Thứ Năm, 31 tháng 1, 2008

Đọc sách có thưởng

THẾ HẢ (Thế Vũ)

Thời hoàng kim của sách văn học đã trở lại !

Thật đấy, nhiều bộ tiểu thuyết được in với số lượng cực lớn – hàng chục vạn bản ! Số lượng ấn hành ban đầu một số tập truyện ngắn lên tới năm chục ngàn bản, sau đó còn in nối bản dài dài. Đến thơ cũng in không dưới năm ngàn bản (xin lưu ý, năm ngàn bản, không phải năm trăm đâu!) mà bán hết vèo chỉ trong một tuần thôi nhé. Đã lâu lắm rồi, từ khi xóa bỏ chế độ tem phiếu cách nay những hai chục năm, lại thấy tuần lễ đôi ba lần người ta xếp hàng rồng rắn nhưng không phải để mua thực phẩm tươi sống, đường sữa hay một thứ nhu yếu phẩm khan hiếm nào mà là một quyển sách mới. Các sếp ngành phát hành phải đích thân túc trực tại cửa nhà in, lô sách nào vừa đóng xén vô bìa xong là chuyển ngay về cửa hàng bán lẻ cho kịp phục vụ, tránh nguy cơ rơi vào tay những kẻ đầu cơ gom hàng nâng gia.

Mọi việc bắt đầu khi người ta chợt ngộ ra rằng thời buổi kinh doanh mặt hàng gì cũng kèm khuyến mãi, mua món gì khách hàng cũng hỏi có thưởng không, cớ sao văn chương cứ đứng ngoài quy luật thị trường? Vậy là bùng nổ phong trào đọc sách có thưởng. Không phải thưởng tượng trưng, động viên tinh thần là chính đâu nhé. Cái thời đến cưới vợ cũng có khuyến mãi thì giá trị giải thưởng phải rất thiết thực. Chẳng hạn như trong tập thơ Môi hồng ngọt xinh mới phát hành đầu tuần này do hiệp hội các nha sĩ tài trợ chính, hãng mỹ phẩm Nhớ Nhung Trọn Đời tài trợ phụ, câu hỏi treo thưởng là trong tập thơ có tất cả bao nhiêu nụ hôn, giải nhất là một phiếu khám chữa bệnh răng lợi có giá trị sử dụng trọn đời, 5 giải nhì mỗi giải là một bộ sưu tập các nhãn hiệu nước hoa cao cấp do hãng sản xuất, 100 giải ba mỗi giải là một thùng kem đánh răng. Còn truyện vừa Trên đỉnh hoang tàn phát hành cách nay một tuần, ai trả lời đúng câu hỏi cô gái trong truyện thay mấy bộ quần áo được nhận giải thưởng là năm chục tá đồ lót phụ nữ các kích cỡ của một hãng thời trang danh tiếng mới nổi lên trong vài năm gần đây. Không thể không nói đến việc phát hành quyển tiểu thuyết Yêu như điên hồi cuối tuần trước do hãng sản xuất bao cao su Hết Biết tài trợ, giải chính thức là một chuyến du lịch Bangkok dành cho hai người, 50 giải khuyến khích mỗi giải một lố bao cao su dư xài cho một năm, vừa phòng tránh thai vừa bảo đảm an toàn tình dục, với câu hỏi: “Cặp tình nhân trong tiểu thuyết lên giường với nhau tổng cộng bao nhiêu lần ?” Thỉnh thoảng cũng có những giải thưởng khuyến mãi giá trị lớn, như ô tô đời mới, căn hộ chung cư dành cho người có thu nhập không thấp không cao... Nói chung là hỏi gì thưởng nấy.

Tất nhiên quyền lợi của nhà tài trợ luôn được bảo đảm. Cũng như cầu thủ bóng đá cõng logo và tên nhà tài trợ chính trên lưng, các nhà tài trợ phụ chia nhau vị trí trên ngực áo, tay áo, quần đùi, vớ, khăn..., sách văn học in trang trọng tên nhà tài trợ chính và câu hỏi dự thưởng trên bìa sau, các nhà tài trợ phụ ở trang trong, riêng bìa một chỉ dành in số cào – hễ cào là trúng ! Tuy trúng số cào thường chỉ được thưởng sách của nhà xuất bản nhưng không sao, thưởng sách cũng là thưởng. Tất cả tạo nên một thời kỳ nhộn nhịp chưa từng có trong sinh hoạt văn chương.

T. H

(Báo VNCA – CLBHH)

--> Read more..

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2008

Hơi thở mùa xuân

Nhạc và lời: Dương Thụ

Trình bày: Mỹ Linh

Con chim bồ câu bé nhỏ
Bay qua vùng trời, vùng trời mùa xuân.
Tia nắng từ đâu đến ở,
Long lanh từng ô cửa, ô cửa mùa xuân..

Cho em nắm tay, nắm tay anh khi mùa xuân về.
Cho em khát khao, khát khao anh khi mùa xuân về.
Kìa mặt trời mùa xuân rưng rưng sau vai anh
Kìa biển xanh mùa xuân trào dâng dưới chân anh.
Ư..ư.. mùa xuân.

**

Nghe như dòng sông hát về
Bao nhiêu bộn bề, bộn bề mùa xuân.
Nghe như tình yêu chớm nở,
Rưng rưng từng hơi thở, hơi thở mùa xuân.

Cho em nắm tay, nắm tay anh khi mùa xuân về.
Cho em khát khao, khát khao anh khi mùa xuân về.
Kìa mặt trời mùa xuân rưng rưng sau vai anh.
Kìa biển xanh mùa xuân trào dâng dưới chân anh.
Ư..ư.. mùa xuân..

--> Read more..

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2008

Sòng phẳng với người mua sách

HÀ PHAN (Thế Vũ)

Một nhà văn trẻ, tác giả gần chục đầu sách xuất bản trong vòng mười năm qua, mới đây gặp một tình huống "khó xử ”: bản thảo tập truyện ngắn mới nhất của anh được một nhà xuất bản nhận lời sẵn sàng liên kết với tư nhân bỏ vốn ra in, tuy nhiên người cung cấp vốn yêu cầu thay đổi một phần nội dung, cụ thể là thay một vài truyện ngắn trong tập bản thảo này bằng những truyện khác đã in trong những đầu sách trước. Chuyện có vẻ chẳng có gì đáng phải băn khoăn, người chi tiền quyết định nội dung đầu tư đúng theo quy luật thị trường, thế nhưng nhà văn đáng yêu của chúng ta thì lại từ chối vì "cứ cảm thấy không đàng hoàng sòng phẳng với bạn đọc".

Sao lại không đàng hoàng sòng phẳng nhỉ? Theo anh, mỗi tập truyện ngắn không chỉ là sự gộp lại mươi, mười lăm truyện ngắn in cùng dưới một tên sách cho đủ số trang, mà là một tập hợp những tác phẩm của một giai đoạn sáng tác, ở đó tác giả hoặc thể nghiệm một phong cách viết mới, hoặc tập trung khai thác một vệt chủ đề - đề tài nhằm bộc lộ thái độ sống của chính mình hoặc phản ánh thực tiễn cuộc sống của người đương thời... Nghe rất có lý! Lần giở lại những tập truyện ngắn của các nhà văn được xuất bản những thời kỳ trước cũng thấy tập nào ra tập nấy, không có hiện tượng một truyện ngắn xuất hiện cả trong vài ba đầu sách của cùng tác giả, cuốn sau nhặt nhạnh trong các cuốn trước mỗi tập một vài truyện... như cách làm sách đã khá phổ biến vài chục năm trở lại đây.

Từ chối một cách làm sách phổ biến hiện nay, nhà văn trẻ của chúng ta mất đi một cơ hội có thêm đầu sách mới xuất bản, lại có nguy cơ bị giới làm sách "tẩy chay". Nhưng có lẽ cả giới cầm bút và giới làm sách nói chung nên nghĩ lại xem: có phải chính cái sự thiếu đàng hoàng sòng phẳng của chúng ta như nói trên đã góp phần làm mất lòng tin nơi người đọc đối với sách văn học chăng? Người bỏ tiền ra mua sách, công chúng của nền văn học đáng được tôn trọng hơn. Hà cớ gì họ phải bỏ tiền ra mua đi mua lại những cuốn sách in trùng lắp tác phẩm cũ mà họ đã có trên kệ sách gia đình ?

H.P

T2.152.04

--> Read more..

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2008

Thư về Nha Trang

THẾ VŨ

Th.,

Những ngày đầu tiên sống trong đô thị này đã khiến anh quen dần nhịp hối hả cuồng bạo của nó, điều đó dường như là một sự thay đổi lớn lao so với nếp sống thường nhật của anh ngày trước. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà anh không còn nhận ra vóc dáng buồn bã của mình như những ngày quạnh hiu trước kia. Nếp sống hối hả của đô thị dường như chỉ là cái diện ngoài của một cuộc đời đích thực tiềm ẩn phía sau, giống như sự say sưa, tính cộc cằn, sự hung tợn, ồn ào, khuôn mặt râu ria bẩn nhớp chẳng hạn chỉ là cái diện ngoài của những lính chiến hiện diện trong chiến tranh, che đậy bản chất đích thực của họ ẩn giấu bên trong. Những buổi chiều, sau khi xong việc, anh vẫn chui vào một hiệu cơm tồi tàn nằm quên trong một xó đô thị, gọi một phần cơm nghèo hèn, những bữa cơm cô độc tuyệt đối này giúp anh thấy lại mình sau một ngày làm việc quay cuồng, trong bộ quần áo còn dính đầy những vết dầu, với một lớp bụi dày quyện cùng mồ hôi trên khuôn mặt gầy gò của anh. Quán nằm xế một bến xe lam, nơi nhiều ngả đường đô thị giao nhau, cửa hiệu mở ra một trạm xăng luôn luôn nhộn nhịp. Thường anh vẫn ngồi một mình trong quán, lúc bóng tối vừa kịp sụp xuống bên ngoài dưới những bức tường cao ốc, hân hoan với phần ăn của mình sau một ngày lao động, giữa lúc quán trống trơn không một người khách thứ hai, lừ đừ mệt nhọc đưa mắt nhìn ra bên ngoài những ô lưới mắt cáo. Ở ngoài đó là những vết xăng loang bẩn trên mặt nhựa, những chuyến xe lam cũ kỹ đỗ vào bến, những tấp nập của một buổi tối mới bắt đầu trong một đô thị thừa thãi những áo xiêm chưng diện sặc sỡ.

Những bữa cơm không kéo dài lâu lắm, trên đường đi bộ trở về nhà trọ, anh có đủ thời giờ nhớ tới em và bạn bè ở xa, tuy nhiên không bao giờ anh có dịp đi thênh thang trên các con phố ở đây như ngày xưa, bởi nhiều lý do khác nhau, trong đó điều hiển nhiên nhất là đô thị không đủ sức quyến rũ anh như nơi chúng ta đã sống. Phòng trọ là một căn gác xép, màu sơn cũ kỹ, nằm gần một ngã tư dẫn về một khu phố tàu, một khu chợ hôi hám nhớp nhúa và một ngã đường không biết đưa đến đâu bởi anh chưa lần nào đi qua cả. Buổi tối ở đây, khác hẳn ngày ở thành phố chúng ta, không gây cho anh một ý niệm nào hết. Thường thường, nó chỉ là sự kéo dài vô ích của cái ngày vừa trôi qua nếu đó là những hôm anh không thể ngủ sớm được, hoặc ngược lại, nó là những giấc ngủ buồn thảm và mệt mỏi của anh. Sau đó, lúc chợt thức dậy bất cứ vào khoảng giờ giấc nào, anh thấy mình tỉnh táo một cách kỳ lạ và dễ bực mình. Đô thị đang vào mùa nóng bức, ngột ngạt, và quả thực là khó chịu đối với một người đến từ một thành phố nhỏ miền biển vốn mát rượi một cách đáng yêu ngay trong những buổi trưa hè oi nồng. Nhiều lúc dù cố gắng anh vẫn không thể ngủ được ngay. Nằm trong bóng tối của căn gác xép, lắng nghe tiếng động cơ xe cộ từ ngã tư, lắng nghe tiếng học bài thì thào của một cô bé trong căn gác bên cạnh, lắng nghe tiếng cải lương rầu rĩ phát ra từ một chiếc radio nào đó vọng đến, tất cả những âm thanh đó pha lẫn vào nhau đập vào trí óc anh gợi ra những ý tưởng nát vụn, không đầu đuôi, lềnh bềnh trong trí nhớ của anh như một nỗi ám ảnh.

Lúc giật mình trở dậy, mồ hôi nhớp nháp bò quanh cổ có thể cho anh biết buổi tối đã vào khoảng giờ nào. Ánh sáng từ một ngọn điện mắc dưới ngõ hẻm dội lờ mờ vào căn phòng có thể giúp anh tìm bao thuốc lá và chiếc hộp quẹt dễ dàng hơn. Châm lửa một điếu thuốc, ngồi dựa lưng vào thành ghế trong bóng tối mờ nghe tiếng cãi nhau trong tuồng cải lương tiếp tục vọng đến, hoặc là, vẫn những âm thanh cũ buổi chiều tối: giọng thì thào học bài bên kia cánh cửa sổ nghe rõ ràng hơn, tiếng động cơ dưới đường thưa thớt nhưng ầm ĩ hơn. Sau khi hút xong điếu thuốc, bao giờ cũng vậy, anh trở dậy mặc quần áo bước ra đường, ghé vào chỗ người đàn ông bán vé số nơi góc ngã tư để mua một bao thuốc hay một hộp diêm để có thể thức khuya mà không thấy khó chịu, đến quán tạp hóa của một người đàn bà đã già gốc từ miệt lục tỉnh để uống một ly cà phê bít tất nóng. Quán nằm lấn ra ngoài mặt đường, chiếc bàn gỗ đóng dày một lớp bụi, ly cà phê bốc hơi nhưng không mang theo một hương vị nào. Tuy nhiên, buổi tối êm ả bắt đầu dễ chịu hơn với những cơn gió khuya đầu tiên mang hơi nước từ bờ sông thổi vào lộng qua những bức tường cao ốc san sát nhau, đập vào những thanh gươm, mã tấu, súng ống, xe tăng bằng cao su treo toòng teng trước mặt. Những cơn gió đó bao giờ cũng gợi cho anh biết lúc bấy giờ đã nửa đêm hay quá một tí. Anh chỉ rời khỏi quán tạp hóa khi người đàn bà đã thu dọn xong những món vặt vãnh bên ngoài để chuẩn bị đóng cửa.

Trở về phòng, tắm rửa cho thoải mái và nhẹ nhàng, xong anh bắt đầu những giờ phút trống rỗng thật sự. Ngồi vào ghế mây, đốt liên tiếp những điếu thuốc và chờ nghe những tiếng đồng hồ gõ thanh thoát từ căn nhà bên kia con hẻm, bởi vì cho đến lúc đó hầu như những âm thanh thường hằng của đô thị không còn nữa. Tiếng cãi cọ kịch liệt và khôi hài hoặc tiếng than van não nề của tuồng cải lương đã chấm dứt, tiếng động cơ xe cộ dưới đường lâu lắm mới vọng đến, xa xôi và mơ hồ. Thành phố yên nghỉ trong sự xa hoa của những cao ốc hay khốn khổ của những vỉa hè. Thỉnh thoảng anh có thể nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng lạ thay, tiếng súng không bao giờ nhắc nhở anh nghĩ đến chiến tranh hay ít ra, nhắc nhở anh nghĩ về những ngày đã sống ngoài chiến trường mà anh đã dứt bỏ một cách quyết liệt. Từ đó, anh nghĩ rằng có thể hiểu được một cách rõ ràng vì sao những người sống trong đô thị này chưa hề trải qua một ngày ngoài mặt trận, hay ngay cả những người sống ngoài mặt trận nhưng không có đủ một sự hiểu biết cần thiết hoặc hiểu biết một cách sai nhầm đã mang lắm ảo tưởng và định kiến thiên lệch một cách quái gở về một thứ hòa bình đang được dán trên những bức tường.

Đó là những đêm anh cảm nhận nỗi buồn bã và cô độc tuyệt đối của đời sống mình. Cơn ngái ngủ đã qua, sự tỉnh táo khơi dậy nơi anh một khoảng trống vô bờ bến, ở đó anh thu mình ngồi trong ghế, nhả khói lên trần nhà, căn phòng tối thui nhưng ánh sáng từ căn phòng học của cô bé bên kia chiếu nghiêng qua cho thấy những sợi khói thuốc chao liệng trong cơn gió thổi lộng vào con hẻm nhỏ tràn vào phòng. Thuốc lá không làm nên những đời người nhưng nó có thể làm cho đời người đổi khác. Những điếu thuốc làm đầy thời gian, cũng như trước đây, khi còn quanh quẩn nơi thành phố cũ, em đã chất đầy lên sự cô độc của anh.

Trong đêm, giữa những điếu thuốc được thay nhau đốt lên một cách đều đặn, anh có thể ngửi thấy mùi tóc ngai ngái của cô bé bên kia cửa sổ, mùi hương tóc làm anh nhớ xiết bao những buổi tối đã qua của chúng ta. Mùi tóc khiến anh lắm lúc phải đứng lên, kiễng chân nhìn sang căn phòng bên kia, ở đó cô bé có khi đang ngủ gục trên bàn, có khi nhắm mắt tì má trên lưng bàn tay phải, một nửa mái tóc đổ ra bên ngoài cửa sổ, bay lao xao trong gió thốc qua, hoặc cũng có khi trang sách nằm dưới đôi mắt mở lớn. Rời bỏ cửa sổ, trở vào bật đèn rồi ngồi vào bàn, cố gắng viết cho em hoặc cho bè bạn cũ một lá thư để biết chắc rằng anh còn nhiều liên hệ đến những người khác. Sự cố gắng đánh lừa mình như vậy thường dẫn đến một kết cuộc không mấy hào hứng: những lá thư đó rất hiếm khi được gửi đi. Những hôm nghỉ việc, không đủ can đảm nằm mẹp trong phòng chờ đến bữa ăn, anh xuống phố, trôi dạt trên những vỉa hè, đôi lúc tình cờ đi ngang qua nhà bưu điện, chính nơi này nhiều lúc đã khiến anh đau buốt khi nhớ đến những người thân quen còn ở lại trong thành phố cũ.

Những buổi sáng của anh trong đô thị này thường bắt đầu một cách sớm sủa, không phải như những ngày còn ở Nha Trang. Nơi hiệu tạp hóa quen thuộc, sáng nào anh cũng giành một chỗ ngồi giữa những thợ thuyền lao động khác với một tách cà phê nhỏ. Tuy nhiên, anh chỉ thực sự tỉnh táo khi đi bộ từ hiệu tạp hóa đến chỗ làm việc, ngang qua những ngã tư ngã năm, ở đó những gã cảnh sát đứng lố nhố như những tên thất nghiệp.

Th. yêu dấu,

Nha Trang, bây giờ ở xa nhìn ngắm lại, quả đó là một thành phố tuyệt vời. Nó đã trải rộng ra dưới mắt anh ngày anh vừa lớn, nó đã thu lại bao dung anh ngày anh trở về từ chiến trường. Nó là nơi anh và bè bạn đã kết hợp, ly tán và đoàn tụ. Nó là nơi anh và bè bạn thân yêu nhau, xung đột nhau và từ biệt nhau. Trước anh một ngày, H. dắt vợ về sống ở một tỉnh lỵ phương nam. Sau anh một ngày, G. đưa vợ con đến một thành phố xa xôi phương bắc. Những người ở lại, may mắn hay bị bắt buộc, đều đang mơ tưởng đến một ngày nào đó sẽ bỏ thành phố mà đi. T. đang trôi nổi ở một nơi nào không ai còn biết đến nữa. Còn lại một A. một Q., một Tr. ở lại không biết có phải là để níu giữ những liên hệ giữa những người đã ra đi, hay họ cũng chỉ là những tàn tích cuối cùng chưa bị xóa đi hết sau những mùa hè hân hoan dắt tay nhau trên bãi cát đông người. Những căn phòng chật hẹp anh và bè bạn đã nằm sát bên nhau, đốt thuốc lá suốt sáng, ồn ào bàn cãi về những vấn đề to tát như cách mạng, đấu tranh..., giờ hẳn đã im lìm buồn rầu khép kín với một mình A. đi về thất thường và mệt mỏi. Những buổi tối khề khà bên những ly rượu ngoài bến xe liên tỉnh, bên lề đường phố chính, trên bãi biển mát rượi về khuya, giờ hẳn đã bay theo cùng H. về thị trấn phương nam, hoặc ở lại trong trí nhớ đầy ắp của Tr. và Q. Những tách cà phê nóng ấm, những ca khúc tuyệt vời giờ hẳn đã theo T. lãng đãng nơi một phố thị lẻ loi nào đó. Và anh còn tưởng như thấy được cả G. nghiêng nghiêng đứng trên một bến tàu nơi thành phố phương bắc, lặp đi lặp lại mãi như một kẻ thất chí những chữ đấu tranh, cách mạng như nỗi ám ảnh không thể nào dứt bỏ được.

Nha Trang đã bao dung các anh hơn bất cứ một nơi nào khác. Ngày từ chiến trận trở về, gặp lại bè bạn sau nhiều năm thất tán, quả thật anh như bắt được niềm vui sướng lớn lao chưa từng có trong đời. Nhưng bao giờ cũng vậy, những hôm co mình nằm buồn trên căn gác gỗ lộng gió cất đằng sau hiệu sách thân quen, anh vẫn yêu chuộng sự cô độc của mình đến nỗi G., H. và những người khác tỏ vẻ bất bình. Sự cô độc quyến rũ anh kỳ lạ; chính những lúc như thế, anh hiểu được chính mình và mỗi người quanh mình nhiều hơn. Những buổi tối trên căn gác gỗ lộng gió đó không có T., anh đã nghe tiếng khẩu cầm của bọn trẻ con vô gia cư từ một góc phố cất lên, tiếng khẩu cầm không diễn tả được một điều gì, không theo một nhịp điệu nào, nhưng những âm thanh rời rạc đó cất lên với cái lý do của nó khiến anh thấy mình gần gũi với chúng hơn. Phải nghe thứ âm thanh đó cất lên hồi hai ba giờ sáng, với tiếng nói lí nhí của chúng từ một sạp hàng đã dọn trống nơi hè phố, xen kẽ là tiếng những con chó cất giọng tru tréo từ một cao ốc tám tầng hay tiếng động cơ của những chiếc xe tuần tiễu chạy qua, anh mới hiểu được nhiều hơn về những đứa trẻ sống bên lề xã hội. Hoặc giả là những buổi chiều, sau khi từ chối bè bạn một vài ly rượu trên bãi, bên đường, trong bến xe hay một nơi khác, anh đã bắc ghế ngồi một mình trước cửa hiệu sách, dưới ánh sáng đầy ắp của những ngọn đèn ống chiếu xuống từ những cao ốc phía trước, với những cơn gió lộng thổi từ biển vào thốc tung bụi trên mặt phố, anh đã dõi mắt nhìn những người lướt qua trước mắt và hiểu, càng lúc càng rõ ràng, tại sao nhiều lúc chúng ta cần phải từ chối những cuộc vui mở ra sẵn sàng chờ đón chúng ta đến. G. và H. nhất định không chịu hiểu cho anh điều đó.

Anh, và cả bạn bè anh, mỗi người không thể nào quên ôm ấp những kỷ niệm cũ từng mỗi giây phút, trong những kỷ niệm đó, có những ngày mùa hè bọn anh nằm dài trên mặt cát nóng chờ tối, có những đêm nóng bức và trống rỗng bọn anh ngồi kề nhau trong một căn phòng trong khu hỏa xa hoặc nơi trụ sở hướng đạo, hay có khi là một căn nhà tôn cất trong khu lao động bên sông, ngoài ngoại ô buồn tẻ, thao thức chờ sáng. Đó là những ngày anh chưa bị đẩy ra chiến trường Bình Phú, A. chưa bị đưa về mặt trận Nam Ngãi, N. chưa trốn vào tu viện, L. chưa nghĩ đến một ngày mình có thể trôi dạt về Đồng Tháp. Rừng dừa trên cồn cát giữa sông thời đó có bọn anh thơ thẩn đi trong những đêm trăng sáng. Mùa hè có những chiếc xe đạp quanh quẩn trên đường quê. Những buổi sáng đạp xe qua cầu vào thành phố. Thời đó bọn anh chưa ai nghĩ đến một ngày như bấy giờ, trôi dạt về những miền sinh tử, khốn đốn với áo cơm, nhục nhằn đối phó với những sự thật ngụy trá. Sự sống, lý ra nó phải là một cánh cửa mở ra hân hoan chờ đón ngày mai, đằng này nó luôn luôn là một cánh cửa khép kín để con người cố thủ trước sự hung hãn của bạo lực.

Th. yêu dấu,

Anh chắc sẽ không quên được Nha Trang, đặc biệt là những ngày cuối ở đó, với em. Dù có lúc một trong hai chúng ta trôi dạt về những bờ bến khác của sự sống, rẽ về những con đường hoàn toàn xa cách nhau, anh nghĩ sẽ rất khó để anh quên được, dù muốn. Làm sao anh quên được những buổi tối chúng ta ngồi trên bãi cát, mùa đông và sự xúc động khiến đôi tay anh lạnh buốt, run run trên những sợi tóc mịn ướt trên vai em. Làm sao anh quên được những buổi chiều đứng đợi em tan học ngoài xế cổng trường, lâng lâng cảm giác như mình trẻ lại mười năm, sự háo hức và niềm vui sướng kỳ lạ của tuổi mười bảy mười tám đứng tựa cột đèn thành phố chờ đợi người yêu. Trên những con đường rợp lá xanh chúng ta đi về mỗi buổi chiều, anh biết mình ở một khoảng cách khá tàn bạo với tình yêu: tuổi trẻ anh không còn nữa. Nhưng cũng chính điều đó sẽ khiến anh nhớ mãi niềm tin yêu em dành cho anh, nhớ như một nỗi thất bại. Bây giờ những buổi chiều tan học về không còn anh, mùa hè cũng đang bắt đầu, nhưng anh chắc cái khoảng cách giữa chúng ta không biến đổi. Mùa đông tới chắc hẳn em sẽ ngồi những nơi chốn cũ một mình, từng đợt sóng tràn lên bờ cát thẩm, ánh trăng lấp lánh soi chiếu lên nửa khuôn mặt xõa tóc, nhưng không bao giờ còn có anh ngồi che gió tạt vào tà áo mỏng như mùa đông đã qua. Lúc đó, hãy nghĩ đến anh cô độc nằm vùi trong căn gác gỗ bạc màu sơn, nép mình dưới những cao ốc của đô thị này, già cỗi thêm một ít nữa sau một thời kỳ phấn đấu cùng áo cơm và tự do cho chính mình giữa một hoàn cảnh nghiệt ngã mà em khó có thể nghĩ ra ngày nào còn quẩn quanh ở nơi chốn cũ.

Nhưng anh còn hy vọng ở ngày trở lại. Chắc Nha Trang sẽ còn bao dung anh ngày về, dù lúc đó bè bạn đã dạt về những phương khác. Anh tưởng như ngày đó em vẫn sẽ còn ngồi nguyên vẹn như ngày nào trên bãi, trong những đêm trăng, tóc rối phủ lên má tàn phai, vẫn những đợt sóng hân hoan tràn lên bờ cát thẩm. Ngày về, đứng bên cảnh tượng yêu dấu đó, dĩ nhiên dù già cỗi đến cách nào đi nữa, anh vẫn sẽ nhìn ra những chân trời khác, mơ hồ nghĩ đến hôm nay, hôm qua để chuẩn bị du nhập vào một nơi khác, tiếp tục phấn đấu trong những hoàn cảnh nghiệt ngã khác, bởi vì, Th. yêu dấu, sự sống sẽ thu nhỏ lại từ hai tay anh khi nào anh tìm thấy sự yên bình trong miền đất ly tán đó.

T.V

Tháng 3/1972

(Trình Bầy số 40, 1972)

--> Read more..

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Khách

Thật bất ngờ, đó là Vân Hạ từ Nha Trang, ghé thăm nhà… và thắp cho anh một nén hương.

Ngạc nhiên lắm và cảm động lắm lắm…

Đã từ lâu, từ ngày anh không còn, nhà vắng khách…

Có những người…. đã bặt tăm từ vài năm nay…

Chỉ biết cảm ơn một tấm lòng…

--> Read more..

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2008

Lượm lặt 4, 5

4. MÈO NÓI TIẾNG HOA

Khi đang ngồi chơi mạt chược tại nhà cùng mấy bà bạn hàng xóm, bỗng nhiên bà Lý (70 tuổi, người Trung Quốc) nghe thấy tiếng gọi "laolao" (âm tiếng Hoa, có nghĩa là bà). Bà Lý giật bắn mình khi hiểu ra đứa cháu gái không có ở trong nhà và tiếng kêu ấy phát ra từ con mèo cưng Mimi.

Kể từ hôm đó, mèo Mimi rất hay "nói"... bằng tiếng Hoa, chẳng hạn khi nó không thấy ai trong nhà, nó sẽ kêu "meo meo" nhưng sau đó là "ren ne" (mọi người đâu hết rồi?); còn khi thấy bà ngồi chơi, nó tiến đến hỏi "gan sha ne" (bà làm gì đó?). Hàng xóm của bà Lý cho biết phát âm của Mimi rất chuẩn, chỉ có điều Mimi là mèo đực nhưng giọng của nó lại như của một bé gái. (P.An)

5. ĂN HÀU ĐỰƠC NGỌC !

Có lẽ biết chuyện này những người nghiện hải sản hoặc thường nhậu hàu sống sẽ phải chú tâm hơn đến món mình đang thưởng thức bởi biết đâu cũng lại gặp may. Chuyện đã xảy ra với ông Mike McHenry (60 tuổi, ở New Jersey, Mỹ), đang nhai thì cảm thấy “có điều bất thường” và ông kịp nhả ra một viên ngọc khi đang xuýt xoa với món hàu chấm mù tạt cực "phê".

Ban đầu ông tưởng mình nhai phải một miếng vỏ hàu nhưng khi cái "vật thể lạ" ấy nằm gọn trong lòng bàn tay thì đích xác nó là một viên ngọc to bằng hạt đậu. Tuy nhiên, Mike vẫn không may mắn bằng một người đàn ông ở Florida khi bất ngờ phát hiện một viên ngọc màu tím rất quý trong đĩa thức ăn hải sản của mình hồi 2 tuần trước đó. (P.An)

--> Read more..

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2008

Không phải chuyện chơi

THẾ VŨ

Những người hâm mộ bóng đá trên khắp thế giới vừa được thưởng thức những màn trình diễn đầy cảm xúc và bất ngờ nối tiếp bất ngờ do 16 đội tuyển bóng đá quốc gia châu Âu trình diễn trên các sân cỏ Bồ Đào Nha. Báo chí đã nói rất nhiều về giải đấu này, ở đây xin không nói nữa. Nhưng có một điều ít được nhắc tới trong những ngày tràn ngập niềm vui cùng bóng đá Euro 2004: lễ khai mạc và lễ bế mạc ngày hội bóng đá châu Âu diễn ra đầy màu sắc, rất có ý nghĩa nhưng rất đơn giản, gọn gàng và ít tốn kém. Có lẽ người Bồ Đào Nha đã tự lượng sức mình: dù nằm trong cộng đồng châu Âu nhưng Bồ Đào Nha là một nước nghèo; sau khi đã bỏ ra hơn 800 triệu euro xây mới và nâng cấp các sân vận động đạt tiêu chuẩn tổ chức một giải bóng đá lớn tầm cỡ nhưEuro 2004 và để sử dụng lâu dài, họ không thấy cần thiết phải phung phí tiền của vào những màn biểu diễn hào nhóang. Đâu phải vì đơn giản, tiết kiệm mà ngày hội bóng đá kém vui?

Chạnh nhớ vừa cách nay chưa lâu đất nước mình tổ chức ngày hội thể thao khu vực – SEA Games 22. Mặc dù ngân sách còn rất khó khăn trong việc giải quyết các nhu cầu quốc kế dân sinh nhưng Nhà nước đã cố gắng thỏa mãn các khoản dự tóan hàng ngàn tỉ đồng để chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ thi đấu. Lễ khai mạc và lễ bế mạc được dàn dựng rất rực rỡ, rất mãn nhãn, được bạn bè khen ngợi nhưng không ít người cảm thấy... xót ruột vì ban tổ chức “chơi sang” quá, cứ như thể “một lần chơi cho đáng gọi là chơi!”. Thôi thì dù có tốn kém nhưng cả nước vui là tốt rồi. Thế nhưng các công trình xây dựng phục vụ SEA Games 22 xong rồi thì cửa đóng then cài cho hư hỏng và xuống cấp, nhiều cái không thanh quyết toán được, trong khi đó các hoạt động thể dục thể thao lại không có nơi tử tế để tổ chức. Chuyện này thì hẳn không ai có thể vui được, lại càng không phải là chuyện chơi sang nữa rồi!

T.V

--> Read more..

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2008

LƯỢM LẶT

Hi hi! Chào các bạn.

Kể từ hôm nay trên trang blog này có thêm mục mới nè, mục Lượm lặt này do Phương An - con gái của chủ nhà sưu tầm (đã được đăng trên Báo Thanh Niên), nhằm mục đích giúp cho trang blog đỡ khô khan, và cười cười tí cho vui cửa vui nhà các bạn nhá!

***

1. ROBOT CŨNG BIẾT LÀM “CHUYỆN ẤY” !

Nhưng đó là chuyện của năm... 2050. David Levy - một chuyên gia nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo đã khẳng định như thế. Ông cho rằng khoảng 50 năm nữa thôi với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, robot sẽ có đầy đủ các chức năng và khả năng như con người, kể cả khả năng làm "chuyện ấy" để đáp ứng nhu cầu cho những người cô đơn. Chẳng biết đây là tin vui hay tin buồn, khi mà con người sống trong một thế giới hiện đại và phát triển lại phải nhờ đến robot để được "yêu"! (P.An)

2. SỐNG NHỜ HƠI NƯỚC

Hai tháng ròng rã bị giam trong 4 bức tường của một nhà kho, không có gì ăn, làm thế nào để sống? Vậy mà một con mèo ở Devon (Anh) đã làm được. Bị bỏ lại trong một lần theo chủ vào nhà kho, "nàng mèo" 10 tuổi tên Emmy vốn được chủ cưng chiều đã phải trải qua 60 ngày không chăn ấm nệm êm, không cả món cá yêu thích.

Cái cửa sổ kính của nhà kho mang cho nó chút ánh mặt trời hiếm hoi trong mùa đông giá lạnh đã cứu sống nó. Mỗi ngày Emmy liếm hơi nước đọng trên cửa để tồn tại, cho đến khi ông chủ vào nhà kho và tìm thấy con mèo quý của mình chỉ còn da bọc xương. Emmy ngay lập tức được đưa đi chăm sóc tại một trung tâm nuôi dưỡng thú cưng và hiện đã lấy lại phong độ. (P.An)

3. KHÔNG THỦNG DẠ DÀY KỂ CŨNG LẠ !

Một cây kim dài hơn 10 cm suốt 16 năm nằm trong bao tử của Toma Zupan - một cựu binh người Áo.

Năm 1991, sau một cuộc phẫu thuật, Zupan lúc nào cũng thấy đau bụng đến mức ông thú nhận, mỗi ngày trôi qua nếu bụng ông không nhói đau một lúc thì rất… nhớ và hoang mang sao hôm nay lại không đau như hôm qua. Cứ thế ròng rã 16 năm, cho đến khi mới đây ông thổ lộ với bác sĩ về cơn đau kỳ lạ của mình. Những xét nghiệm cho thấy có một cây kim y tế dài hơn 1 tấc nằm gọn trong bao tử ông. Cây kim đã được gắp ra và khổ chủ sau hồi đắn đo, quyết định rút lại đơn kiện vị bác sĩ phẫu thuật trước đây vì không muốn dính dáng gì đến cây kim ấy nữa. (P.An)

--> Read more..

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2008

Đêm nằm mơ phố

Sáng tác: Việt Anh

Trình bày: Thu Phương

Đêm đêm nằm mơ phố,

Trăng rơi nhòa trên mái,

đi qua hoàng hôn ghé thăm nhà.

Anh như là sương khói mong manh về trên phố,

Đâu hay một cơn gió mùa thu.

Đâu hay mùa thu gió,

đêm qua mặc thêm áo,

Tay em lạnh mùa đông ngoài phố.

Đêm xin bình yên nhé,

Con đường vàng ánh trăng,

Đèn sau khuya quán quen chợt sáng.

Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết,

quên đi tình yêu quá vô cùng.

Sương giăng hồ Tây trắng,

đâu trong ngày xưa ấy,

Tôi soi tình tôi giữa đời anh.

.

Ngày ấy mỗi khi nghe Thu Phương hát một mình hoặc song ca cùng chồng, bao giờ tôi cũng tấm tắc bởi Phương sở hữu một giọng hát thật hay, một vóc dáng thật chuẩn, và một gia đình thật êm ấm. Phương cùng chồng làm nên một hình ảnh đẹp trên sân khấu. Và rồi Thu Phương bỏ đi… bôn ba đâu đó để chẳng còn gì. Xót xa… cái cảm giác ấy vẫn theo tôi đến tận bây giờ. Lần này Thu Phương trở về hát trong Duyên Dáng Việt Nam 19 với lời tự sự về những giấc mơ đã có thật… Đêm đêm nằm mơ phố, mơ như mình quên hết, quên đi tình yêu quá vô cùng…

--> Read more..

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2008

Mùa xuân phương Nam

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Chưa bao giờ họa sĩ Hoàng Vinh vui như tối nay, trong bữa tiệc rượu chiêu đãi bạn bè nhân khai mạc phòng triển lãm tranh sơn dầu mang chủ đề: “Mùa xuân phương Nam” của anh. Sau giờ mở cửa, gần một nửa trong số ba mươi bức tranh trưng bày đã có người mua, trong đó có nhiều bức tranh anh đề giá rất cao. Vậy là anh sẽ có được một khoản tiền lớn vượt xa mọi dự kiến của anh và Dã Lan, người bảo trợ phòng triển lãm; vượt xa mọi ước mơ của anh từ lâu, hơn cả toàn bộ số tiền anh vất vả kiếm được suốt bốn chục năm có mặt trên đời. Các nhà phê bình tranh, công chúng sành hội họa và bạn bè trong giới mỹ thuật hầu như đều có chung một nhận định về các tác phẩm trưng bày của Hoàng Vinh: Sự xuất hiện lại khá muộn màng của anh sau hai mươi năm im lặng là rất thuyết phục, sức sáng tạo của anh khá sung mãn, các mảng đề tài anh khai thác mới lạ với nét cọ tài hoa độc đáo. Mảng tranh về sông nước, nắng gió, cây trái phương Nam rực rỡ ánh sáng nhưng vẫn lưu lại chút buồn vương vấn qua đôi mắt kẻ tha hương. Mảng tranh về núi non, biển cả – ví như bức tranh anh vẽ con đường vắng tênh hun hút chạy qua một vùng cát mênh mông xa ngái, hoặc bức tranh khổ rộng anh vẽ đôi bàn chân trần thô ráp của một nông dân đang băng qua mặt ruộng khô nẻ, mảng tranh ấy đọng lại nỗi buồn và lòng hoài tưởng của đứa con xa xứ. Có mấy bức tĩnh vật anh vẽ theo phong cách cổ điển Nhật Bản, đẹp một vẻ kiêu sa, đặt chung trong phòng tranh trông chúng có phần xa lạ một cách gợi cảm. Hoàng Vinh ít vẽ người, chỉ vài ba bức thiếu nữ như để điểm xuyết cho cả phòng tranh, tất cả đều khỏa thân, tất cả đều không nhìn rõ khuôn mặt, anh không vẽ toàn thân mà ở bức này là mái tóc xõa tung trên gối, kia là một bờ vai trần, ở bức nọ là vòng mông với những mảng sáng tối của một đêm hồng... mảng tranh này toát lên một vẻ đắm say đầy xa xót.

Dã Lan tổ chức tiệc rượu giản dị và sang trọng nhưng ấm áp thân tình với gần hai trăm người tham dự, sôi nổi nhộn nhịp vào ra từ phòng trưng bày đến khoảng sân nhỏ rải đá cuội dưới giàn phong lan. Hàng chục loài lan khác nhau, dễ có đến hàng trăm giò lan hồ điệp, hoàng kim điệp, hoàng phi hạc, báo hỉ, nghinh xuân, giả hạt, cẩm báo... khoe sắc đủ màu. Có mặt dự tiệc vui gồm các nghệ sĩ, các chủ gallery, nhiều cô gái xinh như mộng là khách thường xuyên của các cuộc trưng bày mỹ thuật, các nhà báo, các nhà sưu tập tranh, bạn bè của Hoàng Vinh trong và ngoài giới mỹ thuật, trong đó có nhiều người đã mười năm, hai mươi năm anh không gặp. Khách khứa, bạn bè kẻ lôi anh về phía này, người gọi anh sang phía kia, có lúc một mình, có lúc có cả Dã Lan. Máy ảnh liên tục chớp lóe, máy quay phim chạy xè xè, nhiều cô túm lấy anh xin chữ ký... Túi bụi, tất bật nhưng chưa bao giờ Hoàng Vinh có cảm giác vui sướng, được chạm tay tới sự thành đạt thực sự như lần này. Anh chạm cốc với người này nhưng chưa uống đã có người kia rót đầy hai cốc mới trao cho anh và Dã Lan. Những lời chúc tụng nồng nhiệt, những lời hỏi han đầy khích lệ... Trên khuôn mặt anh là nụ cười thường trực rất tươi, rất sáng, khác hẳn ngày thường, khác hẳn cái vẻ lầm lì khắc khổ cố hữu. Vẻ tươi sáng ấy có được còn nhờ Dã Lan đã để tâm trang điểm khuôn mặt anh khá chu đáo trước khi hai người xuất hiện trước mọi người.

Giữa chừng cuộc vui, ai đó gọi Hoàng Vinh ra ngoài. Đợi anh ngoài cửa phòng triển lãm là một nhân viên bưu chính với bức điện tín gửi từ quê nhà: “Mẹ và con chúc mừng cuộc triển lãm “Mùa xuân phương Nam” của ba. Rất mong ba về kịp đoàn tụ với mùa xuân”. Anh sững đi giây lát, một thoáng xúc động, một thoáng chơi vơi giữa cuộc vui chưa có vẻ gì sắp đến giờ kết thúc. Trong những cuộc vui như thế này, người ta có khả năng uống nhiều gấp hai mươi lần tửu lượng bình thường mà chả ai say cả. Sắc mặt, cử chỉ của Hoàng Vinh thay đổi dần khi anh quay lại giữa bạn bè. Rồi như kẻ vừa bị lôi bất ngờ ra khỏi giấc mơ, anh cười vui gượng gạo, đi lại thất thần, vẻ tươi sáng trên khuôn mặt được sửa sang cẩn thận của anh phút chốc đã thay đổi, đã trở lại cái dáng dấp lưu cữu của nỗi ưu phiền. Anh chuếnh choáng say sớm hơn dự kiến, trán vã mồ hôi, tay chân bải hoải rã rời. Cố gắng chống chọi thêm được một lúc, anh lặng lẽ kiếm một chiếc ghế, kê đầu vào tường, nhắm mắt, chùng lòng lại, gạt hết mọi tiếng động, âm thanh của cuộc vui ra khỏi ý nghĩ. Anh châm một điếu thuốc để chống lại cái lạnh của trời đêm đang thấm sâu qua đôi vai chốc chốc lại rung lên chịu đựng. Cái cảm giác cuộc vui kia là của ai khác chẳng liên quan gì đến anh, rằng anh là người ngoài cuộc bị lãng quên trong bóng tối – cảm giác ấy bất chợt tràn qua tâm tưởng.

***

Nhiều người còn nhớ tên tuổi họa sĩ trẻ Hoàng Vinh từ hai mươi năm trước. Đấy là thời anh còn là sinh viên mỹ thuật nhưng đã có tranh dự thi các cuộc triển lãm lớn, một số bức về sau còn được chọn đưa ra nước ngoài, và đã thuộc về một vài nhà sưu tập tranh nổi tiếng châu Âu. Ở cái tuổi hai mươi, tranh của anh sớm vượt qua tính chất trường lớp để trở thành những ý tưởng sáng tạo độc đáo mà lớp bạn bè cùng tuổi anh thời đó chưa đạt tới được, ngược lại lớp họa sĩ từng trải lại sớm đánh mất. Tốt nghiệp trường mỹ thuật với lời đánh giá rất cao về tài năng và triển vọng, với những thành công và danh tiếng bước đầu như vậy làm vốn liếng chào đời, Hoàng Vinh tình nguyện trở về địa phương – một tỉnh lẻ xa xôi để gây dựng sự nghiệp cho mình. Một trong nhiều lý do thôi thúc anh trở về, ấy là mối tình đầu của anh, cô gái mà anh chớm yêu từ thuở mười lăm, trao gửi nụ hôn thiêng liêng đầu đời vào năm mười tám khi anh vẽ những bức khỏa thân đầy ấn tượng.

Sau khi nhận việc ở một đơn vị trực thuộc ngành văn hóa – thông tin, anh cưới vợ và được bố trí một căn hộ mười lăm mét vuông trong khu tập thể. Mọi việc như thế là thuận lợi và tốt đẹp như mọi người hằng mong. Công việc của anh hàng ngày là kẻ vẽ, sao chép, phóng lớn những tấm pa-nô, áp phích theo yêu cầu tuyên truyền cổ động cho những cuộc lễ lạt hội hè, cho những đợt vận động thi đua ngắn hạn và dài hạn, những chỉ tiêu kế hoạch của ngành, của địa phương từng quý, từng năm... Chịu trách nhiệm kèm cặp, hướng dẫn, giám định công việc anh làm là ông Văn, một người có gần hai chục năm kinh nghiệm trong nghề, mà theo ông phương châm đạt tới thành công trong mọi trường hợp là thấu hiểu cá tính, nỗi buồn, vui của cán bộ lãnh đạo trực tiếp. Bản thân ông là một người khôn ngoan đúng lúc, ngoài ra khá cởi mở xuề xòa, hào phóng và thương yêu Hoàng Vinh như đối với cậu em giỏi giang, chăm chỉ. Biết anh vẫn dành thời gian để sáng tác, ông chỉ cười và xem đó như một trò chơi ngông cuồng của tuổi trẻ.

Hai đứa con anh lần lượt ra đời cách nhau bốn năm. Trong bốn năm ấy đã ba lần Hoàng Vinh gửi tranh tham dự triển lãm mỹ thuật hàng năm ở địa phương, đáng tiếc là không lần nào tranh của anh được tuyển chọn. Người ta lập ra một hội đồng chọn tranh gồm đủ các vị chức sắc đáng kính, còn đại diện cho giới chuyên môn về mỹ thuật là ông Văn – họa sĩ Lê Văn! Có lần sau cuộc họp xét duyệt để chọn tranh triển lãm nhân một ngày lễ lớn của địa phương, ông Văn đến tận nhà anh vào buổi tối sau khi đã uống chút đỉnh cay. Ông ta bỗ bã nói với anh: “Công bằng mà nói, tranh của chú mày vẽ đẹp và lạ mắt, nhưng vẽ để chơi thì được chứ làm sao đưa ra trưng bày cho công chúng xem! Các vị trong hội đồng duyệt tranh bảo là tranh của chú mày có nội dung lãng mạn suy đồi huyễn hoặc”. Anh hỏi lại: “Còn anh, ý kiến anh thế nào?”. Ông Văn cười hề hề: “Bố tao cũng chẳng hiểu mày vẽ cái gì, làm sao có ý kiến được? Mà dù tao có ý kiến ra sao đi nữa cũng chẳng thay đổi được số phận các bức tranh của mày!”. Anh lặng lẽ chịu đựng cái gọi là số phận đã dành sẵn cho các tác phẩm của mình như theo lời ông Văn nói. Anh tự tin, kiên trì sống và làm việc, chờ ngày đám mây số phận ấy trôi đi.

Nhưng cuộc sống không như anh tưởng. Hai đứa con anh ra đời, nhu cầu hàng ngày của gia đình tăng lên, đồng lương còm cõi của hai vợ chồng không thấm vào đâu so với giá cả ngày càng đắt đỏ, căn hộ mười lăm mét vuông mới ngày nào là tổ ấm hạnh phúc của hai vợ chồng son, nay đã trở nên chật chội đến ngột thở. Nguyên khoản tiền mẫu giáo cho đứa lớn, nhà trẻ cho đứa nhỏ đã chiếm hơn một nửa thu nhập của cả gia đình buộc anh phải dành tất cả thời gian còn lại tranh thủ được để bươn chải kiếm sống. Anh nhận vẽ thuê các biển hiệu, quảng cáo, can kẻ các tấm sơ đồ cho người ta thuyết trình tại các hội nghị, về sau nhận cả việc sơn cửa, sơn tường, sơn vật dụng cứu hỏa, kể các loại biển cấm: từ cấm đậu xe, cấm đổ rác, cấm phóng uế... nói chung là tất cả những công việc có quan hệ xa gần với những gì anh được học ở trường mỹ thuật: cầm cọ, pha sơn... Khổ nỗi anh làm những việc ấy chẳng bằng ai, vừa chậm vừa kém và hóa ra lại tốn nguyên liệu hơn bất kỳ một anh thợ tầm thường nào khác trong nghề. Chẳng thể nhớ ra từ bao giờ anh không còn để tâm vào việc sáng tác nữa. Chiếc giá vẽ đã được xếp lại cùng với mớ son cọ hư cũ khô chết nằm quên một góc dưới gậm giường. Những bức tranh cho anh hào hứng sáng tạo sau ngày tốt nghiệp, qua vài lần bị từ chối, nay ám khói xỉn màu trên tường mà ngay cả anh cũng chẳng mấy khi dừng mắt nhìn ngắm lại chúng nữa.

Cơm áo, đói nghèo cuốn anh đi theo một tốc độ chóng mặt. Nhiều lúc anh tưởng hoàn toàn kiệt sức, sắp sửa quỵ ngã, nhưng hai đứa con thơ dại của anh không cho phép anh buông xuôi. Cả ánh mắt của vợ anh nữa – nó lặng lẽ một vẻ chịu đựng nhẫn nhục, nó im lặng đầy trách móc một cách tủi hổ và bất lực. Mặc cảm hèn kém, hèn hạ ngày càng lớn thêm lên trong cuộc mưu sinh. Phải chi anh có thể lãng quên, có thể giải tỏa mặc cảm ấy, cho dù chỉ trong chốc lát bằng những cơn say? Nhưng anh chẳng tìm đâu ra thì giờ và không nỡ lấy bớt miếng ăn khốn khó của con anh để mua lấy chốc lát lãng quên nhờ men rượu.

Nhiều năm về sau, khi hoạt động mỹ thuật đã mở toang cánh cửa sáng tạo, khi mà hội đồng xét duyệt tranh triển lãm ở địa phương nhân các hội lễ, kỳ cuộc quan trọng đã bớt đi các vị chức sắc đáng kính ngày nào, lại chính họa sĩ Lê Văn là người đầu tiên nhắc nhở Hoàng Vinh quay lại con đường sáng tạo. Ấy là một đợt chuẩn bị kỹ lưỡng để tranh gửi đi triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Hoàng Vinh vay mượn được một khoản tiền mua vật liệu để vẽ, lôi từ gậm giường ra chiếc giá vẽ đã bị lãng quên hơn mười năm, và đêm đêm sau cuộc bươn chải mưu sinh, anh ráng sức thức khuya hì hục đóng khung, căng vải, pha màu, suy nghĩ... nghe thời gian tích tắc đi qua trong chiếc đồng hồ để bàn hoặc là tiếng chuông điểm giờ khuya khoắt trên đỉnh nhà thờ vọng tới. Rồi anh khẽ khàng thu xếp mọi thứ cất vào một góc nhà trong tiếng thở đều của các con, tiếng trở mình của vợ, anh đi nằm và cố chợp mắt lấy sức cho cuộc bươn chải mưu sinh ngày hôm sau... Kết thúc đợt ấy anh vẽ được hai bức tranh nhưng đến ngày cuối cùng anh không gửi chúng đi dự triển lãm nữa. Ngoài mớ ý tưởng hỗn độn hoang mang có thể đánh lừa được người xem tầm thường, cả hai bức tranh đều kém cỏi vô hồn đến nỗi làm anh xấu hổ.

Anh thử sức mình một lần nữa nhân đợt triển lãm mỹ thuật ở địa phương, nhưng vẫn không thành công. Tất cả những ý tưởng sáng tạo của anh cuối cùng không hiện lên một cách trọn vẹn trên khung vải. Gần đến ngày nộp tranh để duyệt, anh đã làm theo lời khuyên chân tình của Lê Văn: “Đừng làm ra độc đáo, hãy cứ vẽ như mọi người, từa tựa mọi người... càng khác người càng khó được người chấp nhận”. Anh đến tận nhà Lê Văn để xem tranh của ông ta, chúng giống như phần lớn các tấm pa-nô cổ động trên các ngả đường: này là một mảng đồi trơ trụi có các cô công nhân đang trồng cây dưới nắng, kia là chiếc thuyền bồng bềnh trên mặt biển xanh dợn sóng với mấy ngư dân đang thả lưới, nọ là tốp thợ giặt trên cánh đồng lúa chín vàng... Đêm ấy Hoàng Vinh ngồi trước giá vẽ, tỷ mẫn phác họa một bức tranh về tòa nhà cao tầng đang thi công: này là gạch ngói vôi vữa, kia là giàn giáo với thợ xây, này là hàng cây ven đường phối cảnh... Xong, anh tắt đèn đi nằm, nhưng cái phác thảo ấy ám ảnh anh không dứt. Cuối cùng anh biết chắc rằng dù có bỏ vào bức tranh ấy bao nhiêu công sức thì nó cũng không thể trở thành tác phẩm của anh, may mắn lắm thì nó có thể được xem như bức tranh tồi tệ nhất của Lê Văn, thế thôi! Vậy là anh trở dậy, bật đèn, dùng màu bôi xóa những gì anh vừa phác họa trên khung vải. Anh nguyền rủa mình dại dột, và quyết định không vẽ tranh cho cuộc triển lãm ấy nữa.

Dư luận ở địa phương ào lên một đợt dữ dội để tấn công Hoàng Vinh. Một số người cho rằng anh kênh kiệu, tự mãn, không hội nhập với giới hoạt động mỹ thuật trong tỉnh, người thì bảo rằng anh đã tàn lụi quá sớm, quá nhanh sau ngày tốt nghiệp trường mỹ thuật. Người tặc lưỡi tỏ vẻ thông cảm trước sự bế tắc của một tài năng, sự sụp đổ của một hiện tượng... Rồi những món nợ do anh vay mượn để mua nguyên liệu vẽ mấy đợt vừa qua chồng chất thúc bách, cuộc mưu sinh đã khó khăn, anh lại rơi vào tâm trạng chán chường và gặp hồi sức khỏe suy kiệt. Hai đứa con anh lớn lên càng có nhiều nhu cầu cơm áo, học hành... Vợ anh, người đàn bà duy nhất trong đời anh, mối tình đầu tiên và có thể là mãi mãi của anh ngày nào khô héo, đi về, vào ra căn phòng mười lăm mét vuông ấy như một cái bóng, lặng thầm và nhẫn nhục, chịu đựng và tủi hổ, trong ánh mắt nàng nhìn anh có điều gì như trách móc, như ân hận.

Và khi anh nói ra ý định phiêu lưu, vợ anh cũng chỉ lặng lẽ nghe, lặng lẽ khóc. Ngày anh xuôi tàu vào phương Nam, vợ anh gói cho anh hai bộ quần áo để mang theo nhưng không mang con ra ga đưa tiễn.

***

Hoàng Vinh ngồi trong phòng vẽ nhưng không bật đèn. Anh kê một chiếc ghế cạnh cửa sổ, nhìn xuống đường phố khuya khoắt, vắng lặng, nhuốm lạnh và đẫm sương. Thỉnh thoảng, anh rít một hơi thuốc. Tràn ngập tâm hồn anh là nỗi nhớ quay quắt về vợ con, về những năm tháng khốn khổ ngày xưa, về thị xã quê nhà buồn thương tội nghiệp ấy. Hồi mới bỏ đi, anh nhớ các con anh, nhớ thương vợ anh đến mức tưởng phải quay về. Anh đã tự dằn vặt biết bao nhiêu vì mặc cảm tội lỗi, thậm chí tàn nhẫn nữa, khi để vợ anh một mình chống đỡ với sự nghèo đói, một mình ngụp lặn với áo cơm. Anh cũng đã nói với nàng rằng không phải anh đi tới một miền đất hứa mà chỉ là một cuộc phiêu lưu, rằng hãy cứ xem như bớt được anh trong khoảng không gian chật chội mười lăm mét vuông ấy để các con có đủ hơi mà thở, để còn có chỗ mà lớn lên. Dần về sau, khi Dã Lan cưu mang anh như một người yêu nghệ thuật và như một người đàn bà, anh lao vào sáng tác và tận hưởng vị ngọt ngào yêu đương, nỗi nhớ thương quay quắt kia dần nguôi ngoai, có lúc anh đã quên đi. Còn bây giờ, sau buổi khai mạc phòng tranh và tiệc rượu tưng bừng ấy, với bức điện chúc mừng của con anh đến vừa đúng lúc, anh không hề quên chút gì.

Vinh nhớ rất rõ, rõ nhất là vẻ mặt lặng lẽ đau buồn của vợ anh. Anh hình dung ra khuôn mặt ấy và sự hoang mang buồn tủi của các con anh trong đêm giao thừa, giữa căn phòng mười lăm mét vuông ấy không có anh.

Anh đã đưa cho Dã Lan xem bức điện khi hai người vừa từ tiệc rượu về đến nhà. Đọc xong, Dã Lan im lặng trao lại cho anh, thay quần áo rồi bước vào buồng tắm. Khi trở ra, nàng nói: “Đêm nay, em ham vui nên uống hơi nhiều”. Anh chờ đợi nàng nói một điều gì liên quan tới nội dung bức điện, nhưng nàng lặng lẽ đi nằm, tắt điện. Sự im lặng của người phụ nữ sâu đến chừng nào và hứa hẹn điều gì, anh phân vân tự hỏi.

Khi anh vào giường khẽ khàng đặt lưng xuống bên cạnh Dã Lan, nàng trở mình. Anh biết nàng vẫn thức, và anh chờ nghe nàng nói. Khá lâu, nàng mới xoay nghiêng, tay dịu dàng vuốt ve khuôn mặt gầy gò của anh:

- Em đã chuẩn bị một cái Tết với anh, hóa ra bây giờ mọi chuyện đã khác – Dã Lan lặng đi giây lát – Em là đàn bà, em hiểu người phụ nữ cô đơn và bất hạnh biết bao nếu đêm giao thừa không có người đàn ông bên mình. Không thể đem so sánh nỗi đau khổ của người này với nỗi khổ của người kia, vì không có ai đau khổ ít hơn ai. Nhưng chị ấy và các con anh cần có anh để đón mùa xuân.

T.V

--> Read more..