Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2007

Hương đất

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Vừa rời quầy vé định bước đi, Hà nhận ra trước mặt mình một người đàn ông rất quen. Người ấy đang nhìn cô, đôi mắt hơi sâu mở lớn, nếp trán rộng hơi nhướn lên, mái tóc cắt cao, cứng và khô. Và cô buột miệng:

- A... chú Thịnh!

Thịnh, một tay dắt đứa bé gái khoảng hai tuổi, tay kia đang lục tìm tiền trong túi quần. Anh hơi lúng túng.

- Hà,... làm gì ở đây?

Cả hai cùng đáp lại nhau bằng nụ cười tự nhiên. Mỗi người lại nhìn qua một lần nữa người đối diện với mình. Hà đã có cái vẻ già dặn của một cô gái bắt đầu tự thấy lớn tuổi, gầy hơn trước, mái tóc xõa trên vai chảy xuống lưng áo trắng. Ánh đèn đỏ từ trong quầy hắt ra soi lên khuôn mặt cô, một khuôn mặt hồng hào nhưng thoáng hiện đôi nét mệt mỏi. Thịnh vẫn không già hơn trước mặc dù khuôn mặt rám nắng, bận bịu với đứa bé dắt trong tay, và chiếc áo sơ mi cũ có vẻ chật chội trên đôi vai và bộ ngực nở nang. Thịnh gật đầu khi nghe cô gái hỏi: “Chú chuyển cả gia đình lên công tác trên này sao?”. Và anh lại cười. Anh cúi xuống bế đứa bé lên tay, nói: “Con gái đầu của tôi đây”, bảo đứa bé chào “cô Hà” và cảm thấy lòng mình gợn lên một nỗi xúc động khi Hà nắm tay đứa bé khen ngoan. Thịnh nói:

- Hà ra bàn ngồi trước đi, nhé.

Anh vào quầy mua cho mình một tách cà phê và cho con một ly chè đậu xanh rồi quay lại, nhận ra Hà ngồi ở cuối phòng với một cô gái nữa. Anh lách mình qua những dãy bàn ghế bện bằng mây tre nứa có đông đảo người ngồi, hầu hết là trai gái xấp xỉ hai mươi, hai lăm tuổi, ăn mặc đủ kiểu áo quần từ thành phố mang lên. Mọi người nói cười râm ran, ồn ào những câu chuyện làm ăn, nhà cửa, đất đai, những mẩu chuyện về cày cấy và gieo hạt, về thời tiết nắng hạn đang kéo dài, về trạm bơm đưa nước từ sông Ba lên tưới cho cả vùng đất mới, những mẩu chuyện về thành phố đã xa, về bạn bè, tình yêu, những cuộc hẹn hò trên bãi biển lộng gió, nỗi nhớ tiếc nơi đã ra đi và lo lắng những ngày sắp tới... Ly tách khua lanh canh. Khói thuốc lá bay mù chao lượn trong làn gió nhẹ quyện đặc lại trong cái không khí ngột ngạt của buổi tối mùa hè chờ đợi đã lâu một cơn mưa giông, những làn khói thuốc liên hồi bay quanh những khuôn mặt lầm lì, bay quanh những khuôn mặt sôi nổi nói cười, bàn cãi, ước mơ...

Họ ngồi mất một lúc lâu không nói gì để quen với cái ồn ào chung quanh. Văng vẳng từ một chiếc loa phóng thanh mắc đâu đó dọc con đường lớn ngoài kia vọng tới chương trình ca nhạc buổi tối. Hà chỉ cô bạn ngồi cạnh, nói với Thịnh:

- Chi, bạn... cháu. Hai đứa cùng mới lên một lần, trước đây cùng dạy một trường ở thành phố. – Quay sang Chi, Hà nói gọn: - Chú Thịnh, quen hồi trước giải phóng.

Như thế đã năm năm hoặc hơn một tí. Thịnh nhớ rõ lắm. Hồi ấy Hà mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn và đang về quê nghỉ hè chờ phân bổ nhiệm sở. Hà không đẹp, hơi đen, má nổi mụn sau một thời gian thức khuya ôn bài thi tốt nghiệp. Thời ấy, Hà còn giữ nguyên dáng dấp một nữ sinh viên thành thị, yêu đời, ham đọc sách và triết lý, có đôi bài thơ tình đăng trên mấy tập san dành cho lứa tuổi dậy thì, đang mơ ước một cuộc sống tự do không bị gia đình ràng buộc để thấy mình thật sự là người lớn. Bố của Hà là một ông chủ thầu xây cất khá có tiếng, đã từng trong mười năm qua góp phần dựng lên các nhà cao tầng làm khách sạn, cơ quan nước ngoài, buyn đinh cho thuê, các cửa hiệu buôn, rạp hát, tiệm nhảy và một loạt công trình khác mà phần lớn là dành phục vụ cho lính Mỹ. Thật ra ông chỉ thuộc loại chủ thầu hạng nhì, hạng ba trong thành phố, làm ăn phất lên được nhờ vào mươi ông chủ thầu hạng nhất. Giữa lúc ông đang ra sức ngoi lên bậc thang cao nhất trong giới của mình một cách không khó khăn gì mấy thì Mỹ rút quân xuống tàu, hiệp định hòa bình được ký kết, rồi đất nước hoàn toàn giải phóng.

Năm ấy Thịnh từ chiến trường Quảng Đức trốn về trong một chiếc xe tải chở đầy chuối, cà phê, khoai lang và nhiều loại rau quả khác. Gần mười giờ đêm, chiếc xe đỗ lại ở một đoạn đường vắng đầu thành phố, người tài xế tắt máy rồi hì hục xê dịch những bao cà phê to tướng chồng chất lên nhau để lộ ra một lỗ hổng, lôi Thịnh từ giữa đống cây trái ra. Thành phố đang vào mùa thu, gió lộng tràn qua những đường phố đông đúc, biển dịu dàng vỗ về sau những ngày hè giông bão. Một người bạn giới thiệu anh đến làm thư ký riêng cho ba của Hà để che mắt bọn cảnh sát và sống qua ngày chờ đợi.

Anh được giao chấm công cho thợ làm thuê, soạn giấy tờ giao dịch, đọc và trả lời thư khách hàng, kế toán sổ sách... Dăm ba hôm anh lại ngồi xe La Dalat với ông chủ thầu đến nơi này để tính sổ nợ, nơi kia nhận hóa đơn chứng từ thanh toán, chỗ khác chuẩn bị cho vụ làm ăn tiếp theo; gặp những người thợ làm thuê, gặp những tay mối lái, bọn cảnh sát giao thông, các viên chức phòng thiết kế xây dựng... Chiều, họ tạt vào các quán nhậu nơi có người hẹn trước, khi thì ở quán Gió khơi trên bãi biển, lúc ở quán Bên đường ngoại ô thành phố... Khuya về họ say khướt, ông chủ thầu lái xe phóng như bay qua các đường phố rộng thênh thang, cao hứng ư ử hát một đoạn tình ca sướt mướt, làu bàu chửi người này bẩn thỉu, tấm tắc khen người kia đáng mặt cho ông giao dịch làm ăn... Tuy nhiên thường hơn cả trong thời gian này là Thịnh ngồi tại văn phòng của ông ta. Văn phòng hãng thầu đặt tại nhà riêng. Đó là một căn nhà ba tầng mới nổi lên những năm gần đây, trên một con phố chạy từ ngã sáu dưới chân nhà thờ chính tòa ra biển. Dưới mắt Hà ngày ấy, Thịnh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi đã hai lần ra chiến trường và hai lần đào ngũ, một “lao công đào binh” mới trốn thoát trở về từ mặt trận Pu Prăng, một cựu sinh viên Văn khoa bị đuổi ra khỏi trường vì tham gia phong trào tranh đấu, một người cũng đọc khá nhiều sách và đôi khi cũng ưa triết lý, ưa cả thảo luận chính trị, đồng thời, lại là nhân viên giúp việc cho ba cô, với khuôn mặt gầy, mái tóc cứng, đôi mắt hơi vàng vì sốt rét, có lúc trông lờ đờ mệt mỏi nhưng có lúc lóe lên những tia nhìn táo bạo, con người ấy là một cái gì hết sức lạ lùng, khó hiểu đối với cô, gợi cho cô sự tò mò, có lúc lại gây cho cô một nỗi lo ngại... Và như bao nhiêu cô gái khôn ngoan khác, cô biết khéo léo giữ cho lòng mình bình tĩnh, tự nhiên mỗi lần trò chuyện với anh trước văn phòng. Cô thường gọi anh là “chú Thịnh”.

- Chú Thịnh đưa gia đình lên đây đã lâu chưa?

- Từ đợt đầu. Nhà nằm ngay ở lô thứ nhất từ con đường chính.

Hà vuốt tóc đứa bé âu yếm hỏi:

- Có em chưa?

- Chưa đâu! – Thịnh đáp thay con. Rồi anh cười – Còn Hà, mấy năm rồi có gì lạ không?

- Không có chi, chú! A, có chứ! Tất cả đều mới. Cháu từ thành phố lên đây không lạ sao?

- Hà thấy nơi này thế nào?

- Cháu chưa nghĩ, chú – Cô chớp chớp mắt cười – Cháu mới lên được vài tuần, thấy lạ và hơi ngán. Nhưng rồi sẽ quen đi. Cuộc sống có gì là ghê gớm lắm đâu, nó chỉ là những thói quen xâu chuỗi lại. Hy vọng mai kia cháu sẽ yêu được nơi này. Chú đã yêu nơi này chưa?

Thịnh cười, định nói nhưng lại thôi, im lặng nhìn hai cô gái. Anh giúp con ăn chè, hớp từng ngụm cà phê, lấy gói thuốc vấn một điếu châm lửa, lơ đãng nhìn mông lung. Từ ngoài bước vào cửa hàng một người đàn bà trẻ với hai ba anh con trai mới lớn, họ đến quầy mua vé rồi ra bàn ngồi, mỗi người một điếu thuốc trầm ngâm. Thịnh biết người đàn bà đó đã lâu, không phải từ ngày đến đây. Những năm chiến trường Tây Nguyên sôi động nhất, bọn lính tráng và sĩ quan ngụy từ các phòng trà ca nhạc đắm mình trong men rượu và nghe cô lê thê hát những lời nức nở xót xa cho một mối tình vừa tan vỡ, tiếc nuối những gì đã hiến dâng, hẹn hò một kiếp khác...

Cô ta là người Thái, con một viên thượng sĩ di cư vào Nam, lưu lạc các chiến trường và nổi tiếng là một tay gian ác. Cô ta đã lấy gã đại úy tiểu đoàn trưởng, sống với nhau được hai đứa con gái nhưng không chắc chúng là con của gã. Cũng không chắc chúng là con của ai giữa đám sĩ quan trẻ tuổi lui tới phòng trà ca nhạc cũng thân tình như lui tới nhà riêng của cô trong những ngày dài chồng cô ta dẫn quân đi lùng sục hết cánh rừng này sang cánh rừng khác. Bây giờ cô ta ở đây, hai đứa con đã đi học. Chồng cô và đám sĩ quan đã biệt mù ngay từ lúc tiếng súng giải phóng Tây Nguyên mới nổ. Những buổi tối vui, cô ta đứng lên hát giữa cửa hàng giải khát hoặc trên con đường trở về nhà mới được Nhà nước cấp cho. Tiếng cô ta hát bây giờ không còn cái vẻ mê hoặc của những đêm ở phòng trà nữa. Tiếng hát nhiều lúc vụng về nhưng vẫn trong và ấm, vẫn được nhiều người yêu thích lắng nghe, bởi lời hát gợi lại trong lòng họ một quá khứ chưa xa.

Rồi Thịnh để ý đến một gia đình viên chức cũ đầy đủ vợ chồng con cái lớn bé bước vào quầy: ông bố gọi cà phê, bà mẹ và ba cô gái lớn ưa chè đậu xanh, hai cậu con trai nhỏ lại đòi nước ngọt. Họ ngồi một bàn gần cửa ra vào, sau lưng tốp thanh niên đang hăng hái cãi nhau về việc năm xưa tàn quân ngụy từ cao nguyên chạy về theo đường số bảy có phải băng qua ngôi làng cạnh đây hay không. Thịnh thích thú theo dõi cuộc bàn cãi, chốc chốc lại giúp con ăn nốt ly chè, đưa mắt nhìn hai cô gái và cố tìm một điều gì để nói, nhiều lúc định lên tiếng rồi kịp giữ lại. Mãi lâu anh mới hỏi bâng quơ:

- Hà đang ở tại trường hay trọ nhà ai?

- Tại trường, chú! Đang ở tạm chờ đến nghỉ hè trường mới xây cất thêm. Nhưng chú quá bộ đến thăm thì vẫn có chỗ tiếp! – Cô cười – Nhớ đưa thím đi cùng cho cháu nhận người quen nghe.

- Hôm nào Hà ghé đến nhà chơi cho biết.

- Vâng, chắc chú có đưa sách lên? Cháu đến mượn nghe. Cần có sách đọc ngấu nghiến cho qua một mùa hè nhàn rỗi.

- Hà về Nha Trang nghỉ hè chứ?

- Không, chú – Tự nhiên khuôn mặt cô đổi khác – Năm năm trước cháu đã nói: Nha Trang đối với cháu là nơi để đi xa mà nhớ, không phải là nơi để về cùng sống. Bây giờ cháu càng thấy điều đó đúng.

- Thế thì ai sẽ sống với Nha Trang?

- Ai cũng được, nhưng không phải là cháu. Trước kia cháu chỉ nghĩ về việc đi xa Nha Trang một cách hết sức lãng mạn, còn bây giờ... Mà chú hiểu rồi thôi, phải không?

Thịnh hiểu, hiểu khá rõ. Hà năm xưa chỉ muốn đi xa, đến một thị trấn, một vùng ngoại ô nào đó làm một cô gái xa nhà “cô đơn” – cái tiếng “cô đơn” ấy mới hấp dẫn làm sao đối với một cô gái mới vào đời hồi bấy giờ. Tổ ấm gia đình, ba má, đàn em... như một vùng không gian yêu dấu nhưng chật hẹp, nó còn khắc sâu trong lòng nhưng không thể giữ chân ai mãi được. Và Hà đã đi, đến một ngôi trường nhỏ nằm lọt giữa đồn điền cà phê đêm đêm hoa nở trắng ngát hương.

Nhưng kỷ niệm không phải là tất cả cuộc sống của một con người, nhất là những kỷ niệm thơ mộng. Tây Nguyên giải phóng, Hà hốt hoảng chạy khỏi ngôi trường đáng yêu ngát hương hoa cà phê và đầy ắp kỷ niệm đẹp đẽ của năm đi dạy học đầu tiên ấy. Về Nha Trang chưa kịp hoàn hồn thì ba cô lại tất bật chất toàn bộ gia đình gồm mười hai người lớn nhỏ lên một chiếc xe tải vật liệu xây dựng, chuẩn bị chạy tiếp. Hôm ấy cánh quân giải phóng đầu tiên đang vượt qua đèo Cả và đèo Phượng Hoàng, cả nhà ứa nước mắt, kể cả ông chủ thầu vốn nổi tiếng là con người rắn rỏi khi đứng trên xe đã nổ máy nhìn lại căn nhà ba tầng. Họ từ biệt ngôi nhà giữa tiếng súng cướp bóc của bọn tàn quân ngụy đã bắt đầu đì đẹt nổ. Vừa đẩy cần sang số xong ngước lên thì ông chủ thầu thấy một chiếc xe jeep cầm một lá cờ đỏ đậu ngay trước mũi xe. Thịnh bước ra từ chiếc xe ấy.

Đã lâu Thịnh không còn làm việc ở đây nữa, ít lâu sau khi Hà đi dạy học xa. Ông chủ thầu biết một cách không rõ ràng lắm về quan hệ giữa con gái và anh thư ký riêng, hiểu thêm Thịnh có dính líu đến một tổ chức chính quyền đang hoạt động ráo riết cho hòa bình và thống nhất đất nước. Ông đang tìm cách phản đối cả hai việc thì Thịnh tự ý không làm việc cho ông ta nữa. Thế rồi ngay trong lúc mọi việc chừng như đổ nhào trước mặt ông giữa tiếng súng rộ lên từng tràng, Thịnh lại tới. Ông mở cửa xe, lao xuống ôm lấy anh.

- Tôi sợ quá, Thịnh. Nói đi, tôi phải làm gì bây giờ? Nhà cửa của tôi đây, mồ hôi nước mắt bao nhiêu năm... Nhưng lũ con tôi, chúng sẽ chết mất trong tay cộng sản...

Trong cơn khủng hoảng của một con người từ lâu rồi dồn sức xây dựng từng ấy nhà cao tầng, khách sạn, tiệm nhảy, hiệu ăn cho sự thịnh vượng của một chế độ mà ông ta tưởng không bao giờ bị lay chuyển, đàn con mười đứa lớn nhỏ được đưa lên bàn cân với tài sản dành dụm được ở đầu cân bên kia. May thay, sức nặng nghiêng về phía chị em Hà. Thịnh thấy thương ông ta. Nhưng anh lại thấy thêm một điều nữa: ông ta đã phải tính toán, cân nhắc, tiếc rẻ như thế bao lâu, quả cân trong lương tâm ông có lúc đã phải chao đảo, chông chênh và đàn con mười đứa của ông có lúc đã nhẹ hẫng đi một cách hết sức tội nghiệp... Thịnh bảo ông đưa toàn bộ gia đình về nhà, đóng cửa kín lại, chờ trong vòng một ngày, rồi yêu cầu ông lái xe đi với anh để lo một số việc phục vụ kế hoạch giải phóng và tiếp quản thành phố.

Thế là ông ta giải được bài toán khắc nghiệt. Ông nhìn người thư ký cũ của mình bằng một con mắt khác. Ông nghĩ anh là chỗ dựa cho ông trong những ngày sắp tới. Ông ta khâm phục Thịnh, tự trách mình trước đây đã không đối xử tốt hơn với anh, ông hy vọng anh là một người rộng lượng sẽ che chở cho ông, và ông chờ đợi.... Sau cơn rùng mình chuyển động, thành phố đi vào trật tự mới, Thịnh công tác ở Ủy ban tiếp quản thành phố rồi chuyển sang công tác thông tin tuyên truyền, sau này anh được bố trí sang làm việc ở ban kinh tế mới thành phố. Còn ông chủ thầu ngày nào nay lại tìm được những vụ làm ăn mới để lao vào như thể chẳng hề có việc gì xảy ra, Hà ra trình diện và được cho đi dạy lại ngay trong thành phố.

Thỉnh thoảng Thịnh đến thăm cô vào buổi tối. Họ ngồi nói chuyện nơi bộ sa-lông kê trước văn phòng như xưa. Cô hỏi anh về chủ nghĩa xã hội, về văn học cách mạng, về vị trí của hàng chục nhà văn tên tuổi trên khắp thế giới thuộc đủ các xu hướng, trào lưu khác nhau – những nhà văn mà cô đã miệt mài đọc trong những năm qua khi những bản dịch được đua nhau xuất bản ở các thành thị miền Nam trước đây. Khuôn mặt cô rạng lên vui sướng khi được biết rằng Tônxtôi vẫn có được vị trí sáng chói ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa, rằng hàng vạn bản in tác phẩm dịch của Rơ-mác đã được phát hành ở miền Bắc ngay trong những năm chiến tranh ác liệt nhất, rằng tác phẩm của Đôxtôiepxki đang nằm trong danh mục sắp in trong những năm đầu đất nước thống nhất... Cô tranh luận với Thịnh về hàng loạt tác giả khác ở châu Âu, và không phải lúc nào Thịnh cũng đủ sức thuyết phục cô. Nếu một năm trước đây cô chỉ là một cô gái thành thị có ăn học và đang nao nức bước vào đời với tất cả cái vẻ tò mò ngây thơ thì lúc này Thịnh nhận ra qua những buổi tối trò chuyện ấy, cô đang cố gắng nâng mình lên với cuộc sống rộng lớn xung quanh, cuộc sống khác biết bao những tơ tưởng mà cô đã dựng lên cho mình trong từng ấy năm với sự hỗ trợ đắc lực của ba cô. Những buổi tối chuyện trò như vậy thường kết thúc rất khuya và trên đường về Thịnh tưởng chừng có một đôi mắt vẫn dõi theo anh, đôi mắt long lanh, cảm mến.

Một buổi tối ông chủ thầu về nhà nồng mùi rượu. Ông ngồi bên cạnh con gái rồi nhìn thẳng vào mặt Thịnh, hỏi:

- Thế là anh bị đày sang bên kinh tế mới rồi hả? – Không đợi xem phản ứng của anh, ông tiếp, giọng mỉa mai, cay độc – Tôi đã biết mà, không có chỗ nào hơn cho các anh đâu, những “nhà cách mạng tháng tư” ạ!

Thịnh tái mặt. Một luồng máu nóng dâng lên, và anh đứng bật dậy. Hà níu lấy tay anh hốt hoảng kêu “chú Thịnh!”. Lạ thay, tiếng gọi ấy đã làm anh dịu lại. Anh dằn từng tiếng:

- Ông... ông không được nói như thế, ông hiểu chưa?...

Hà ôm mặt rưng rức khóc khi Thịnh phóng ra đường đi thẳng. Anh cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm. Còn Hà, cô phải đương đầu với một nỗi đau đớn nặng nề hơn rất nhiều. Hàng tuần lễ cô nằm vùi tránh giáp mặt ba cô. Rồi cô cảm nhận ra một sự mất mát lớn sẽ không gì bù đắp được: tình cảm đối với ba cô đã sụp đổ. Và Thịnh nữa, cô chờ anh nhưng từ đó anh không lui tới căn nhà ấy nữa.

Ông chủ thầu lại lao vào làm ăn, nhận thầu xây dựng một loạt công trình cho nhà nước. Tiền bạc phất lên, ông luồn lách mua chuộc một số cán bộ rồi bêu riếu cách mạng. Ông dối trá trong thi công các công trình, ăn cắp vật tư, vi phạm những hợp đồng đã ký kết, làm đình trệ những công trình khác, quỵt tiền trả cho nhân công làm thuê, và nhiều việc làm man trá khác... Thay cho sự quan tâm lo lắng và thương yêu đối với Hà như ngày nào cô mới tốt nghiệp đại học, bây giờ ông chế giễu từng công tác của cô ở nhà trường, những đồng lương khiêm tốn cô lĩnh được mỗi tháng, có khi ông lật sách giáo khoa và giáo án của cô ra trích dẫn từng câu, từng đoạn để châm biếm... Không chịu đựng nổi, Hà dọn quần áo sách vở đến trường xin ở tập thể. Ít lâu sau, cô hay tin tất cả những việc làm vừa qua của ba cô bị lôi ra ánh sáng...

- Chú Thịnh còn ngồi hay về?

Thịnh vấn vội một điếu thuốc nữa rồi đứng lên. Hà bế con gái anh đi trước, họ ra khỏi cửa hàng. Bầu trời đầy sao, đêm không có sương, gió cũng đã ngưng từ lúc nào và Thịnh đoán chừng đêm nay sẽ có mưa. Mưa, những thửa đất đã cày xới đang khát khao dòng nước mát, những hạt mầm đang hứa hẹn mọc lên...

Thịnh đi với hai cô gái một đoạn đường dưới ánh sáng những ngọn điện từ trên cao tỏa xuống. Đi bên cạnh anh, Hà nói nhỏ:

- Cháu xin chuyển công tác lên đây thì hay tin gia đình có ý định vượt biên. Ba cháu lao vào hết sai lầm này đến sai lầm khác. Cháu thấy đau lòng, vừa thương vừa sợ, nhất là khi nghĩ đến những đứa em cháu đang lớn lên, nghĩ đến má cháu. Mới đây... – Cô ngừng lại không nói tiếp.

- Hà nói tiếp đi.

- Thôi chú ạ! Mà cháu cũng trách chú nữa.

- Sao?

- Lẽ ra hồi ấy chú có thể giúp cháu nhiều hơn. Cháu tưởng... không bao giờ chú nhìn mặt cháu nữa. Ôi, lúc nãy nhìn thấy chú, cháu hoang mang quá, vừa ngại, vừa mừng.

Thịnh cười:

- Sao lại ngại? Chúng ta vẫn... quý mến nhau như ngày nào, phải không?

- Cũng đã khác đi rồi, chú Thịnh! – Cô ngước nhìn anh rồi quay đi – Nhưng thôi, thời gian sẽ giúp cháu. Cháu sẽ gắn bó với mảnh đất này. Cháu đang có những đứa học trò rất dễ thương, một số là học trò cũ hồi ở thành phố, gia đình chúng cũng mới lên đây ít lâu. Cha mẹ chúng cũng quý mến cháu lắm, họ hiểu... Đến ngã rẽ họ dừng lại.

- Gặp lại chú, cháu rất mừng. Càng mừng hơn khi thấy chú...

Anh không chắc có phải cô nói tiếp hai tiếng “hạnh phúc” hay không. Anh đón lấy con từ đôi tay cô, và bất giác anh cảm thấy mùi tóc cô thoảng qua, rất nhanh thôi, nhưng nó gợi cho anh những hồi tưởng ngỡ không dứt đi được. Và anh buột miệng:

- Mới đấy mà đã năm năm, Hà nhỉ?

- Dạ. Thôi chú về, hôm nào sẽ gặp lại. Cháu gởi lời thăm... thím.

Thịnh chào cô bạn của Hà, nghe cô nói:

- Hà có nói chuyện về chú cho Chi nghe. Chúng cháu thân nhau lắm.

Thịnh tần ngần đứng nhìn họ một lúc lâu rồi mới vội vã đi về nhà. Đứa bé ngả đầu lên vai anh lặng lẽ, nhưng đôi mắt nó mở tròn nhìn đoạn đường anh bỏ lại sau lưng. Và trong lòng anh, những mảnh ký ức rời rạc, chắp vá hiện ra với mùi hương tóc vừa nãy kia nối kết lại.

Vợ anh đang nằm chong đèn đợi.

- Ba bế hay dắt con đi chơi?

- Có một cô nào ấy bế con.

Anh cười khi thấy vợ nhìn mình dò hỏi. Anh bế đứa bé lên, đưa nó đi nằm.

- Có lần anh đã nói về một cô Hà, em còn nhớ không? Cô ấy vừa tình nguyện lên đây dạy học, anh mới gặp lại ngoài cửa hàng giải khát.

- Có phải con lão chủ thầu nhà ở chỗ... anh Lập đưa em tới gặp anh lần đầu? Thôi em nhớ ra rồi...

- Cô ấy hẹn sẽ đến thăm em.

Vợ anh buông màn cho con rồi đến ngồi bên, quàng tay ôm lấy mái tóc cứng của anh cúi xuống hỏi:

- Cái cô Hà ấy mà, có lần anh nói nửa chừng lại thôi. Sao hồi ấy hai người không yêu nhau nhỉ?

- Anh nhớ đã kể cho em nghe cả rồi cơ mà?

- Chưa, kể đi.

Thịnh không kể. Và mặc dù đã hỏi chồng, vợ anh cũng không đợi anh phải nói. Chị đã biết. Không kể thời kỳ ngắn ngủi trước khi xảy ra sự phẫn nộ của Thịnh đối với ông chủ thầu, ngay cả trong mùa hè họ mới gặp nhau, dù biết bao lần Thịnh tưởng mình sắp sửa nắm lấy đôi bàn tay cô gái để xúc động bày tỏ tình yêu của tuổi thanh xuân muộn màng vừa trở lại với anh sau khi trốn thóat khỏi trại tù khổ dịch chiến trường nhưng anh đã chỉ ngồi yên trong bộ ghế sa-lông, nghe cô nói và đối đáp với cô đủ thứ chuyện này kia khác nọ. Trước sau anh chỉ là một người làm thuê của ba cô, hơn nữa anh lại là một người đang bị truy nã. Hồi ấy, Thịnh không muốn thay đổi vị trí của mình.

Mưa rào rào đổ tới. Từ những căn nhà trong xóm vọng tới tiếng cười nói reo vui sôi nổi của hàng trăm người. Vợ Thịnh cũng sung sướng nói với chồng:

- Mùi đất thơm lừng, thích thật hả anh?

T.V

1976-1979

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét