Thứ Năm, 8 tháng 11, 2007

THẾ VŨ – MỘT ĐỜI VĂN

PHÙNG TIẾT

Trong loạt sách phát hành nhân dịp kỷ niệm 20 năm sinh nhật Báo Thanh Niên (3.1.1986-3.1.2006), có tập sách tựa đề Thế Vũ, những trang văn để lại do Đặng Thanh Tịnh - Huỳnh Như Phương tuyển chọn và giới thiệu (NXB Văn Nghệ - Báo Thanh Niên TP Hồ Chí Minh 2006). Một tập sách có thể coi như gói trọn sự nghiệp sáng tác, viết lách của một đời làm văn, làm báo của Thế Vũ. Tôi và Thế Vũ là người cùng quê Ninh Hòa, Khánh Hòa, một miền quê như tất cả những miền quê khác trên miền Nam đầy bom đạn của kẻ thù xâm lược đồng thời cũng rất kiên cường, bất khuất trong cuộc chiến đấu chống giặc thù trước năm 1975. Nhưng có một điều đặc biệt là nơi đây có 3 trung tâm huấn luyện lớn của ba sắc lính ngụy, một cứ điểm lớn của quân đội Nam Hàn ngày đêm càn quét nên tính ác liệt càng dữ dội. Từ trong những ngày tháng mà bên cạnh những trận đánh lớn diễn ra ngày càng dồn dập và ác liệt của quân đội giải phóng miền Nam là sự căng thẳng, ngột ngạt vì lùng sục, bắt bớ, tù đày, khủng bố cuả chính quyền Sài Gòn đó, tôi đã đọc một số truyện ngắn của Thế Vũ trên các tạp chí Trình Bày, Ý Thức,…(các tạp chí công khai ở Sài Gòn trước 1975). Đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh về làm thầy giáo dạy văn một trường trong huyện, tôi với anh lại cùng chung công tác, dù thời gian không lâu... Chính vì vậy, khi đọc đi, đọc lại tập sách Thế Vũ, những trang văn để lại, từ phần TÁC PHẨM VĂN HỌC (gồm 20 truyện ngắn, hồi ức, trích tiểu thuyết được viết trước, sau 1975), đến phần MỘT SỐ TÁC PHẨM BÁO CHÍ (2002-2004) (gồm 16 bài viết về một số vấn đề nhạy cảm của xã hội trong thời điểm này), và cuối cùng là phần TRONG KÝ ỨC NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI (gồm 12 bài viết của bạn bè tác giả)… tôi thêm khẳng định rằng anh là một nhà văn, nhà báo mực thước. Mực thước trong nhìn nhận,suy nghĩ, tái hiện hiện thực cuộc sống quanh anh; mực thước trong lối dựng chuyện, hành văn, sử dụng câu chữ… Trong cái mail duy nhất anh gởi cho tôi (tháng 1/2004) , anh có nhắc với tôi câu “Lập thân tối hạ thị văn chương”, nhưng cả đời anh cái nghiệp văn chương đeo đẵng một cách nghiệt ngã, bi tráng. Bi tráng như hình ảnh những cơn mưa tầm tã, tàn bạo, thê lương trong những trang văn của anh. Bất chợt, tôi nhớ đến cái mà Clément Rossé gọi là triết lý bi đát (philosophie tragique) khi nói về mưa trong tác phẩm của E.Hemingway. Chắc chắn với Thế Vũ không chỉ là bi đát! Tôi không thích dựng lại chân dung Thế Vũ theo cách cảm, cách nghĩ của riêng tôi. Trong phần TRONG KÝ ỨC NHỮNG NGƯỜI Ở LẠI ở cuối tập sách, những cây bút đang sống và viết trên khắp mọi miền của đất nước hôm nay đã viết về anh. Tình cảm của họ đối với anh được bộc bạch đa chiều, đa dạng. Có thể đó là những kỷ niệm trong quá khứ đã lắng sâu dưới lớp thời gian chật vật nay được khơi dậy, cháy bùng lên, phơi bày ra; có thể chỉ là những gặp gỡ mới đây nhưng cũng vừa đủ ngấm vào lòng người, tạo nên một tình cảm chân thành, sâu nặng khi phải vĩnh viễn xa cách anh. Thật xúc động khi đọc những trang viết đầy tình thân bằng hữu, đầy kỉ niệm sâu đậm trong nghề văn và quan hệ đời thường. Mỗi bài viết như khắc hoạ một mảnh đời của Thế Vũ, và khi đem ghép lại những mảnh rời “trong ký ức những người còn lại” ấy, ta dễ dàng hình dung một cách khá trọn vẹn một nhà văn, nhà báo Thế Vũ – một con người mà “Một số bạn bè cho rằng Thế Vũ khó tính, nét mặt lúc nào cũng đăm đăm. Đối với tôi, Thế Vũ không khó tính, luôn luôn sẵn sàng vì bạn, đồng thời đòi hỏi bạn phải thật lòng” (Thế Vũ, trong tình thân bằng hữu - Trần Huiền Ân ), “….Anh đã vào Sài Gòn từ lâu rồi, nhưng trong tâm khảm tôi, hình ảnh anh luôn gắn liền với Nha Trang… Có lẽ vì Nha Trang là biển, mà anh cũng như biển vậy, khắc nghiệt mà bao dung, làm cho người ta sợ mà cũng làm cho người ta quý mến thật nhiều…” (Anh Thế Vũ – Trần Thùy Mai), “…Anh cũng hoàn toàn dị ứng với những trò bốc phét và dối lừa, lợi dụng lẫn nhau từ trong đời sống văn chương cho tới ngoài xã hội. Vô phước cho ai cứ tưởng rằng lấy lòng nhà biên tập là tác phẩm của mình mau chóng được giới thiệu, Thế Vũ cực kì ghét cay ghét đắng điều đó…” (Còn lại nơi này- Ái Duy), và “….cho đến bây giờ, khi anh đã mất,chúng tôi mới nhận ra rằng chúng tôi đã vĩnh viễn mất đi một người thầy, một người anh, một người có đôi mắt xanh đầy hiểu biết, hết lòng với cái đẹp sang cả và đích thực của văn chương, chan chứa tấm lòng thương mến, bao dung với thế hệ đàn em”. (Viết là đi trên chặng đường dài - Phan Hồn Nhiên). Đó là Thế Vũ.

Thế Vũ viết ít. Một đời văn với hơn 30 năm cầm bút, tác phẩm anh để lại chỉ gói gọn trong hơn 400 trang sách, quả là quá ít ỏi. Nhưng công bằng mà đánh giá, năng lượng dồn nén trong mấy trăm trang văn ấy là rất lớn, nhất là những trang văn anh viết trước 1975. Năng lượng ấy có sức lay động những trái tim, tạo sự đồng cảm sâu sắc, thúc giục nhau đứng lên trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do đã qua, cũng như chia sẻ và đi đến tận cùng những buồn vui cuộc sống hôm nay.

Như đã nói ở trên, ngập tràn trong những trang văn viết trước năm 1975 là mưa, “…mưa tầm tã và lạnh” (Tìm kiếm một người), “…cơn mưa mù trời” (Mù tăm), “Cơn mưa buổi chiều úp chụp lên nỗi rời rã… Âm thanh buồn bã của cơn mưa đổ trên rừng cây và đá núi…” (Người về), “…những hạt mưa lạnh buốt táp vào mặt…” (Giấc ngủ), “Đó là những ngày mưa mù bất tận của tuổi thanh xuân…” (Mưa trên lầu bát giác), v.v… Mưa, dù ở bất cứ nơi nào, thời điểm nào. Nó bao trùm lên mọi vùng miền sự bi thảm của cuộc sống đang ngày đêm quằn quại, diễn ra dưới sự tàn bạo, dã man của kẻ thù xâm lược. Dưới những cơn mưa ấy, nhân vật trong truyện ngắn của Thế Vũ mang thân phận bi thảm và phi lý của những con người bé mọn, lớn lên trên quê hương bị giày xéo; bản thân họ hoặc người thân họ bị bắt bớ, tù đày, hoặc làm thân phận một tên lính đánh thuê với “những vòng hoa ngụy tín”, …trong cái gọi là chế độ cộng hòa, hoặc trên các chiến trường, trên phố phường, nơi làng quê, hoặc trong nhà tù Mỹ-Nguỵ. Và đằng sau những cơn mưa đó, những cảnh đời , những số phận “như đàn kiến bò quanh bức tường rêu xanh mốc, ê chề và mệt mỏi” (Một ngày trong thung lũng) đó, là sự phản kháng từ yếu ớt “…lúc nhỏ làm sao mình biết được sau này có ngày xấp xỉ ba mươi tuổi mình lại sống khốn cùng đến như thế. Người lớn và nhà trường đã chỉ dạy cho chúng ta biết đến hạnh phúc và mọi cách đạt đến hạnh phúc đó, người ta đâu đã dạy cho chúng ta biết gì hơn về những đời sống khác. Khi sống một đời sống khốn nạn chúng ta mới biết được rằng những điều chúng ta đã học hỏi được mười năm trước đây thực vô ích biết chừng nào…” đến mạnh mẽ hơn “Bây giờ nếu có bị bắt lại cũng được, tôi sẽ vào tù, rồi ra trận rồi lại đào ngũ nữa” (Mùa đông); là sự bùng lên từ trong ý thức lòng yêu nước của những con người sinh ra và lớn lên trong lòng miền Nam bom đạn, đau thương, đến những hành động phản kháng cụ thể trong thời điểm lịch sử đen tối đó. Họ bắt đầu “… hát bằng con tim bừng nóng….Tiếng hát vang lên hồi đầu đêm, hồi nủa khuya, hồi mờ sáng,..đó là tiếng reo hò quyết liệt lên án chế độ dã man cai trị bằng roi vọt, lên án những âm mưu đen tối khác của kẻ cầm quyền, tiếng reo hò phản kháng thoát ra từ những phòng biệt giam…” (Mưa trên lầu bát giác). Dù nhìn ở góc độ nào, những truyện ngắn anh viết giai đoạn 1970-1975 (Người về, Ngày mới đến Pleiku, Những vòng hoa ngụy tín, Mưa trên lầu bát giác, tiểu thuyết Về từ Trường Sơn…) cũng đã có một vị trí trong nền văn học phản kháng công khai trong các đô thị ở miền Nam và bước đầu hoà nhập trong dòng văn học chống Mỹ cứu nước, nó góp phần phản ánh một xã hội cực kỳ phân hoá trong sự phồn hoa giả tạo, sự hủy diệt thiên nhiên, con người; nó góp thêm sức mạnh tố cáo tội ác dã man, sự ngụy trá của kẻ thù; nó nhen nhúm, thổi bùng ngọn lửa yêu nước thương nòi giống và sức mạnh phản kháng, đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước. Hơn bốn năm, dù thời gian không dài, và đặc biệt có lúc sống trốn tránh trong lòng các đô thị, từng giờ từng phút đối diện với sự khủng bố ác liệt cũng như có lúc sống trong thân phận đắng cay của một lao công đào binh, trong tù đày... hình như Thế Vũ chưa bao giờ mất niềm tin, anh viết theo những gì mình cảm và nghĩ về cuộc sống; và viết được như thế đã là một sự dũng cảm chấp nhận hy sinh, và một sự đóng góp đáng trân trọng. Truyện ngắn của anh được biểu hiện như một cách dấn thân của tác giả trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc trong công cuộc chống giặc ngoại xâm.

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, trong cuộc đổi đời chung, vẫn với sự mực thước, điềm đạm, trầm tĩnh… ngòi bút của Thế Vũ tiếp tục khi tung tẩy, khi cày xới trong ý thức công dân của một đất nước độc lập, tự do. Chồng chất, đan chéo những sự việc, sự vật, con người giữa quá khứ, hiện tại, nơi thành phố, nông thôn, miền biển, miền núi… ngồn ngộn trở về trong từng truyện ngắn của Thế Vũ. Một loạt truyện ngắn Hương đất, Sự thật trong mơ, Gặp gỡ mùa hè, Tốc hành miền Trung, Câu chuyện bên hồ… Anh vẫn viết như cuộc sống đang diễn ra trong sự vốn có, và như thế đã tạo cho người đọc cảm giác đã bắt gặp những nhân vật ấy ở đâu đó giữa đời thường; những con người “…khao khát đến với biển, vậy mà số phận chỉ đưa…đến được với ao hồ” (Câu chuyện bên hồ) với diễn biến tâm lý phức tạp, xô đẩy giữa dòng đời đang bộn bề mới, cũ… Nếu những truyện ngắn trước đó, những trang viết của anh với giọng điệu lạnh lùng, khô khốc, đè nén thì những trang văn của thời kỳ này như mở ra, vừa đậm đà một chất trữ tình ngọt ngào,vừa len lách vào nội tâm sâu kín của đời người, với giọng văn chân thực và trong sáng, đồng thời đã cố đi hết số phận những nhân vật mà anh đã tạo nên...

Bên cạnh những tác phẩm văn học ấy là phần những tác phẩm báo chí. Với loại văn này, dễ nhận thấy tính cách của anh đằng sau nó. Cẩn trọng, chín chắn, suy xét tận cùng các ngõ ngách của vấn đề và với văn phong báo chí cô đọng, súc tích anh đã đụng chạm đến nhiều vấn đề nhạy cảm đang từng ngày, từng ngày phơi bày ra trước chúng ta, và tìm kiếm, đề xuất cách giải quyết để góp phần kiến tạo cuộc sống xã hội ngày một ổn định, tốt đẹp hơn (Cẩn trọng với Tiếng Việt, Tiêu chí, Lộ trình nào? ….), hoặc giả khắc họa khái quát chân dung những cây bút bạn bè một thời để tưởng nhớ, tiếc thương (Trần Vũ Mai, như tôi biết, Nguyễn Nguyên - lặng lẽ một đời văn, Nhớ Kim Tuấn - Pleiku, Thương tiếc nhà văn hóa dân gian Nguyễn Thế Sang)…

Gấp lại tập sách dày dặn Thế Vũ- Những trang văn để lại, tôi rất đồng tình với nhận xét của Huỳnh Như Phương trong Lời tựa cho tập sách “Văn Thế Vũ là một thứ văn gắn liền với đời sống, hay có thể nói, cuộc sống cựa quậy trong văn ông. Những yếu tố hành động của cốt truyện thường không rõ nét, nhưng bù lại dòng ý thức trôi chảy tạo nên một cái mạch tâm lý nhất quán trong tác phẩm. Sau một phần ba thế kỷ, đọc lại những truyện ngắn trong tập này, ta vẫn thấy ngôn ngữ văn xuôi Thế Vũ hòa nhập được với ngôn ngữ văn xuôi đương đại”. Và “…Bản thảo còn dở dang, Phan trong tiểu thuyết chưa đi được tới đích của cuộc hành trình. Nhưng Thế Vũ đã hoàn thành chuyến đi ấy. Anh đã tìm được lẽ sống để suốt đời sống và hướng ngòi bút của mình theo lẽ sống ấy” (lời của Ban biên tập NXB Văn Nghệ khi giới thiệu Di cảo tiểu thuyết Về từ Trường Sơn). Một tập sách lấp lánh vẻ đẹp văn chương, có sức nặng về niềm tin vào lẽ phải. Nếu đằng sau hình tượng nhân vật là hình tượng tác giả, thì “thà cam tâm chịu đựng cảnh ngục tù đày đọa hơn là thỏa hiệp với tình thế bạo ngược của chiến tranh. Cái đã khiến cho anh đi đến quyết tâm đó là lẽ phải, lẽ phải đã nhắn nhủ với anh như vậy” và “Anh không ưa mặc cảm hèn nhát, với anh không gì tệ hại hơn sự nhu nhược, gian dối với chính lòng mình. Nhưng ở đây anh không muốn biến thành trò chơi của kẻ khác, mặc cho họ đẩy đưa, giày xéo mà không lên tiếng phản kháng” (Mưa trên lầu bát giác). Và tất nhiên, chúng ta cũng thế!

P.T
(Tạp chí Nha Trang – Số 128 , tháng 5/2006)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét