Thứ Hai, 31 tháng 12, 2007

HAPPY NEW YEAR, HAPPY NEW YEAR

Còn đúng 2 tiếng nữa là bước sang một năm mới rồi. Cái thời khắc quan trọng đang đến dần, đành phải chúc lia, chúc lịa cho kịp giao thừa nè! (cũng may hôm nay được ở nhà, nên bày vẽ chút chút cho mọi người cùng vui)

Chúc: Con gái Một năm mới làm nhiều, vui nhiều và nhất là có người iu nữa nhé!

Con trai: Năm mới thêm một tuổi, không vòi vĩnh mẹ nhiều nữa, đạt kết quả học tập tốt, người iu thì chưa nha!

Còn các bạn trong friendlist của tôi đây:

  • Lê Ký Thương (Ông già ham zui): Trẻ hoài không già, vui hoài không buồn, cùng vợ có nhiều tản văn cười nha.
  • Anh X.Hoà: Chà, phải chúc nghiêm chỉnh một tí: Sức khỏe dồi dào, hạnh phúc dồi dào, viết dồi dào.
  • Phùng Tiết (nhà thơ đạo mạo): Có thật nhiều nàng thơ vây quanh!
  • Ái Duy (nhà văn sắc sảo): Sức khỏe dồi dào, đi nhiều, viết nhiều, gặt hái nhiều tốt đẹp trong năm mới
  • Tee: Cả nhà Tee sức khỏe dồi dào, vui vẻ cả năm
  • Nero (hạnh phúc): Chúc bạn muốn gì có nấy!
  • Mẹ Kafe (một gia đình hạnh phúc): Chúc Năm 2008 rinh thêm vài giải truyện ngắn của Báo TT nữa hén và bé Kafe thật khoẻ mạnh, chóng lớn để mẹ Tú Anh không trằn trọc 5 canh hí!
  • Lê Công Toàn (mái tóc muối tiêu): Tuy già nhưng tâm hồn vẫn trẻ, vui vầy mãi suốt năm nha.
  • Đào Thanh Tuyền (nhà văn trầm lặng…): Năm mới thật an lành, hạnh phúc, có nhiều tản mạn thật hay nha.
  • Nguyễn Man Nhiên (nhà thơ, nhà NC): Cả nhà thật bình an, hạnh phúc trong năm mới.
  • Đọc sách (với nhiều trăn trở): Chúc mọi mơ ước thành sự thật.
  • Diego… (với nỗi buồn…): Vui lên cháu nhé, tất cả rồi sẽ qua đi…
  • Pink (với căn bệnh…): Cô bé 16 tuổi, suy nghĩ của nguời 25. Chúc cháu chóng lành bệnh, hồn nhiên vui tươi trong lứa tuổi trăng tròn.
  • Rùa (mọt sách…): Chơi mà học, học mà chơi vẫn đạt nhiều kết quả Rùa hén!
  • Vịt con (Duck): Vui vẻ, thành đạt trong năm mới cháu nhá!
  • Trinh…, Bà lùn…, Cocom…(Bộ ba quậy): Phẻ nhiều, vui nhiều, quậy nhiều… bạn nào chưa có ngừơi iu thì 2008 này có đôi có cặp.
  • Bùi Kiệm (nhà báo): Năm mới muốn gì được nấy.
  • Bé Hai: Một chuyến đi Pháp như ý muốn, đi về có quà cho dì nha.
  • Tường Giang (mèo, mèo…): Năm 2008 này có người iu, dắt qua cho cô Tư xem mặt đó.
  • Teapot (Ô mai): Chắc chúc cho Ô mai giống như Mèo mèo quá!
  • Chà chà còn bạn Rocking, H.M nữa (suýt tí thì quên): Bạn Rocking năm nay có chàng cho vui cửa, vui nhà…
  • H.M (cây bút sắc sảo, tâm hồn sắc sảo): Chúc cả nhà sức khỏe, vui vẻ cả năm, hạnh phúc tràn trề (gia đình là chính H.M hé)
  • Hi hi: Nhớ ra còn T.Tiên và nhà báo M.Ngọc mới Add nữa: Các bạn thật Bình an, hạnh phúc trong năm mới nhé!

Và sau cùng tặng cho con gái slideshow hoa cúc đây (hoa mà P.An thích)


--> Read more..

Những ngày xưa cũ…

Năm lớp 10 (Loan - bên phải)
Với Loan hàng đầu, thứ 4 và 5 – từ trái qua
Một thuở tóc dài áo trắng (thứ 2, bên trái) - năm 12 Bồ Đề, Nha Trang

Thuở ấy đã qua lâu lắm rồi… mà trong phút chốc bỗng thấy nhớ kinh khủng, nhớ một thuở tóc dài áo trắng, nhớ từng khuôn mặt nụ cười, nhớ những dỗi dỗi hờn hờn...

***

Tôi và Loan cùng có những năm học chung ở Trường Hưng đạo (Nha Trang), lúc đó linh mục Trần Minh Phương là hiệu trưởng. Khi lên 12 thì gia đình Loan chuyển vào Sài Gòn và tôi chuyển qua học Trường cấp ba Bồ Đề… Một lần vào Sài Gòn, Loan chở tôi đi xem Ba chàng lính ngự lâm quân. Không ngờ đó là kỷ niệm sau cùng.

Chúng tôi mỗi người mỗi ngả từ đó…

***

Năm 1995 cả gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn.

Ngày mới vào, anh chở tôi qua từng con đường để tìm đến nhà Loan, khi tìm ra được nhà thì Loan đã không còn ở đó nữa. Chúng tôi bặt tin nhau đã lâu lắm rồi.

Bây giờ có lẽ Loan không còn là cô gái nhỏ, tròn trịa nữa rồi.

Một thoáng đã mấy mươi năm rồi. Đầu xanh giờ lấm tấm sợi bạc rồi, mấy ai còn giữ lại dáng dấp ngày xưa…

***

Thuở học trò ấy là những chuỗi cười dòn dã, là những tinh nghịch của tóc dài áo trắng, là những lo toan cho các kỳ thi… là giọng giảng bài của thầy Duy – nhắc đến thầy Duy, tôi chỉ còn lưu giữ lại dáng cao cao cùng giọng giảng bài sang sảng của thầy (sau này tôi mới biết thầy là anh của một người bạn thân của chồng tôi).

Thuở nhỏ, tôi ham đọc truyện cổ tích hơn học các công thức toán học… (vì thế mà tôi mất căn bản môn khô khan này), sợ tôi không qua được các kỳ thi, thầy Duy và Loan kèm cặp lại cho tôi từng công thức tóan cơ bản…

Trường tôi theo học là một trường đạo (dù tôi chẳng có đạo), Linh mục Trần Minh Phương làm hiệu trưởng, cha rất hòa đồng và vui tính. Cha thường hay ví tôi và Loan là hai con vịt con xấu xí, nhưng còn an ủi được một câu: “Đứng trước gương xăm xoi mãi sẽ biến thành thiên nga”.

Thầy Duy đã cho tôi 0 điểm, vì mãi cười nói với bạn mà không định nghĩa được đạo hàm, còn phán một câu xanh dờn: Cười nhiều sau này khóc nhiều đó. Câu này có vẻ như đã ứng nghiệm vào cuộc đời tôi sau này.

***

Khi cuộc sống gia đình đã ổn định, tôi hay nhớ đến Loan. Vài mẫu tin nhắn tìm bạn trên báo… vẫn bặt tin…

Sau này, vài ba lần gặp lại Loan… trong một con hẻm nào đó ở đường phố Sài Gòn… cùng Loan chạy nhảy trên đồi cúc vàng… Tỉnh dậy, hóa ra đó chỉ là những giấc mơ… Mơ thôi ư?... Có còn gặp lại bạn?

***

Nhớ ánh mắt của ai kia… đã lâu quá rồi… một thời trẻ, một thời nhiều mộng mơ… với những dỗi dỗi hờn hờn… Thế mà đã chừng ấy năm trôi qua tôi không hề gặp lại…

***

Và bây giờ… mình tôi trong căn nhà vắng… những thời khắc của một năm sắp trôi qua để bắt đầu một năm mới, những ngày xưa cũ… rồi lại lùi vào một góc nhỏ nào đó… để bắt đầu một ngày mới, một năm mới với nhiều chúc tụng.

31/12/2007

--> Read more..

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2007

Điều hành bằng văn bản

HÀ PHAN

Theo dõi các phiên chất vấn các bộ trưởng tại kỳ họp Quốc hội, người ta dễ nhận ra một sự thực rất đáng suy nghĩ: trả lời câu hỏi của đại biểu Quốc hội rằng bộ trưởng đã làm (hoặc sẽ có giải pháp) gì trước thực trạng (vừa nêu trên), các bộ trưởng thường cho biết đã có tờ trình (hoặc dự thảo quy định) trình lên Thủ tướng Chính phủ, hoặc đã ban hành chỉ thị này, văn bản kia... Nghĩa là công tác lãnh đạo điều hành của bộ trưởng chủ yếu là bằng văn bản. Văn bản đề nghị gửi các ngành các cấp liên quan, văn bản từ cấp trên dội xuống hằng ngày, chồng chất và trùng lặp nhau, còn việc thực hiện của các cấp đến đâu không sao kiểm tra xuể.

Văn bản rất cần thiết để làm công cụ điều hành bộ máy công quyền. Nhưng nếu chỉ ban hành văn bản không thôi thì bộ máy không thể vận hành. Chúng ta đã biết rất nhiều việc tồn đọng từ năm này sang năm khác, rất nhiều việc Quốc hội chất vấn hết kỳ họp này đến kỳ họp kia mà không thấy tình thế xoay chuyển được gì. Thực ra điều mà các đại biểu Quốc hội cũng như cử tri cả nước muốn biết là biện pháp, giải pháp, cách tháo gỡ ách tắc, cách xử lý sự cố, cách tránh tai họa có nguy cơ xảy ra... chứ không phải là những văn bản gì được ban hành. Thay vì báo cáo trước Quốc hội rằng đã ra văn bản gì gửi đến đâu như một cách đá quả bóng trách nhiệm sang cho người khác, các bộ trưởng nên nói rõ đã phối hợp với những ngành, địa phương nào để giải quyết tình hình, những giải pháp gì sẽ được áp dụng, vụ việc đã xử lý đến đâu và bao giờ thì hoàn thành dứt điểm... Không ai nghĩ rằng bộ trưởng thì có quyền hạn vô biên đúng như Bộ trưởng Mai Ái Trực nói trước Quốc hội hôm 10.6, nhưng quyền hạn của bộ trưởng cũng không phải hạn chế đến mức chỉ được dự thảo quy định trình cấp trên hoặc ban hành văn bản gửi đến các ngành các cấp liên quan.

Chính vì điều hành bộ máy chủ yếu bằng văn bản nên bộ máy quản lý của chúng ta ngập chìm trong văn bản giấy tờ và trong rất nhiều việc tỏ ra rất xa rời thực tế. Chỉ xin nêu một dẫn chứng: trả lời chất vấn của một đại biểu Quốc hội về tình trạng không ngừng gia tăng tai nạn giao thông do xe máy gây ra có phải do việc thi lấy giấy phép lái xe mô tô được tổ chức theo kiểu hợp thức hóa không, Bộ trưởng Đào Đình Bình giải trình rằng theo báo cáo của cấp dưới mà ông nắm được thì việc học lái xe mô tô phải từ 4 đến 7 ngày, như vậy không có cơ sở để nói đó chỉ là để hợp thức hóa. Nhưng mọi người (có lẽ ngoài Bộ trưởng Đào Đình Bình) đều biết việc học và thi lấy giấy phép lái xe hiện nay đang được tiến hành thực chất như thế nào và kéo dài bao lâu, thậm chí muốn rẽ phải có người cũng không biết bật đèn xi-nhan sang trái hay sang phải !

H.P

(Thanh Niên CN/165/2004)

--> Read more..

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2007

Bài thánh ca buồn

Sáng tác: Nguyễn Vũ

Trình bày: Elvis Phương



Bài thánh ca đó còn nhớ không em
Noel năm nào chúng mình có nhau
Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt
Áo trắng em bay như cánh thiên thần
Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân

Cùng nhau quỳ dưới tượng Chúa cao sang
Xin cho đôi mình suốt đời có nhau
Vang trong đêm lạnh bài ca Thiên Chúa
Khẽ hát theo câu đêm thánh vô cùng
Ôi giọng hát em mênh mông buồn...

ĐK:

Rồi mùa giá buốt cũng qua mau
Lời hẹn đầu ai nhớ dài lâu
Rồi một chiều áo trắng phai màu
Em qua cầu xác pháo bay sau

Lời nguyện mình Chúa có nghe không
Sao bây giờ mình hoài xa vắng
Bao nhiêu đêm Chúa xuống dương gian
Bấy nhiêu lần anh nhớ người yêu

Rồi những đêm thánh đường đón Noel
Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu
Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối
Nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn
Đêm thánh vô cùng lạnh giá hồn tôi ...

--> Read more..

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2007

Tiêu chí

HÀ PHAN

Nước ta có rất nhiều giải thưởng văn hóa nghệ thuật mỗi năm, từ cấp trung ương, các ngành đến các địa phương. Mỗi giải thưởng đều có đặt ra tiêu chí xét thưởng phù hợp tôn chỉ mục đích riêng. Nếu các cuộc thi chủ yếu nhằm phát hiện tài năng mới thì các giải thưởng xét tặng định kỳ là nhằm ghi nhận những thành tựu văn hóa nghệ thuật được dư luận đánh giá cao, tôn vinh những giá trị đã qua một thời gian thử thách nhất định. Các tiêu chí xét thưởng được đặt ra một cách nghiêm túc là nhằm bảo đảm cho công trình, tác phẩm đoạt giải tương xứng với sự kỳ vọng của công chúng và sự đầu tư của Đảng và Nhà nước nhằm tạo ra ngày càng nhiều những sản phẩm văn hóa giá trị.

Đáng tiếc là ở nơi này nơi kia, tại cuộc thi này giải thưởng nọ còn có tình trạng ban tổ chức đặt ra những tiêu chí không rõ ràng, không hợp lý, thậm chí chỉ nhằm những ý đồ riêng. Giải thưởng văn học nghệ thuật 5 năm, 10 năm… của một địa phương đề ra tiêu chí chỉ xét thưởng những tác phẩm xuất sắc của hội viên trong địa phương, vậy là loại trừ những những tác phẩm giá trị của bất kỳ ai kể cả người tại địa phương nhưng không phải hội viên! Có nơi đặt ra tiêu chí “có công lao xây dựng phong trào, đội ngũ sáng tác địa phương" nhằm hợp thức hóa việc “tưởng thưởng” cho một số quan chức quản lý dù họ chẳng có công trình nghiên cứu, sáng tạo gì. Lại có nơi đổ hàng núi tiền ra để biên soạn công trình nghiên cứu, hợp tuyển văn học nghệ thuật địa phương, danh nghĩa là từ Cách mạng Tháng Tám đến… nay (nghe rất đồ sộ để được ngân sách duyệt chi nhiều tiền), nhưng phần tổng luận thì chỉ đề cao một số vị lãnh đạo văn hóa nghệ thuật đương chức, phần hợp tuyển thì chỉ thấy tuyển chọn tác phẩm của các hội viên hiện tại, còn những bậc tiền bối đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển đội ngũ tác giả và tác phẩm từ trên dưới nửa thế kỷ trước đây thì không được nhắc đến một lời (có lẽ vì các vị ấy không có quyền bỏ phiếu bầu các chức vụ hiện nay do không phải hội viên ?).

Các hội nghề nghiệp là rất cần thiết cho hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, nhưng hội viên không phải là tiêu chí để đánh giá thành quả sáng tạo.

H. P

--> Read more..

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2007

Tìm kiếm một người (tiếp theo và hết)

3. Nước ngấm màu đất đỏ chảy xiết xuống vực dọc theo con lộ nhỏ dẫn từ khu gia binh lên văn phòng hậu cứ tiểu đoàn, gió không còn lạnh buốt như đêm qua, con lộ cũng trơn tuột như khoảng đường từ doanh trại xuống chân đồi. Buổi sáng ông già vẫn hấp tấp bước theo sau người đàn bà bế đứa nhỏ với cái xách trên tay nhẹ tênh. Trên văn phòng hậu cứ tiểu đoàn 3, người hạ sĩ quan trực vẫn còn ngủ, văn phòng vắng chưa có người, ngọn đèn tù mù vẫn sáng trên trần cao. Ông già rón rén bước tới ngồi trên một chiếc ghế, đứa nhỏ đi lẫm chẫm quanh những bàn ghế trống không và người đàn bà, mắt đỏ hoe tựa cửa nhìn ra khoảng sân chưa có ánh nắng. Ông già lên tiếng trước:

- Đi đâu mất hết rồi.

Người đàn bà buông thõng:

- Ngủ chớ đi đâu.

- Cho thằng nhỏ ăn cái gì chớ không nó đói tội nghiệp, con.

- Chờ lúc nữa rồi hay.

Đứa nhỏ không tìm được đồ nghịch buồn tình khóc. Người mẹ bế nó lên tay cùng lúc anh hạ sĩ quan trực choàng thức dậy. Ông già nhìn thấy trước, lên tiếng:

- Sao ông?

Anh ta ngơ ngác:

- Sao?

Người đàn bà đi tới:

- Anh đã hỏi giùm tui chưa? Chồng tui...

- Chị là vợ của binh nhì Ngãi phải không?

Chị gật đầu. Anh ta xếp lại chăn, mở tủ cất vào rồi mới hỏi:

- Đêm qua ngủ được không bác?

Ông già không trả lời, rời ghế đứng dậy. Người đàn bà giục:

- Anh hỏi giùm chưa?

- Đêm qua tôi đã hỏi lại Quân y viện Nguyễn Huệ, họ trả lời đã đưa về Tổng y viện Cộng Hòa rồi. Tôi có nhờ họ liên lạc về Sài Gòn xem tình trạng anh Ngãi bây giờ ra sao nhưng chưa có kết quả. Chị nói với bác ngồi chờ một lúc.

Người đàn bà thả đứa nhỏ xuống đất, đi lui đi tới trong lúc ông già tiếp tục thở dài giữa những cơn ho. Người hạ sĩ quan trực nhấc ống điện thoại lên gọi, một lúc đặt máy xuống:

- Lại bận đường dây rồi.

Ông già trở lại ghế ngồi, anh trung sĩ đi rửa mặt. Trong văn phòng buổi sáng im lặng, những người lính chưa đến giờ làm việc đi long rong bên ngoài hoặc đi thẳng về phía câu lạc bộ. Lúc anh trung sĩ trở lại, mặt trời đã chiếu những tia nắng dịu mát đầu ngày xuống đôi ba ngọn cây xanh rải rác trong sân. Người đàn bà phân trần:

- Ở Sài Gòn thì tui làm sao biết được đường đi tìm, trung sĩ. Hai ba ngày nay đi tứ tung tìm ảnh, hết tiền hết bạc, sợ bây giờ không còn đủ để cha con tui đi xe nữa là khác. Trung sĩ có nghe nói ảnh bớt chưa không?

- Không biết, chị chờ tôi hỏi lại xem.

Anh ta tiến về chiếc điện thoại. Người đàn bà trong một thoáng chốc tưởng như thấy hết mọi nỗi khó khăn từ đây đi Sài Gòn, tìm tới quân y viện, tìm ra được nơi người chồng đang nằm; bao nhiêu ngày nữa, bao nhiêu lần ngồi trên xe đò, hết đoạn đường gian truân này đến đoạn đường trắc trở nọ, hết ngủ bến xe này đến nằm dọc đường chỗ kia; người chồng yêu dấu thắm thiết bây giờ ra sao, có bàn chân nào đã cưa, có cánh tay nào đã gãy, anh mê man hay anh tỉnh táo, anh đau đớn vì vết thương hay anh đã khỏe, đã có thể một mình ra hiên ngồi nhìn khu bệnh viện mỗi buổi chiều, mỗi buổi sáng; anh ăn uống anh nghỉ ngơi ra sao... Người đàn bà trong một lúc đã quay lại nhìn ông cha chồng, vào mặt đứa con mà đau lòng. Bao nhiêu ngày tháng nữa đói khổ, lê lết; bao nhiêu lần nữa lạnh lẽo, lạc lõng giữa những chốn lạ mặt bơ vơ như những đêm qua. Chị đến bên ông già:

- Chốc nữa lên câu lạc bộ ăn bánh mì đỡ đói nghe cha.

- Tội nghiệp thằng nhỏ, mấy ngày nay...

Anh trung sĩ trở lại ngập ngừng giây lâu mới nói:

- Binh nhì Lê Văn Ngãi...

Tiếng nói của anh ta hình như khựng lại ở đó, anh đưa mắt nhìn kỹ vào mặt ông già, người đàn bà. Một thoáng im lặng trôi qua, nặng nề. Ông già đứng bật dậy khỏi ghế, người đàn bà chống tay lên mặt bàn chờ đợi. Chỉ có đứa nhỏ vẫn tiếp tục loay hoay dưới một gầm bàn, một mình. Giọng người hạ sĩ quan ấp úng:

- ... chết rồi. Cách đây khoảng hơn tuần lễ. Xác đã an táng ở Nghĩa trang Quân đội.

T.V

Dakto, 1970

(Tạp chí Trình Bầy số 2, 1970)

--> Read more..

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2007

Tìm kiếm một người (phần 2)

2. Đứa nhỏ ngủ ngon trên võng mắc giữa gian nhà trống, ông già nằm trên một chiếc ghế bố, chốc chốc lại cựa mình, thở dài, bật ho, có lúc chậc lưỡi la trời; người đàn bà vẫn ngồi trên bậc cửa nhìn ra ngoài trời mưa. Đêm đen sâu hút bên ngoài, mưa tầm tã và lạnh. Có mỗi một tấm chăn nhỏ mượn được từ gia đình một người lính gần đó phủ trên người đứa bé, ông già co rúm người trên nửa chiếc ghế, nửa kia trống trơn. Cái xách tay dưới đất, mặt nền xi măng đóng bụi dày, nước mưa từ trên lối đi vào khu gia binh đổ xuống ngấp nghé muốn tràn vào nhà. Trận mưa đã kéo dài hơn bốn giờ đồng hồ. Gian nhà khá rộng, nằm riêng lẻ ở một góc khu gia binh, hoang sơ trơ trụi như một căn nhà ma, ngọn đèn tù mù treo trên trần không đủ soi sáng những xó tối xám ngoét bụi bặm. Trên chiếc bàn con kê giữa nhà, mẩu bánh mì đứa nhỏ ăn dở còn bỏ sót lại, một cái ly cáu bẩn và chai nước đã uống gần cạn. Tất cả lặng thinh, chìm lấp đằng sau một nỗi phiền muộn mỗi lúc một đè nặng thêm lên đầu óc mỗi người. Bên ngoài trời, ánh điện sáng trên một triền đồi thoải về hướng đổ dốc xuống con đường nhựa bò quanh dưới chân. Khu doanh trại vắng tanh trong cơn mưa còn tiếp tục phủ mù trời. Đêm không nghe tiếng súng nổ.

Tiếng ông già chậm rãi:

- Yên ổn thế này mà sao nó bị thương được.

Người đàn bà đưa tay lau trên mặt, hất những sợi tóc rối mù phủ xuống má, sửa soạn đứng dậy rồi lại thôi, ngồi yên ở chỗ cũ:

- Cha tưởng ảnh ở đây? Ảnh phải đi hành quân cách đây mấy chục cây số chớ ở đây được sao.

- Sao không ở đây với người ta có yên hơn không?

- Cha nói gì vậy, đâu có phải cứ muốn ở đâu thì ở. Đây chỉ là hậu cứ thôi mà. Đại đội ảnh phải đi hành quân liên miên.

Đứa nhỏ cựa mình, ứ mấy tiếng rồi tiếp tục giấc ngủ bình yên của nó. Ông già không nói tiếng nào nữa. Đôi lúc gió làm người đàn bà rùng mình. Ông già thì dí hai tay vào giữa đùi, rúc đầu sâu vào ngực mình tìm hơi ấm. Cái yên tĩnh của một đêm lại nhiều lúc làm người ta kinh hãi. Lâu lắm mới có tiếng người đàn bà nói nhỏ:

- Ngủ đi mai còn đi nữa, cha.

Không có tiếng trả lời. Người đàn bà đứng lên đóng cửa lại, vào võng lén leo lên nằm với con. Cơn đói đến với chị từ buổi chiều sau một ngày nhịn ăn, nhưng chị không thiết ăn uống gì cả. Buổi chiều chị đã hỏi thăm mấy người lính sang câu lạc bộ mua cho đứa nhỏ một ổ bánh mì. Chị không muốn ăn trong khi ông già nhất định không chịu ăn cho đến khi nào tìm được đứa con trai. Người đàn bà nằm yên, thở dài, đứa nhỏ vẫn ngủ ngon trong tay. Chị lắng nghe hơi thở khò khè của con, hơi thở không đều đặn, đứt quãng, mệt mỏi của ông già mà ngao ngán. Một tháng rưỡi. Một tháng rưỡi bặt tin chồng rồi một ngày nhận được tin cho biết chồng bị thương nặng. Bây giờ nằm nơi này, một chỗ lạ lùng, xa cách, vắng lặng, ma quái, nỗi ám ảnh nào đè xuống nặng trĩu trong ý nghĩ; mưa đầy trời, im lìm khủng khiếp. Và người chồng, chưa ai biết anh đang ở đâu.

- Hồi chiều cho thằng nhỏ ăn gì chưa, con?

Giọng ông già khàn đục thoát ra rồi tan loãng. Bóng điện bị cúp mất, căn phòng chìm trong bóng tối thênh thang. Ông già trở mình, người đàn bà trở mình.

- Bánh mì.

- Con đã ăn gì chưa?

- Thôi, không ăn gì hết.

Cơn mưa kia ngớt đi để chuẩn bị một cơn mưa khác, mưa hoài, mưa suốt đêm nay, ngày mai... Ngày mai? Tuy Hòa hay Pleiku, Nha Trang hay Sài Gòn? Trên một chiếc giường nào đó trong một xó quân y viện nào đó, anh chồng đang mê man trong cơn nhức buốt, vết thương anh đang lành hay còn đang mưng mủ, mảng óc nào đã lòi ra ngoài đầu, miểng đạn nào còn nằm trong xương sọ. Đêm nay, ngày mai, lúc nào anh tỉnh dậy sau cơn mê man, lúc nào anh đứng lên bước ra ngoài hành lang, trở về nhà, lúc nào anh trở về lại chiến trường, súng đạn, ba lô, những ngày tháng nào anh nhớp nháp, bẩn thỉu trên một đỉnh núi giữa rừng, dưới một hụp sâu trong thung lũng? Lúc nào anh lại trở về thăm vợ con, có lúc nào anh nhớ đến cha anh?

- Ngày mai làm sao đây, con?

- Để hỏi lại đã chớ biết đâu.

Ông già bật ho, lùng bùng, khò khè, bao nhiêu đờm rãi đã tụ lại trong cái cổ gân guốc gầy teo đó bảy mươi mốt năm qua? Cơn ho một lúc sau mới chìm xuống, căn phòng rơi vào nỗi im lìm kinh khiếp cũ, bóng điện vẫn chưa được thắp lên, cơn mưa bên ngoài đã ngớt hẳn, không có tiếng súng nào nổ, khu doanh trại rộng thênh vắng ngắt ngoại trừ một chiếc xe tuần tiễu đang rú ga dò dẫm đâu đó trong vũng tối.

- Ở Sài Gòn chắc nó đi chơi xài hết tháng lương này rồi còn gì...

Người đàn bà gắt:

- Cha lạ quá. Ảnh bị thương nặng gần chết mà đi chơi đâu.

Ông già trở mình lần nữa, nằm nghiêng người lại, mặt quay vào phía bên vách. Hơi thở thoát ra nặng nhọc, khò khè; hơi thở như của một người sắp chết. Nhưng tại sao nó lại bị thương chứ?

- Nó bị thương nặng không con?

- Không biết, chắc cũng nặng...

- Biết có ai săn sóc nó trong đó.

Trong trí nhớ rời rã của ông già, đứa con trai ba mươi hai tuổi chỉ như một cái bóng mờ đằng sau tấm kính thân thiết; anh Ngãi, đứa con trai duy nhất còn lại sau mấy mươi năm lấy vợ, sinh con chỉ là một đứa nhỏ cần nhiều cưng chiều, cần nhiều chăm sóc. Anh Ngãi, bị sung vào lính khoảng nửa năm sau ngày ông bắt ép anh ta lên tỉnh kiếm ăn, hơn một năm sau ngày cưới vợ. Sài Gòn rồi Qui Nhơn, Tuy Hòa rồi Pleiku rồi... và bây giờ vô tăm biệt tích ngoại trừ cái tin chót mà đứa con dâu thưa lại: ảnh bị thương. Bị thương? Điều đó khó làm ông tin được. Ông già tiếc rẻ tấm kính đã vỡ, đứa con trai còn lại với ông như một cái bóng đằng sau mặt kính đó, nát ra và mất hút. Cái bóng chợt tan nát trong nỗi phiền muộn của tuổi già.

- Con biết đường đi Sài Gòn?

Không có tiếng trả lời, ông nằm im, thở dài tưởng con dâu đã ngủ. Lâu sau có tiếng nói chậm và nhỏ của người đàn bà:

- Biết. Mà cha đừng lo quẩn nữa, ngủ đi rồi mai hãy hay.

- Đi xe lửa được không con?

- Ở đây đâu có xe lửa mà cha hỏi.

Cơn mưa bên ngoài bắt đầu đổ nặng sau một lúc tạnh. Qua khe hở của phên tôn, ánh sáng một trái hỏa châu chiếu nghiêng xuống nền nhà. Dòng ánh sáng chảy ngược lên vách bên kia, lên tới trần nhà rồi phụt tắt. Ông già bắt đầu một cơn ho khác.

Lúc đèn trong phòng được bật sáng trở lại, người đàn bà lén xuống võng đến bên chiếc bàn con, rót nước từ trong chai ra chiếc ly, ngồi trên ghế uống chậm rãi. Dứt cơn ho, ông già cũng trở dậy ngồi trên ghế bố thõng chân xuống đất. Người đàn bà:

- Cha đói không?

Ông già không trả lời, hỏi lại:

- Còn nước?

Chị đàn bà tạt tách nước vào vách ván, dốc ngược cổ chai vào ly đem tới phía ông:

- Còn chừng này cha uống đỡ.

- Khuya thằng nhỏ khát lấy gì cho nó uống?

- Thì cha uống đi đã.

Hớp một ngụm nước nhạt thếch, ông già lại hỏi:

- Còn đủ tiền xe đi Sài Gòn không?

Chị không trả lời. Ông già uống xong, trao cái tách lại cho chị rồi nằm xuống ghế bố, tiếng xương va vào nhau ròn rã, ông nghiêng người vào vách, dí tay lại vào đùi. Người đàn bà đặt cái tách không lên bàn, bước ra phía cửa mở khóa hé cánh cửa nhìn ra ngoài mưa. Gió ập nước vào mặt chị. Chị trở vào sau khi khóa cửa lại, ngồi chỗ cũ bên bàn đưa tay vuốt mặt:

- Ở đây mưa sớm quá hả cha.

Chờ một lúc không nghe tiếng ông già, chị rời bàn, rón rén đến gần ghế bố; nhìn lên khuôn mặt nhăn nheo đó. Dưới ánh điện tù mù, chị đàn bà không biết ông đang cố nén giọng tức tưởi, những giọt nước mắt rơi rớt sau hơn bảy mươi năm làm người không đủ nhiều cho chị nhìn thấy. Chỉ có vai và tay ông run run. Chị trở về bên võng, lấy tấm chăn đắp trên người đứa con sang phủ lên tấm thân bạc nhược của ông già. Xong, chị trở lại bàn ngồi yên lặng.

Đôi khi đứa nhỏ trở mình, lên tiếng khóc. Tiếng khóc làm ấm lại trong nỗi cơ hàn của chị đàn bà lúc nửa đêm hay một gần sáng trong căn nhà lạ rộng thênh giữa một doanh trại không có bóng dáng người chồng, bên ngoài một thành phố lần đầu tiên chị đặt chân đến. Suốt đêm đó, ông già bật ho nhiều lần, trở mình nhiều lần. Mưa đến gần sáng mới tạnh. (còn tiếp)

--> Read more..

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2007

Tìm kiếm một người (phần 1)

Truyện ngắn của THẾ VŨ

1. Ba người, ông già đi như chạy theo sau một người đàn bà bế đứa nhỏ khoảng hai tuổi, vượt qua khoảng đất rộng trơ trụi không cỏ, hấp tấp bước trên đoạn đường cán sỏi. Mặt lộ ẩm, nhiều nơi nước chảy thành luống, nước đục pha màu bùn đỏ quánh chảy miết xuống một con rãnh nhỏ xẻ theo đường xe chạy, chui qua một ống cống trước khi thoát về một chiếc hố lớn khá sâu. Ít ra cũng đến hai lần ông già trượt chân ngã chúi xuống mặt đất đỏ trơn tuột. Người đàn bà thì mạnh bạo hơn, sụt sùi bế đứa nhỏ trên tay, tay kia nắm quai xách, đi một quãng lại quay đầu nhìn ông già, đứng đợi một lúc chờ ông lên gần kịp mới tiếp tục. Mưa đã ngớt từ trưa nay, nắng dịu và gió mang hơi nước tới làm mát da, tuy nhiên trên khuôn mặt mỗi người đã có những giọt mồ hôi tuôn xuống. Khu doanh trại vẫn còn quá xa, đứa bé nghịch một lọn tóc phủ xuống trên vai người mẹ. Những cột dây điện thoại đen thui, mặt đất ẩm càng lên cao càng khô rắn dễ đi hơn. Một chiếc xe GMC đổ dốc chạy xuống, trên đó những người lính trong bộ đồ trận bẩn thỉu, dơ dáy, sửa lại dây nịt đạn hay nhai dở dang một đoạn bánh mì khô mốc. Ông già đứng lại một giây để thở, nhìn đám lính trên xe rồi lại cúi xuống, tiếp tục hấp tấp theo chân người đi trước. Ông giẫm nhầm vào một vũng nước bùn, quai dép bật ra, ông ta dừng lại cúi xuống sửa chiếc dép. Khoảng cách giữa hai người càng lúc càng xa. Người đàn bà chặn một anh lính đi xuống, hỏi:

- Hậu cứ Tiểu đoàn 3 ở chỗ nào?

Anh lính quay nhìn lên khu doanh trại, định chừng chỉ tay về phía đỉnh đồi:

- Trên đó, sau bụi cây. Lên hỏi thăm người ta rõ hơn.

- Mấy giờ rồi?

- 3 giờ 10.

Người đàn bà đổi tay bế đứa nhỏ, mắt nhìn lên tìm kiếm bụi cây. Ngọn lá xanh nhô đằng sau một dãy nhà tôn mái chất dày những bao cát, tường cũng đóng tôn hầu như màu đỏ của bụi đã phủ gần kín. Trời chuyển mây mù từ xa, một cơn giông nào khác hứa hẹn sẽ tới phủ kín nơi đây. Người đàn bà ngoái cổ nhìn ông già đang còn lê lết ở dưới xa, giục:

- Cha đi lẹ lên.

Hết con dốc, người đàn ông muốn ngồi nghỉ mệt nhưng lại bị giục lần nữa. Ông lùng bùng ho. Thêm một chiếc xe chuyển quân đổ xuống đồi, ông nói như để một mình nghe:

- Đi đâu mà nhiều vậy không biết.

Khoảng sân trên đồi khá rộng, có cỏ. Người lính gác chặn họ lại xem giấy tờ. Người đàn bà:

- Chồng tui ở tiểu đoàn 3. Cho tui vô tiểu đoàn hỏi thăm.

- Chồng chị tên gì?

- Lê Văn Ngãi.

- Cấp bậc?

- ...hồi trước là lính binh nhì.

- Bây giờ?

Chị ta ngẩn người suy nghĩ. Đúng là ba bốn tháng trước anh nói anh cấp bậc binh nhì. Còn bây giờ? Người lính gác nhấc ống điện thoại hỏi vào hậu cứ tiểu đoàn xem có ai là binh nhì Lê Văn Ngãi không. Giây lâu sau, anh ta hỏi lại người đàn bà vừa lúc ông già lên tới:

- Binh nhì Lê Văn Ngãi đi quân y viện rồi mà?

- Đúng đó. Đi quân y viện. Cho tui vô tiểu đoàn hỏi thăm.

Lúc vượt qua cổng, ông già đi liền chân sau chị đàn bà. Không ai nói với ai câu nào. Đến văn phòng hậu cứ tiểu đoàn, chị cất nón, hỏi ngay một người lính đứng gần nhất:

- Hậu cứ đại đội 1, tiểu đoàn 3 hả?

- Hả?

Một hạ sĩ quan trong văn phòng ngẩng lên nhìn chị dò xét, rồi hầu như tất cả đám lính trong văn phòng cùng ngưng việc nhìn chị. Đứa nhỏ thoát khỏi tay bế của mẹ, men tới bàn làm việc e dè đưa tay rút một tờ giấy mà nó với tới. Người lính giữ tờ giấy lại. Đứa nhỏ xoay sang nhặt một mẩu giấy vụn, lê xuống đất ngồi nghịch.

- Chị là vợ của binh nhì Lê Văn Ngãi phải không?

- Sao? Đúng rồi.

Ông già ngồi xuống bậc cửa thở dốc, ho vài tiếng rồi vén khăn lau mồ hôi trên trán, trên mặt. Một khoảnh khắc im lặng trong văn phòng, rồi người đàn bà:

- Bây giờ chồng tui ở đâu?

- Quân y viện. Quân y viện Nguyễn Huệ, Nha Trang.

Một anh lính khác:

- Đã chuyển về Cộng Hòa rồi mà?

- Không biết đã chuyển chưa nữa.

Bây giờ thì ông già mới đứng dậy, bước tới bên cạnh người đàn bà, nói chậm rãi:

- Sao một người nói ở Nha Trang, còn một người thì nói ở Cộng Hòa, ai biết đâu mà kiếm.

- Cái đó chúng con chưa biết được, cụ...

- Các ông không biết thì ai mới biết. Con tui...

- Để con nói cho cụ nghe: hồi anh Ngãi ở đây thì chúng con biết nhưng bây giờ ảnh được đưa về quân y viện rồi. Ở Nha Trang hay ở Sài Gòn thì phải hỏi lại quân y viện mới rõ.

- Trời ơi, làm sao tui đi hỏi cho thấu.

Anh lính nhìn ông già, nhìn chị đàn bà rồi quay sang phía người hạ sĩ quan. Không ai trả lời tiếng nào, không khí trong văn phòng cứng ngắc. Lâu sau, người đàn bà phân bua:

- Đi hai ba ngày mới tới đây, bây giờ các anh không biết thì tui làm sao.

- Chị ở Tuy Hòa lên?

- Tuy Hòa lên. Điện tín các ông không nói ảnh ở đâu hết...

Người hạ sĩ quan rời bàn giấy, tiến tới hỏi anh lính lúc nãy:

- Có công điện báo cáo chuyển nó về Tổng y viện Cộng Hòa không?

- Không biết, nghe nói lại.

- Ai nói?

- Hạ sĩ Tính?

- Nó đâu rồi?

- Lên hành quân rồi.

Đứa nhỏ bỏ rơi mẩu giấy vụn, loay hoay một lúc chợt nhìn thấy ổ khóa móc trước một căn tủ hồ sơ. Nó men đến gần, e dè đưa tay nắm lấy, không ai nói gì cả, nó bắt đầu trò chơi mới một mình. Tiếng người đàn bà thở dài. Chị lục trong cái xách tay lấy ra một chai nước lọc đưa lên miệng uống ừng ực. Uống xong chị chìa về phía ông già:

- Cha uống nước?

Ông già lắc đầu, xua tay, nói như than vãn:

- Con tui mấy ông đưa lên trên này, bị thương. Bây giờ các ông nói không biết nó ở đâu. Nó có bị thương không xài được nữa thì trả cho tui chớ.

- Đâu có phải như vậy, cụ. Anh Ngãi có rủi ro bị thương thì quân đội nuôi ảnh, săn sóc cho ảnh chớ; bọn con đâu có muốn...

- Thế thì bây giờ làm sao?

Câu hỏi rơi vào khoảng im lặng ngột ngạt. Không ai biết phải nói thế nào cả. Một người lính chiến đấu ngoài mặt trận bị thương, được đưa về quân y viện. Từ quân y viện anh ta có ra sao làm sao những người này biết được. Thế nhưng đó không phải là lần thứ nhất trường hợp thân nhân đến tìm và gặp khó khăn. Đã bao nhiêu lần, bao nhiêu người đã bị thương, đã chết mất xác thuộc đơn vị này, cho cuộc chiến này. Anh trung sĩ đứng yên nhìn đứa nhỏ đang loay hoay với trò chơi của nó, trí nhớ ray rứt vì những hoàn cảnh khó xử như thế đã lắm lần xảy ra. Thỉnh thoảng một ngọn gió thổi tới lành lạnh. Cơn giông đang tới gần kề bên ngoài. Ông già được một anh lính mang ghế mời ngồi. Người đàn bà vẫn đứng nguyên sau khi cho chai nước vào lại trong xách tay. Lâu lắm mới nghe anh trung sĩ lên tiếng:

- Thôi được, bác và chị đợi đó một lúc. Tôi thử liên lạc về Quân y viện Nha Trang xem sao.

Tiếng một người lính:

- Giờ này làm sao gọi về Nha Trang cho được.

- Cứ thử xem.

Anh trung sĩ bỏ đi về phía chiếc điện thoại. Đứa nhỏ đã gỡ được ổ khóa ra khỏi khuy, đang kéo một cánh cửa tủ ra. Nó gần như mừng rỡ lúc nhìn thấy từng chồng giấy tờ xếp trong đó. Nhưng anh lính nhìn thấy kịp, kéo nó ra ngoài, đóng tủ lại, bóp ổ khóa. Thằng nhỏ mếu máo khóc quay về với người mẹ. Anh lính buột miệng:

- Hồ sơ tử tuất không trong đó mà ham cái nỗi gì?

Một vài người trở lại với công việc dở dang của họ. Những người khác đấu với nhau về đủ thứ chuyện: trận Dakto, trận Benhet, trận tấn công vào cứ điểm A, Z..., chuyện binh nhì Ngãi... không có ai nhìn thấy ông già đang gần như khóc đằng một góc phòng.

Anh trung sĩ trở lại, thở dài:

- Xa quá, không liên lạc được.

- Gọi về Sài Gòn xem có nghe nổi không.

- Nha Trang mà không nghe được huống chi Sài Gòn.

Một tiếng sét đánh vỡ không gian đằng hướng Tây, sát dãy núi xa. Gió đập mạnh hơn trước vào những tấm phên tôn. Một người lính đứng dậy bước ra đóng cửa phòng lại để gió khỏi thổi tung giấy tờ trên các mặt bàn. Căn phòng chìm trong màu tối. Một chiếc trực thăng đáp xuống sân đằng xa. Người đàn bà rơm rớm nước mắt:

- Chừng nào mới hỏi được, trung sĩ?

- Để một lúc nữa xem.

Anh ta trở về bàn làm việc ngồi xuống ghế, lật chồng giấy tờ đang làm ra, suy nghĩ rồi xếp lại, đặt ở một góc bàn, đứng lên nói với ông già:

- Thôi, bây giờ bác và chị xuống khu gia binh nằm nghỉ đỡ mệt. Tôi liên lạc xong sẽ cho biết ngay. Chắc tối nay gọi về Nha Trang được.

Ông già vẫn im lặng. Chị đàn bà ngần ngừ một lúc rồi hỏi lại:

- Biết các ông có liên lạc hỏi giùm cho không?

- Có chớ. Bây giờ đường dây điện thoại bận rồi. Chị yên tâm, để tôi.

Chị xốc đứa nhỏ lên nách, tay kia níu cái xách đứng lên. Nhìn loanh quanh một lúc, chị lại nói:

- Trung sĩ cố giúp giùm. Khổ quá, hai ba ngày nay...

Xoay sang phía ông già, chị giục:

- Thôi đi chớ, cha.

Ông già bây giờ mới uể oải đứng dậy, tiếc rẻ, thở dài. Khuôn mặt ông gầy teo, chòm râu trên cằm ngả màu bạc trắng, hai lỗ mũi xì xịt. Cơn mưa đã đổ những hạt đầu tiên bên ngoài sân đất. Anh trung sĩ chỉ một người lính:

- Đưa xuống khu gia binh tìm chỗ nghỉ cho họ.

Mưa đổ rời rạc những hạt thật lớn trên mái tôn. Gió vẫn đập mạnh. Căn phòng trở lại yên tĩnh trừ tiếng máy đánh chữ gõ ngập ngừng trên mặt giấy. Lúc sau, một người hạ sĩ quan khác hỏi anh trung sĩ lúc nãy:

- Thằng Ngãi bị thương hồi nào?

- Hôm tiểu đoàn đi Dakto mười một ngày đó.

- Nặng không?

- Bể xương sọ.

- Bể xương sọ mà còn sống?

- Còn sống. Bị đạn pháo kích, mảnh đạn phá một miếng xương khá lớn. Chở về Pleiku rồi chuyển xuống Nha Trang.

- Bữa nay biết đâu chết rồi?

- Ai biết được, cứu kịp thì may ra sống nổi.

Một người lính nói bâng quơ:

- Quân y viện này chuyển sang quân y viện kia thì chịu sao nổi. Phải hồi đó đưa vào bệnh viện dã chiến Mỹ thì hy vọng. Bây giờ còn chuyển về Cộng Hòa nữa...

- Ở Cộng Hòa cũng được chứ?

- Hồi thằng Thành cũng bể xương sọ, Mỹ nó chở đi mất, ở nhà mình làm hồ sơ tử tuất cho vợ nó lãnh tiền. Sáu bảy tháng sau lành bệnh nó về...

- Dám thằng Ngãi cũng được đưa ra Hạm đội thứ 7.

Anh trung sĩ:

- Nếu vậy ông già biết đâu nữa mà đi tìm. Từ Tuy Hòa lên đây, ngày mai có thể phải xuống Nha Trang, không có ở Nha Trang lại vô Sài Gòn.

Cơn mưa đổ áp bên ngoài tuôn xối xả trên mái tôn. Gió hất những sợi nước nhỏ vào trong phòng, cơn lạnh thấm vào da. Cả văn phòng hậu cứ thu dẹp hồ sơ giấy tờ vào tủ, mọi người đốt thuốc lá tiếp tục câu chuyện về các bệnh viện và anh binh nhì Lê Văn Ngãi. (còn tiếp)

--> Read more..

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2007

Nỗi buồn với sách

THẾ VŨ

Dăm năm trở lại đây tại các đô thị, nhiều nhà sách được đầu tư kinh doanh với quy mô lớn, bày bán rộng rãi cực kỳ đa dạng các loại sách thuộc mọi lĩnh vực nội dung đề tài, được in ấn rõ đẹp trên giấy trắng tốt. Chợt bồi hồi nhớ lại cái thời chưa xa sách in trên giấy vàng xỉn, sách hay phải mua bằng giấy giới thiệu, thẻ ưu tiên, xếp hàng đăng ký trước... mặc dù số lượng in hồi ấy lớn gấp hàng chục lần bây giờ.

Những người mê đọc sách ắt dễ dàng nhận ra một điều: trước đây mỗi cuốn sách - nhất là sách của các nhà xuất bản có uy tín, làm ăn nghiêm túc - thường có kèm theo một tờ đính chính những lỗi in sai, còn ngày nay rất hiếm thấy. Chẳng phải sách bây giờ in ấn ít sai sót hơn, mà ngược lại! Hình như người làm công tác xuất bản ngày nay ít quan tâm đến việc này so với trước. Hoặc do việc xuất bản sách bây giờ phần nhiều được giao khoán cho biên tập viên, tư nhân tự lo từ A đến Z, và mọi người quá chú trọng vào việc chạy theo số lượng, quá bận tâm vào việc thỏa mãn thị hiếu công chúng. Người đọc chọn mua được một tựa sách hay, đáp ứng nhu cầu, hợp túi tiền… đem về trân trọng lật ra và… thất vọng đến mức bực bội vì sách có quá nhiều sai sót. Không phải cá biệt mà có thể nói khá phổ biến: trang sách chỉ với 200 - 250 từ mà hầu như trang nào cũng có thể nhặt ra được dăm lỗi, có khi hàng chục lỗi - không ít lỗi quan trọng như sai tên riêng, số liệu; lại có lỗi khá nghiêm trọng như mất hẳn một vài câu thơ, một vài dòng văn, làm sai lệch nội dung ý nghĩa, thậm chí nhầm lẫn cả thơ của tác giả này vào sách tác giả kia… Thế nhưng chẳng buồn đính chính! Lại cũng không phải chỉ lỗi kỹ thuật in ấn mà có cả lỗi biên tập, lỗi diễn đạt của người viết. Mất hơn trăm ngàn đồng mua bản dịch bộ tiểu thuyết nổi tiếng của một nhà văn hiện đại nước ngoài để rồi chuốc lấy sự bực mình vì đọc phải một bản dịch lôm côm với rất nhiều từ sai nghĩa, những câu văn rối rắm kéo dài hàng chục dòng ý nọ xọ ý kia, tối tăm khó hiểu; không thấy đâu là chất lượng văn học của một tác phẩm đang được dư luận nước ngoài đánh giá cao, lại càng thấy lo cho tương lai của tiếng Việt.

Cuốn sách nào cũng có ghi tên người chịu trách nhiệm xuất bản, người biên tập, người sửa bản in - đây là một quy định rất hay của ngành xuất bản nước ta. Vậy trước khi sách phát hành họ có kiểm tra lại sản phẩm? Biên tập viên có đọc lại bản in đầu tiên để lập bảng đính chính, người chịu trách nhiệm xuất bản có kiểm tra lại mức độ sai sót để quyết định cho in bảng đính chính kèm theo sách hay in lại những tay sách mắc nhiều lỗi nặng? Tác giả có đọc lại cuốn sách của mình trước khi đồng ý phát hành hoặc yêu cầu tạm ngưng để khắc phục những sai sót? Cơ quan nhận nộp lưu chiểu có kịp thời đánh giá chất lượng cuốn sách để cho phép lưu hành hay quyết định đình chỉ vì những sai sót - không phải chỉ riêng về mặt nội dung tư tưởng? Có lẽ phải như vậy sách in ra mới thực sự giúp ích cho người đọc và được người đọc tin cậy.

T.V

(Thanh Niên T4/22/2003)

--> Read more..

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2007

Mưa hồng

Sáng tác: Trịnh Công Sơn

Trình bày: Khánh Ly

Quý mến tặng Rùa

Trời ươm nắng cho mây hồng

Mây qua mau em nghiêng sầu

Còn mưa xuống như hôm nào em đến thăm

Mây âm thầm mang gió lên

Người ngồi đó trông mưa nguồn

Ôi yêu thương nghe đã buồn

Ngoài kia lá như vẫn xanh

Ngoài sông vắng nước dâng lên hồn muôn trùng

Nay em đã khóc chiều mưa đỉnh cao

Còn gì nữa đâu sương mù đã lâu

Em đi về cầu mưa ướt áo

Đường phượng bay mù không lối vào

Hàng cây lá xanh gần với nhau

Người ngồi xuống mây ngang đầu

Mong em qua, bao nhiêu chiều

Vòng tay đã xanh xao nhiều

Ôi tháng năm gót chân mòn trên phiếm du

Người ngồi xuống xin mưa đầy

Trên hai tay cơn đau dài

Người nằm xuống nghe tiếng ru

Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ.

--> Read more..