Thứ Hai, 5 tháng 11, 2007

Mưa trên lầu bát giác (phần 1)

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Hình như thời tiết ngoài thành phố đã trở rét. Bên trong những phòng giam, cái nóng bức ngột ngạt của những tháng hè đã dịu lại phần nào. Những buổi trưa hàng trăm tù nhân ngồi chen chúc bên nhau thở hào hển, lau mồ hôi trên trán, trên ngực, trên lưng không ngừng tay, những đêm khuya họ phải ép mình sát bên nhau nóng bức, trăn trở, mỗi người một chiếc quạt giấy, một số lớn để trần truồng tênh hênh thiếp ngủ trong sự mê mệt bởi thời tiết, trông giống như một nhà ướp xác, cái cảnh tượng đó vào những ngày này đã giảm bớt. Khuya về sáng trời nhen nhúm lạnh, cái lạnh chỉ vừa đủ để hàng trăm người chen vai sát cánh nhau trong một phòng giam nhỏ hẹp thấy được hơi mát để ngủ yên giấc. Buổi trưa quy luật riêng của phòng giam không cho họ ngủ, hơi người bốc lên vây tỏa ngột ngạt, những chiếc quạt giấy cử động xoành xoạch đều đặn trên tay mọi người, họ ngóng chờ giờ mở cửa sinh hoạt buổi chiều. Thoạt nhìn, dường như sinh hoạt trong lao tù chỉ khác nhau ở hai lần mở và đóng cửa phòng giam vào buổi sáng và chiều với hai buổi trưa và tối đóng khung trong bốn bức tường. Thời khắc được quy định rõ ràng và khắc nghiệt, mười giờ đêm mọi người đều phải nằm ngủ. Những người không cố gắng ngủ được thì phải nằm nhắm mắt và mọi sự đứng ngồi từ lúc đó cho đến sáu giờ sáng khi có lệnh chào quốc kỳ, nếu không có lý do thật thiết yếu, đều được đánh giá như có ý đồ vượt ngục.

Kỳ đài nằm ở giữa sân, nơi mà từ tám phía của ngôi lầu mọi tù nhân đều có thể hướng mặt về trong giờ hành lễ ngoại trừ những phòng biệt giam và cấm cố được xây bít bùng. Lá cờ, khi đã được kéo lên, phô trương sự tự do của xứ sở này trên nóc một tháp nước cao mà lối kiến trúc – từ thời mất nước trong tay thực dân cũ – khiến cho người ta liên tưởng tới một thanh kiếm vĩ đại cắm ngược xuống mặt đất. Theo lời một số nhân vật kỳ cựu trong đời sống lưu đày tù tội, thanh kiếm vĩ đại đó tượng trưng cho sức mạnh của chế độ, và nó cũng là một thành phần chính yếu trong một lá bùa ếm lên toàn thể kiến trúc trại giam. Vẫn theo những nhân vật đó, lá bùa tiềm tàng một sức mạnh mãnh liệt khó có thể hóa giải nổi. Họ chứng minh điều này bằng mười hai cánh cửa ngục đóng lại từ cổng nhà tù vào đến mỗi phòng giam, bằng sự kiện chưa một tù nhân nào vượt khỏi trại giam khổng lồ này mà không bị phát giác, sự kiện mọi người đã từng trải qua một lần giam cầm tại đây, dù là chính trị phạm hay thường phạm, dù bị giam một cách oan ức hay là kết quả của một vụ phạm pháp quả tang, không ai tránh khỏi phải trở lại nơi này những lần sau. Và sau hết, sự kiện những kẻ gục chết trong nhà lao này trước khi mãn án đã trở thành những hồn ma vất vưởng qua khắp mọi ngõ ngách trại giam, đặc biệt là khu vực biệt giam và cấm cố là nơi đã có không biết bao nhiêu tù nhân, nhất là chính trị phạm, đã bị hãm hại đến chết một cách tức tưởi, thảm thiết và đầy căm hờn, họ trở thành những hồn ma mất tự do không thể nào thoát ra khỏi mười hai cửa ngục...

Đó là điều mà anh đã nghe qua các câu chuyện với những người bạn tù trong suốt mấy tháng bị giam cầm vừa qua. Dường như anh có nghi ngờ cũng như nhiều người khác đã từng nghi ngờ, tuy nhiên anh lại chưa nghe một kẻ nào lên tiếng phủ quyết những điều đó. Đôi khi giữa giấc ngủ hồi nửa đêm hay khuya về sáng, anh đã nghe tiếng la hét vang dội từ một phòng giam nào đó trong ngôi lầu bát giác kín bưng này, tiếng la hét rợn người luôn luôn đánh thức toàn thể trại giam. Những người bạn tù giải thích cho anh hay rằng đó là hồn ma hiện về bay chập chờn trong một phòng giam nào đó, đánh thức đám tù nhân dậy để nhìn hồn oan kẻ đã chết oan ức mà vẫn không được trả tự do. Anh không hoàn toàn tin nhưng không khỏi sợ hãi trong những lần về sau, khi nghe tiếng la hét tương tự. Anh cũng không thể trấn an mình trong những đêm khuya thao thức nằm mở mắt nhìn ngọn điện mù đỏ trên trần trong lúc mọi người thiếp ngủ. Những người bạn tù thâm niên còn kể lại cho anh hay rằng đôi khi bầy ma quái đó đồng loạt hiện về như trong một đại hội, xông vào mọi nhà giam, đánh thức mọi người dậy, tiếng la hét vang rợn kéo dài khắp nơi, từ góc trại này sang góc trại khác qua hơn một trăm phòng giam. Có khi hồn ma chỉ xuất hiện ở một phòng giam nào đó nhưng lại nhất định không biến đi như lệ thường sau tiếng la hét kéo dài, tù nhân buộc phải kêu cứu cho đến khi bọn trật tự viên và giám thị đem chìa khóa đến mở cửa cho tù nhân thoát ra ngoài sân, hồn ma mới chịu biến đi. Có một thời kỳ, hằng đêm, nơi các dãy biệt giam và cấm cố, tù nhân nghe tiếng chân người bước đi bên ngoài hàng lang kéo theo từng tiếng xích xiềng rổn rảng, từ dãy lầu này băng qua dãy lầu kia mặc dù ở đó đều có cửa ngăn luôn luôn khóa chặt. Tiếng xích xiềng rổn rảng kéo lê hằng nửa giờ, người ta không thể giải thích bằng cách nào khác hơn là những người cấm cố lúc chết đi vẫn còn mang nặng xích xiềng, nay trở về bước đi trên hành lang cũ.

Đứng từ một phòng giam trên lầu nhìn xuống, qua những chấn song sắt, khu vực sinh hoạt thường ngày lúc cửa mở cho hàng chục ngàn tù nhân trong trung tâm là một khoảng sân bị chia cắt thành tám mảnh nho nhỏ bởi những bức tường cao quá đầu người với dây thép gai bên trên, và tâm điểm của khoảng sân là ngôi tháp nước cao lớn. Trên sân, trong giờ sinh hoạt tự do, tù nhân được quyền đi lại cho thoải mái, mỗi góc tường chia cắt là một hồ nước chứa, nơi tù nhân có thể chen chúc tắm rửa một cách tự do. Sau giờ điểm danh rồi khóa cửa phòng giam, trên sân chỉ còn lại rải rác những tù nhân lao dịch, bọn tù trật tự viên và an ninh. Thỉnh thoảng một cơn gió xoáy mạnh vào ngôi lầu bát giác, hốt tung bụi dưới sân. Những con chim sẻ đậu trên mái ngói xám mốc, đậu trên nóc kỳ đài một cách thật nhàn nhã làm cho người tù, những kẻ khát tự do không khỏi mơ ước được bé nhỏ lại và mang thêm đôi cánh. Bầu trời phía trên cao, nhìn từ bất cứ một góc nào của trại giam như một đáy vực sâu thăm thẳm. Những đêm trăng sáng, bầu trời xanh thẳm và đầy sao, lầu bát giác trông uy nghi lạ lùng. Đó là lúc mà người tù không còn tìm thấy nơi mình một sự liên hệ nào với đời sống bên ngoài, cái thế giới ở đây hoàn toàn cách biệt, u trầm, hung hiểm như người ta đang sống trong một tòa lâu đài xây cất giữa lòng sa mạc. Có lẽ quả thật đây là một sa mạc, sa mạc nhiễu nhương và áp bức, lòng căm thù lớn mạnh với sự đọa đày, nếu ở nơi kia con người khát khao từng giọt nước và được trả lời bằng những cơn bão cát tạt vào mặt thì ở nơi đây con người khát khao lẽ phải và được trả lời bằng những ngọn roi.

Những ngày mưa chợt tới. Mưa liên miên suốt ngày đêm, nước đọng đầy trên những khoảng sân hẹp. Trong những giờ mở cửa phòng giam, tù nhân đứng ngồi lúc nhúc trên khoảng hành lang hẹp. Những kẻ mới trải qua những ngày đầu mất tự do, những kẻ mang nặng lòng trắc ẩn đứng bám vào song sắt nhìn đăm đăm ra ngoài trời. Có lẽ đó là những ngày buồn bã nhất trong đời họ, những ngày mưa đã khiến cho người ta nghĩ đến tương lai mịt mù trước mắt, và điều đó càng làm cho người ta có cảm tưởng bị vây bủa ngột ngạt hơn. Những buổi tối nhìn ra ngoài bầu trời ẩm ướt, anh đã để tâm trí mình tự do hồi tưởng lại những ngày cơ cực nhất trong quá khứ đời mình, đó là những ngày ấu thơ khốn khó ở quê nhà, đó là những ngày sống trên tỉnh thành thời kỳ anh vừa giã từ trường lớp chuẩn bị du mình vào cuộc sống nghiệt ngã, anh đã lội dưới mưa qua những con phố bẩn nhớp, kẹp trên tay điếu thuốc lá đầu đời, đứng chông chênh giữa hai thế giới quá khứ và tương lai, tuổi nhỏ và thời trưởng thành, hoài vọng và thực tế... Đó là những ngày mưa mù bất tận của tuổi thanh xuân của anh trên những miền chiến địa, lẽ phải và ngụy trá, sống và chết. Ba mươi tuổi, mỗi ngày anh càng thấy đời mình bị ép mỏng hơn như một con mắm chờ ngày tan xác.

Anh mang số đính bài 9002, bị tống giam từ cuối mùa hè vì tội đào ngũ ngoài mặt trận và sử dụng công chứng thư giả mạo khi trở về thành phố. Đó là hai tội trạng quá rõ ràng, có thể bị kết án tử hình. Tuy nhiên anh đã sáng suốt hơn bao giờ hết khi phạm pháp, nhất là đối với tội trạng thứ nhất, bởi vì anh cũng như nhiều người khác hiểu rất rõ rằng thà cam tâm chịu đựng cảnh ngục tù đày đọa hơn là thỏa hiệp với tình thế bạo ngược của chiến tranh. Cái đã khiến cho anh đi đến quyết tâm đó là lẽ phải, lẽ phải đã nhắn nhủ với anh như vậy.

Nhà tù, như danh nghĩa mà nó vẫn xưng, là một trung tâm cải tạo tư tưởng cho kẻ phạm pháp. Tuy nhiên kể từ ngày bị tống giam, chưa bao giờ anh thử đặt câu hỏi liệu mình có bị cải tạo tư tưởng theo đường lối của bọn thống trị đề ra hay không bởi vì từ khởi đầu anh đã biết rõ thực chất của nó. Anh xem thường nó hơn là một thách đố, ngay cả vào cái buổi đầu tiên khi anh bị bọn tù giai cấp cai trị tung hai cú đá vào ngực sau giờ chào cờ, lý do là anh không xếp hàng ngay ngắn. Những ngày tiếp theo đó là những hành động đàn áp và bóc lột khác mà anh phải chịu đựng, và dần dần anh đã chịu đựng được một cách khá dễ dàng. Cái nhận xét đầu tiên sau một tuần lễ anh trải qua trong tù là cái cách thức cai trị tù nhân khác với chế độ thực dân cổ điển, những giám thị trại giam dưới chế độ này chỉ là những thằng bù nhìn, những kẻ thực sự nắm quyền cai trị ngoại trừ ban quản đốc có nhiệm vụ chấp hành chỉ thị chính quyền, thành phần chủ yếu điều hành tất cả mọi việc trong trại giam là những tù nhân có thành tích khét tiếng và những tù nhân vốn giàu có, chúng mang danh nghĩa là trật tự viên, là nhân viên an ninh, là những kẻ đại diện phòng giam, là thư ký, là nhân viên công vụ. Những tù nhân bình thường bị giai cấp tù cai trị bóc lột và hành hạ thường xuyên ngay dưới mắt giám thị, nhưng mọi sự đều không bao giờ được giải quyết ổn thỏa bên ngoài phòng giam nếu kẻ bị bóc lột và hành hạ không chịu ngoan ngoãn và biết điều. Phần thắng và mọi sự ưu đãi luôn luôn nằm trong tay giai cấp tù cai trị. Những lợi lộc mà giai cấp tù cai trị bóc lột được từ kẻ khác luôn luôn được chia sẻ cho bọn bù nhìn nằm dọc theo hành lang các phòng giam. Ngược lại mọi sự chống lại giai cấp tù cai trị đều bị đánh giá một cách nặng nề như đó là hành động chống báng đường lối cải tạo của trung tâm.

Những ngày đầu tiên anh không làm sao nuốt nổi những hạt cơm mà nhà lao phát cho. Nhiều ngày liên tiếp, anh nhận lãnh một khẩu phần cơm hằng bữa – vừa đủ cho một con mèo nhỏ – đặt trước mặt và ngồi nhìn, ứa nước mắt. Gạo đỏ hẩm nấu sống, lẫn lộn trong đó là những mẩu than vụn nát, đất cát và phân chuột. Mỗi ngày cơm được phát ra hai lần vào lúc tám giờ sáng và mười bốn giờ chiều. Bữa cơm sáng không có thức ăn, cá và rau chỉ phát kèm theo bữa cơm chiều, mỗi tù nhân có thể lãnh được một hay hai cọng rau muống, có khi khoảng mười người chia nhau một củ cải, phần cá thì mỗi người có thể kiếm được một góc xương với nước tanh tưởi đến lộn mửa. Mặc dù ở ngoài đời anh vốn là một người nghèo khó nhưng không làm sao nuốt trôi các món đó. Những tù nhân mới bị tống giam cũng thế. Tuy nhiên cái đói dần dần dạy cho con người biết thích hợp với hoàn cảnh, những ngày về sau anh bắt đầu nhắm mắt nuốt phần cơm bẩn thỉu của mình để có thể sống. Lúc ăn, anh còn khám phá ra thêm một điều tệ hại: mặc dù cơm còn nóng bốc hơi nhưng nó lại tanh và thiu lạ kỳ. Đa số tù nhân đã ở lâu đều được thân nhân thăm nuôi mỗi tuần lễ một hai lần, bởi vậy họ có được những bữa ăn khá hơn, một ít người ăn uống khá đầy đủ như đời sống tự do bên ngoài.

Tại sao người ta không thể cho tù nhân được lãnh những phần cơm khá hơn, đúng với khẩu phần ấn định, được nấu chín và sạch sẽ hơn, không sống, không thiu và chua và lẫn lộn những than vụn, đất cát, phân chuột? Hình như mọi tù nhân đều đã đặt câu hỏi như vậy chứ không riêng gì anh. Tại sao phần ăn dành cho chính trị phạm luôn luôn đầy đủ gấp ba lần thường phạm? Có một thời kỳ chính trị phạm phản đối mạnh mẽ trước ban quản đốc trại giam về việc khẩu phần ăn của họ bị cắt xén, và để giải quyết, ban quản đốc đã cho phổ biến một bảng thông báo xuống thành phần giám thị, và có thông báo rộng rãi cho mọi tù nhân rõ, rằng kể từ ngày ký thông cáo, ban giám đốc triệt để cấm ngặt mọi việc đem cơm ra khỏi khu hỏa thực để cung cấp cho nhà thầu trước giờ phát cơm cho tù nhân. Bảng thông báo đó vô tình lại tố cáo cho người ta thấy rõ hơn thực chất của sự việc: lý do nhà tù không cấp cho tù nhân những phần cơm khá hơn là vì nếu như thế số cơm thừa sẽ ít đi. Đồng thời cái thông cáo cũng không thực sự cải thiện được gì, trước kia người ta đem ra cho nhà thầu thực phẩm dư trước khi phân phát cho tù nhân, bây giờ người ta vẫn dành lại từng ấy cơm gọi là thừa để cung cấp cho nhà thầu sau giờ phân phát cho tù nhân! Tuy nhiên về một phương diện khác, bảng thông cáo xét ra lại cần thiết để bảo vệ đường lối cải huấn của trung tâm: nó ngụy trang một tính chất nhân đạo trong việc tiếp tục bóc lột tù nhân.

Tai họa đến với anh vào một buổi chiều giữa lúc mưa lớn ở bên ngoài những chấn song sắt hành lang. Một thanh niên lạ mặt ăn mặc khá hợp thời trang và sạch sẽ bước đến chỗ anh đang ngồi với một ít anh em tù nhân mới đến trên dãy hành lang đông lúc nhúc người. Nhìn thẳng vào mặt anh giữa khi anh còn đang say sưa với câu chuyện, gã ngắt lời hỏi anh:

- Mày tên T. có phải không?

Ngưng câu chuyện, anh đưa mắt nhìn kẻ vừa hỏi đúng tên mình. Anh nghĩ ắt hẳn phải có một sự liên hệ nào đó giữa mình và kẻ kia, biết đâu hắn là một người quen cũ mà anh đã quên. Vui vẻ đứng lên, anh trả lời phải với kẻ hỏi mình:

- Có phải mày mang số đính bài 9002?

- Vâng đúng...

- Vào mặc quần áo rồi ra đây, lẹ lên.

Câu cuối cùng nghe có vẻ như một mệnh lệnh. Anh bắt đầu một sự ngờ vực, nhưng vẫn vội vã vào phòng xin phép ban đại diện phòng được lấy quần áo để mặc. Lúc trở ra hành lang, anh nhận thấy không phải chỉ có một mình kẻ vừa hỏi tên mình mà còn đến hai ba người khác đang chờ anh. Kẻ đã hỏi tên anh nói với những người kia:

- Nó đấy.

Nhiều cặp mắt nhìn vào mặt anh, rồi giữa lúc bất ngờ, một nhát dùi cui quất vào giữa mặt khiến anh không kịp tránh né. Hai ba người cùng nhào đến, cùng ra tay một lúc, anh lãnh gọn gàng những nhát dùi cui vào đầu, vào vai, vào lưng. Anh ngã xuống trên hành lang đông người nhưng không hiểu từ bao giờ bọn tù đã tránh xa dành cho anh và bọn người kia một khoảng trống thuận lợi để anh lãnh trọn một trận đòn đáng giá. Chúng đạp lên mặt, lên ngực và bụng anh, đá thốc vào mặt anh, cho đến một lúc anh tưởng như mình không cần cử động né tránh gì nữa, xuôi tay mặc cho sự khủng bố kéo dài. Bọn chúng dừng tay khi một tên nói:

- Đưa nó về.

Anh nghe được giọng của gã trưởng phòng giam cất lên:

- Việc gì vậy?

- Liên lạc với bọn chính trị.

- Đưa nó đi đâu?

- Điện ảnh.

Chúng lôi anh đi như lôi một con chó sắp bị cắt tiết. Anh không thể nhớ được là làm cách nào anh có thể xuống hết cầu thang xoáy trôn ốc từ lầu ba, đã đi thế nào dọc suốt con đường hầm với rất nhiều lỗ hổng của ống cống dẫn phân để đến phòng điện ảnh. Anh chỉ nhớ là mình đã bị lôi đi qua khu vực đường hầm đó với mùi hôi thối khủng khiếp xông lên nồng nặc đến lộn mửa. Đây là con đường hầm dẫn suốt qua tám khu vực của trại giam, nơi mà lần đầu tiên đi qua tù nhân có cảm tưởng như đang được dẫn đi đúng vào con đường xuống địa ngục vào lúc họ rời văn phòng tiếp nhận can nhân sau khi lập xong các thủ tục giam cứu, được dắt về phòng tạm giam vào buổi tối dưới những ánh đèn tù mù đỏ ngoét trên trần đường hầm soi xuống. Mỗi bước đi, người tù có cảm tưởng rõ rệt là mình mỗi gần hơn với địa ngục mà từ trước nó vốn chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

Anh lờ mờ suy đoán khi đi dưới đường hầm rằng ngay khi về tới phòng điện ảnh, chắc chắn người ta đã dành sẵn cho anh một trận khủng bố còn dữ dội hơn nữa, nhưng cuối cùng điều đó đã không xảy ra. Anh nhớ rằng chúng đã dắt anh rẽ vào một đường hầm chật hẹp hơn – chưa bao giờ kể từ ngày đặt chân vào nhà tù, anh biết tới đường hầm chật hẹp và ngắn ngủi đó - anh đã đứng tựa vào tường chờ đợi một vài phút, nghe chúng nó đối thoại với nhau về anh, sau hết một tên mang chìa khóa đến tra vào ổ. Cánh cửa bất ngờ bật mở, chúng đẩy anh vào bên trong. Anh chúi người ngồi bệt dưới đất. Căn phòng tối tăm kinh khủng sau khi cánh cửa khép lại, anh lờ mờ hiểu rằng trong phòng còn rất nhiều người khác, tuy nhiên anh không định thần thấy rõ một cái gì cả. Bóng tối ẩm thấp, âm u bao vây gọn ghẽ. Mệt quá, anh nằm mẹp xuống tại chỗ, nhắm mắt rồi thiếp ngủ.

Khoảng quá nửa đêm thì anh thức dậy. Cảm giác đầu tiên là toàn thân rã rời, nhức buốt ê ẩm. Anh đưa tay sờ những vết thương trên mặt, trên đầu, trên lưng, ở đâu cũng hằn lên nhiều dấu sưng, chắc hẳn rướm máu. Anh hồi tưởng lại những điều đã xảy ra cho mình kể từ buổi chiều, định tâm suy đoán lý do, dần dần anh nhớ lại đầy đủ. Theo lời bọn an ninh, anh can tội liên lạc với chính trị phạm. Ở nhà tù này người ta quen xem tất cả mọi thành phần chính trị phạm đều là Việt cộng, kẻ “phiến loạn”. Anh hiểu bất quá đó cũng chỉ là một cách khủng bố trắng nhằm chia rẽ giữa tù nhân các loại với nhau. Họ cố tình gieo vào đầu óc thường phạm, những kẻ đa số không hiểu rõ thực chất vấn đề, rằng chính trị phạm là kẻ địch, là bọn cuồng tín, cực đoan. Điều này mang lại một kết quả mà nhà tù mong mỏi: tách biệt các thành phần tù nhân, tạo một không khí bất tiện để chính trị phạm không thể tạo tình đoàn kết, hợp tác nếu có âm mưu nổi loạn. Hơn thế nữa, họ còn muốn tạo cho thường phạm một phản ứng ngược đối với mọi yêu cầu tranh đấu của chính trị phạm, nếu có thể, phản ứng đó phải thực tiễn hơn bằng cách tham gia đàn áp. Chính vì thế, chế độ lao tù đã lựa chọn một số tù nhân thường phạm có án tích lâu năm nhất, là những tên đầu trâu mặt ngựa ở mọi hoàn cảnh, ngoài đời sống tự do cũng như trong lao tù, đặt chúng vào lực lượng an ninh trung tâm với rất nhiều ưu đãi, nhằm vào việc phát giác và đàn áp mọi biến cố được xem là vi phạm trật tự nhà tù. Trong bảng nội quy gồm mười điều khoản dành cho tù nhân, người ta không quên cấm chỉ nghiêm ngặt mọi sự đi lại, tiếp xúc và liên lạc giữa tù thường phạm và chính trị phạm, trừng phạt thích đáng những kẻ vi phạm điều này và còn có thể truy tố ra tòa án. Hiện thời, anh vi phạm điều khoản này. Thực ra anh không liên lạc với một ai với danh nghĩa là chính trị phạm, anh chỉ có một ít bạn bè quen biết cũ đang bị giam cầm vì những tư tưởng và hành vi chính trị của họ mà thôi. Ngày còn tự do, anh làm việc ở một nhà in, và do một vài sự quen biết, anh được giới thiệu để lui tới, tiếp xúc và tạm trú ở một trụ sở lao động. Ở đó, những con người lao động đã không chịu xếp hàng sau lưng những tổ chức lao động ồn ào khác để làm đẹp cho chế độ đang trị vì, bởi vậy, khi những trận đánh lớn nhất ngoài biên giới bùng nổ rồi liên tiếp một vài vùng đất bị mất vào tay lực lượng giải phóng, chế độ đã hốt hoảng và vội vã phiêu lưu thêm một bước nữa trên con đường “xây dựng tự do dân chủ” bằng cách đóng cửa báo chí, đàn áp những lực lượng lao động và chính trị đối lập và sau hết tung ra một biện pháp xưng danh là “chỉ định nơi cư trú cho các phần tử xét ra có hại cho nền an ninh quốc gia”. Trụ sở lao động mà anh tạm trú hồi đó, khốn thay, lại bị xem là nơi dung dưỡng những thành phần này. Một đêm khuya lúc thành phố đang ngột ngạt với những tin tức chiến trường mỗi ngày một bi đát hơn, giữa thời tiết oi nồng của mùa hè nhiệt đới, giữa không khí bệnh hoạn của một thành phố lúc nhúc những rác rưởi, ruồi bọ và người trong giờ giới nghiêm, bọn cảnh sát đã tới bao vây trụ sở, bắt tất cả mọi người hiện diện đưa về nơi cư trú mà họ chỉ định: những cát-sô và phòng tra tấn.

Anh gặp lại họ trong nhà lao này. Cuộc sống của một thường phạm như anh quá ngột ngạt, đói khổ cho nên anh thường xuyên lui tới với những người quen biết cũ để chuyện trò, thăm hỏi tin tức bên ngoài, nhờ vả một vài việc... Sống mãi trong một phòng giam, chịu đựng mọi kiểu áp bức và bóc lột, anh chán nản đến độ muốn bùng nổ. Đó là thế giới của bọn trộm cướp, giết người, nghiện ngập, đàng điếm, ở đó là một thế giới nho nhỏ thâu tóm đủ sắc thái thoái hóa của xã hội văn minh. Ma túy được bán và sử dụng công khai, những kẻ nghiện ngập không tiền mua ngồi thu mình nhỏ nước rãi trước những hành lang nhìn kẻ khác nhởn nhơ tha hồ, họ khốn đốn với bệnh tật, ghẻ chốc, thấy rõ mình đang đi dần vào con đường cùng và chờ chết. Tuy nhiên trong khi chờ chết họ vẫn cố bám víu vào sự sống chứ chưa chịu xuôi tay. Cách bám víu, vùng vẫy của họ bây giờ chỉ là trộm cắp; đã trộm cắp ngoài đời bị truy tố, bị tống giam, họ phải tiếp tục trộm cắp trong tù. Cảnh trộm cắp, cướp giật xảy ra nhan nhản ở khắp mọi góc trại giam. Lúc ngồi lim dim trước hành lang với mồm nhỏ rãi, với tấm thân tiều tụy bệnh hoạn của thân phận một tên ghiền chờ chết, ít ai có thể nghĩ rằng hắn có thể làm nổi một việc gì, cho dù là trộm cắp. Tuy nhiên, khi đã chộp được một món vật gì đó vào tay, hắn phóng chạy bay biến mà hiếm khi bị tóm lại. Nếu sa cơ, hắn phì phò thở, chịu đựng trận đòn mà ta nghĩ là rất khó sống sót, rên rỉ van xin, sau đó hắn sẽ nói cho ta nghe rằng hắn vẫn biết bị đòn rất đau nhưng không thể làm khác, rằng chính trận đòn có khi còn có thể hóa giải cơn ghiền gấp gáp ào lên trong cơ thể. Nếu thắng lợi, hắn mang món vật chộp được đi bán ở một khu khác trong trại giam. Đồ vật trong nhà tù bán giá rẻ mạt, có lẽ vì chính con người trong tù vốn đã quá bị rẻ rúng. Một cái áo sơ-mi còn tốt bán được đủ hút vài ba điếu thuốc, một chiếc quần được giá tương đương một dúm bạch phiến. Quần lót, thứ mà người ta gớm ghiếc nhất bởi hình ảnh ghẻ chốc, lở lói nhầy nhụa trên bộ sinh dục mà không một tù nhân nào tránh khỏi, đáng giá một chiếc kẹo lạc. Khi nắm được tiền nơi tay, cuộc sống bỗng dưng tươi đẹp ra một cách rực rỡ trên lối đi đến chỗ mua thứ thần dược mà hắn ghiền. Trong nhà tù, dù công khai, chỉ có một ít người có đặc quyền mua bán và chứa giấu thứ thần dược đó. Còn một điều nữa là những kẻ có đặc quyền ở nơi nào cũng vậy, đều đầy uy quyền.

Bên cạnh thứ đặc quyền đó còn có nhiều thứ đặc quyền khác. Tôn giáo chẳng hạn. Mỗi tuần lễ hai ba lần một vị linh mục vào trại giam cử hành thánh lễ cho tù nhân, nghe tù nhân xưng tội. Nhưng đồng thời tín đồ của các tôn giáo khác thì không được may mắn như vậy; những tu sĩ áo nâu, áo vàng, áo lam lúc nhúc ngồi trong các phòng giam vì đủ mọi thứ tội trạng: bất phục tùng chế độ quân dịch, chống bắt lính, có tư tưởng và hành vi phương hại đến nền an ninh của chế độ... (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét