, sắp sửa quỵ ngã, nhưng hai đứa con thơ dại của anh không cho phép anh buông xuôi. Cả ánh mắt của vợ anh nữa – nó lặng lẽ một vẻ chịu đựng nhẫn nhục, nó im lặng đầy trách móc một cách tủi hổ và bất lực. Mặc cảm hèn kém, hèn hạ ngày càng lớn thêm lên trong cuộc mưu sinh. Phải chi anh có thể lãng quên, có thể giải tỏa mặc cảm ấy, cho dù chỉ trong chốc lát bằng những cơn say? Nhưng anh chẳng tìm đâu ra thì giờ và không nỡ lấy bớt miếng ăn khốn khó của con anh để mua lấy chốc lát lãng quên nhờ men rượu.

Nhiều năm về sau, khi hoạt động mỹ thuật đã mở toang cánh cửa sáng tạo, khi mà hội đồng xét duyệt tranh triển lãm ở địa phương nhân các hội lễ, kỳ cuộc quan trọng đã bớt đi các vị chức sắc đáng kính ngày nào, lại chính họa sĩ Lê Văn là người đầu tiên nhắc nhở Hoàng Vinh quay lại con đường sáng tạo. Ấy là một đợt chuẩn bị kỹ lưỡng để tranh gửi đi triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Hoàng Vinh vay mượn được một khoản tiền mua vật liệu để vẽ, lôi từ gậm giường ra chiếc giá vẽ đã bị lãng quên hơn mười năm, và đêm đêm sau cuộc bươn chải mưu sinh, anh ráng sức thức khuya hì hục đóng khung, căng vải, pha màu, suy nghĩ... nghe thời gian tích tắc đi qua trong chiếc đồng hồ để bàn hoặc là tiếng chuông điểm giờ khuya khoắt trên đỉnh nhà thờ vọng tới. Rồi anh khẽ khàng thu xếp mọi thứ cất vào một góc nhà trong tiếng thở đều của các con, tiếng trở mình của vợ, anh đi nằm và cố chợp mắt lấy sức cho cuộc bươn chải mưu sinh ngày hôm sau... Kết thúc đợt ấy anh vẽ được hai bức tranh nhưng đến ngày cuối cùng anh không gửi chúng đi dự triển lãm nữa. Ngoài mớ ý tưởng hỗn độn hoang mang có thể đánh lừa được người xem tầm thường, cả hai bức tranh đều kém cỏi vô hồn đến nỗi làm anh xấu hổ.

Anh thử sức mình một lần nữa nhân đợt triển lãm mỹ thuật ở địa phương, nhưng vẫn không thành công. Tất cả những ý tưởng sáng tạo của anh cuối cùng không hiện lên một cách trọn vẹn trên khung vải. Gần đến ngày nộp tranh để duyệt, anh đã làm theo lời khuyên chân tình của Lê Văn: “Đừng làm ra độc đáo, hãy cứ vẽ như mọi người, từa tựa mọi người... càng khác người càng khó được người chấp nhận”. Anh đến tận nhà Lê Văn để xem tranh của ông ta, chúng giống như phần lớn các tấm pa-nô cổ động trên các ngả đường: này là một mảng đồi trơ trụi có các cô công nhân đang trồng cây dưới nắng, kia là chiếc thuyền bồng bềnh trên mặt biển xanh dợn sóng với mấy ngư dân đang thả lưới, nọ là tốp thợ giặt trên cánh đồng lúa chín vàng... Đêm ấy Hoàng Vinh ngồi trước giá vẽ, tỷ mẫn phác họa một bức tranh về tòa nhà cao tầng đang thi công: này là gạch ngói vôi vữa, kia là giàn giáo với thợ xây, này là hàng cây ven đường phối cảnh... Xong, anh tắt đèn đi nằm, nhưng cái phác thảo ấy ám ảnh anh không dứt. Cuối cùng anh biết chắc rằng dù có bỏ vào bức tranh ấy bao nhiêu công sức thì nó cũng không thể trở thành tác phẩm của anh, may mắn lắm thì nó có thể được xem như bức tranh tồi tệ nhất của Lê Văn, thế thôi! Vậy là anh trở dậy, bật đèn, dùng màu bôi xóa những gì anh vừa phác họa trên khung vải. Anh nguyền rủa mình dại dột, và quyết định không vẽ tranh cho cuộc triển lãm ấy nữa.

Dư luận ở địa phương ào lên một đợt dữ dội để tấn công Hoàng Vinh. Một số người cho rằng anh kênh kiệu, tự mãn, không hội nhập với giới hoạt động mỹ thuật trong tỉnh, người thì bảo rằng anh đã tàn lụi quá sớm, quá nhanh sau ngày tốt nghiệp trường mỹ thuật. Người tặc lưỡi tỏ vẻ thông cảm trước sự bế tắc của một tài năng, sự sụp đổ của một hiện tượng... Rồi những món nợ do anh vay mượn để mua nguyên liệu vẽ mấy đợt vừa qua chồng chất thúc bách, cuộc mưu sinh đã khó khăn, anh lại rơi vào tâm trạng chán chường và gặp hồi sức khỏe suy kiệt. Hai đứa con anh lớn lên càng có nhiều nhu cầu cơm áo, học hành... Vợ anh, người đàn bà duy nhất trong đời anh, mối tình đầu tiên và có thể là mãi mãi của anh ngày nào khô héo, đi về, vào ra căn phòng mười lăm mét vuông ấy như một cái bóng, lặng thầm và nhẫn nhục, chịu đựng và tủi hổ, trong ánh mắt nàng nhìn anh có điều gì như trách móc, như ân hận.

Và khi anh nói ra ý định phiêu lưu, vợ anh cũng chỉ lặng lẽ nghe, lặng lẽ khóc. Ngày anh xuôi tàu vào phương Nam, vợ anh gói cho anh hai bộ quần áo để mang theo nhưng không mang con ra ga đưa tiễn.

***

Hoàng Vinh ngồi trong phòng vẽ nhưng không bật đèn. Anh kê một chiếc ghế cạnh cửa sổ, nhìn xuống đường phố khuya khoắt, vắng lặng, nhuốm lạnh và đẫm sương. Thỉnh thoảng, anh rít một hơi thuốc. Tràn ngập tâm hồn anh là nỗi nhớ quay quắt về vợ con, về những năm tháng khốn khổ ngày xưa, về thị xã quê nhà buồn thương tội nghiệp ấy. Hồi mới bỏ đi, anh nhớ các con anh, nhớ thương vợ anh đến mức tưởng phải quay về. Anh đã tự dằn vặt biết bao nhiêu vì mặc cảm tội lỗi, thậm chí tàn nhẫn nữa, khi để vợ anh một mình chống đỡ với sự nghèo đói, một mình ngụp lặn với áo cơm. Anh cũng đã nói với nàng rằng không phải anh đi tới một miền đất hứa mà chỉ là một cuộc phiêu lưu, rằng hãy cứ xem như bớt được anh trong khoảng không gian chật chội mười lăm mét vuông ấy để các con có đủ hơi mà thở, để còn có chỗ mà lớn lên. Dần về sau, khi Dã Lan cưu mang anh như một người yêu nghệ thuật và như một người đàn bà, anh lao vào sáng tác và tận hưởng vị ngọt ngào yêu đương, nỗi nhớ thương quay quắt kia dần nguôi ngoai, có lúc anh đã quên đi. Còn bây giờ, sau buổi khai mạc phòng tranh và tiệc rượu tưng bừng ấy, với bức điện chúc mừng của con anh đến vừa đúng lúc, anh không hề quên chút gì.

Vinh nhớ rất rõ, rõ nhất là vẻ mặt lặng lẽ đau buồn của vợ anh. Anh hình dung ra khuôn mặt ấy và sự hoang mang buồn tủi của các con anh trong đêm giao thừa, giữa căn phòng mười lăm mét vuông ấy không có anh.

Anh đã đưa cho Dã Lan xem bức điện khi hai người vừa từ tiệc rượu về đến nhà. Đọc xong, Dã Lan im lặng trao lại cho anh, thay quần áo rồi bước vào buồng tắm. Khi trở ra, nàng nói: “Đêm nay, em ham vui nên uống hơi nhiều”. Anh chờ đợi nàng nói một điều gì liên quan tới nội dung bức điện, nhưng nàng lặng lẽ đi nằm, tắt điện. Sự im lặng của người phụ nữ sâu đến chừng nào và hứa hẹn điều gì, anh phân vân tự hỏi.

Khi anh vào giường khẽ khàng đặt lưng xuống bên cạnh Dã Lan, nàng trở mình. Anh biết nàng vẫn thức, và anh chờ nghe nàng nói. Khá lâu, nàng mới xoay nghiêng, tay dịu dàng vuốt ve khuôn mặt gầy gò của anh:

- Em đã chuẩn bị một cái Tết với anh, hóa ra bây giờ mọi chuyện đã khác – Dã Lan lặng đi giây lát – Em là đàn bà, em hiểu người phụ nữ cô đơn và bất hạnh biết bao nếu đêm giao thừa không có người đàn ông bên mình. Không thể đem so sánh nỗi đau khổ của người này với nỗi khổ của người kia, vì không có ai đau khổ ít hơn ai. Nhưng chị ấy và các con anh cần có anh để đón mùa xuân.

T.V

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét