Thứ Tư, 28 tháng 11, 2007

Của rẻ nhưng không ôi !

THẾ VŨ

Không cần tranh cãi, có thể dễ dàng đồng ý với nhau rằng mối quan tâm hàng đầu của người làm xuất bản có lương tâm là làm sao đưa đến công chúng những cuốn sách hay, in đẹp, giá cả hợp lý được thị trường chấp nhận. Nhưng trong điều kiện mức thu nhập nói chung còn khá thấp như ở nước ta hiện nay - khi mà số người trẻ có trình độ văn hóa bậc phổ thông trung học đã là phổ biến, số sinh viên tốt nghiệp đại học ngày càng nhiều, nghĩa là đối tượng chính mà ngành xuất bản nhắm tới là rất đông đảo nhưng đang có mức thu nhập thấp, thậm chí rất thấp hoặc chưa có thu nhập – thì giá sách cao là một rào cản hiện hữu khá bức xúc để họ tiếp cận những tri thức do sách mang lại. Xuất phát từ thực tế này, mà nhiều người kêu gọi các nhà xuất bản tìm cách làm sách giá rẻ. Có thể các nhà xuất bản vẫn cứ làm ra những cuốn sách in ấn đẹp đẽ sang trọng để đáp ứng nhu cầu chính đáng của những ai có khả năng “chơi” sách. Tuy nhiên các nhà xuất bản không thể làm ngơ trước một đại bộ phận công chúng luôn có nhu cầu mua thật nhiều sách với giá cả hợp túi tiền khiêm tốn của họ.

Yêu cầu sách giá rẻ hoàn toàn không có nghĩa “hãy làm sách rẻ vô điều kiện”, với “những cuốn nội dung kém cỏi, cách trình bày bôi bác, đúng là một thứ của bố thí”, “của rẻ là của ôi” như lời cảnh báo của một cây bút phê bình văn học gần đây (Báo TT&VH số ra ngày 7.11). Vả chăng những cuốn sách kém cỏi, bôi bác, quá nhiều sai sót không phải chỉ riêng có ở sách giá rẻ. Thị trường cũng đang quá tải loại sách in ấn đẹp đẽ hào nhoáng trên giấy tốt, giá cả trên trời nhưng quá nhiều sai sót, từ lỗi mo-rát đến kỹ thuật in ấn đóng xén, từ lỗi ngữ văn tiếng Việt đến viết sai be bét tiếng nước ngoài, từ vi phạm bản quyền tác giả đến cóp nhặt, ăn cắp công trình người khác... Một yêu cầu “tìm cách duy trì chuẩn mực” trong xuất bản sách như tác giả bài viết nêu trên đề cập, theo chúng tôi trước hết chính là khắc phục những sai trái đáng xấu hổ vừa nêu, chứ không nên dè bỉu nguyện vọng có sách giá rẻ. Không hiểu vì sao tác giả bài báo nêu trên lại còn quá lời khi cho rằng kêu gọi làm sách giá rẻ “là cách của những người mị dân, nói thế để ra cái điều mình không bao giờ quên người nghèo”, rằng “trong thâm tâm họ cho rằng đám công chúng này chỉ cần có các sản phẩm hạng ba hạng tư gì đó là đủ” (!?).

Chúng ta đều biết, ngay ở những nước có nền kinh tế phát triển, ngành xuất bản của họ vẫn đưa ra thị trường loại sách bỏ túi với những tựa sách giá trị, số đầu sách dồi dào, số lượng bản in lớn, giá cực rẻ để phục vụ bạn đọc trong quân ngũ, trong các nhà máy công nghiệp lớn, bạn đọc đi lại trên các tuyến đường dài, người có thu nhập thấp... Đối tượng công chúng này hoàn toàn xứng đáng để các nhà làm sách quan tâm tới mà không cần một lời kêu gọi mị dân nào. Ngay ở ta, từ nhiều năm nay, NXB Kim Đồng đã lập nhiều tủ sách giá rẻ giới thiệu những tác phẩm giá trị trong và ngoài nước (tủ sách vàng, tủ sách thơ với tuổi thơ, tủ sách danh tác thế giới, tủ sách truyện cổ thế giới...), mỗi cuốn giá bìa 5.000 – 6.000 đồng. Đây là một nỗ lực rất đáng trân trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu đọc của học sinh, thiếu nhi và người ít tiền, nào phải là những cuốn sách “kém cỏi, bôi bác” như nhà phê bình nặng lời.

Của rẻ nhưng không phải của ôi – đó mới là văn hóa.

T.V

(TNCN 327/2003)

--> Read more..

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2007

Hương đất

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Vừa rời quầy vé định bước đi, Hà nhận ra trước mặt mình một người đàn ông rất quen. Người ấy đang nhìn cô, đôi mắt hơi sâu mở lớn, nếp trán rộng hơi nhướn lên, mái tóc cắt cao, cứng và khô. Và cô buột miệng:

- A... chú Thịnh!

Thịnh, một tay dắt đứa bé gái khoảng hai tuổi, tay kia đang lục tìm tiền trong túi quần. Anh hơi lúng túng.

- Hà,... làm gì ở đây?

Cả hai cùng đáp lại nhau bằng nụ cười tự nhiên. Mỗi người lại nhìn qua một lần nữa người đối diện với mình. Hà đã có cái vẻ già dặn của một cô gái bắt đầu tự thấy lớn tuổi, gầy hơn trước, mái tóc xõa trên vai chảy xuống lưng áo trắng. Ánh đèn đỏ từ trong quầy hắt ra soi lên khuôn mặt cô, một khuôn mặt hồng hào nhưng thoáng hiện đôi nét mệt mỏi. Thịnh vẫn không già hơn trước mặc dù khuôn mặt rám nắng, bận bịu với đứa bé dắt trong tay, và chiếc áo sơ mi cũ có vẻ chật chội trên đôi vai và bộ ngực nở nang. Thịnh gật đầu khi nghe cô gái hỏi: “Chú chuyển cả gia đình lên công tác trên này sao?”. Và anh lại cười. Anh cúi xuống bế đứa bé lên tay, nói: “Con gái đầu của tôi đây”, bảo đứa bé chào “cô Hà” và cảm thấy lòng mình gợn lên một nỗi xúc động khi Hà nắm tay đứa bé khen ngoan. Thịnh nói:

- Hà ra bàn ngồi trước đi, nhé.

Anh vào quầy mua cho mình một tách cà phê và cho con một ly chè đậu xanh rồi quay lại, nhận ra Hà ngồi ở cuối phòng với một cô gái nữa. Anh lách mình qua những dãy bàn ghế bện bằng mây tre nứa có đông đảo người ngồi, hầu hết là trai gái xấp xỉ hai mươi, hai lăm tuổi, ăn mặc đủ kiểu áo quần từ thành phố mang lên. Mọi người nói cười râm ran, ồn ào những câu chuyện làm ăn, nhà cửa, đất đai, những mẩu chuyện về cày cấy và gieo hạt, về thời tiết nắng hạn đang kéo dài, về trạm bơm đưa nước từ sông Ba lên tưới cho cả vùng đất mới, những mẩu chuyện về thành phố đã xa, về bạn bè, tình yêu, những cuộc hẹn hò trên bãi biển lộng gió, nỗi nhớ tiếc nơi đã ra đi và lo lắng những ngày sắp tới... Ly tách khua lanh canh. Khói thuốc lá bay mù chao lượn trong làn gió nhẹ quyện đặc lại trong cái không khí ngột ngạt của buổi tối mùa hè chờ đợi đã lâu một cơn mưa giông, những làn khói thuốc liên hồi bay quanh những khuôn mặt lầm lì, bay quanh những khuôn mặt sôi nổi nói cười, bàn cãi, ước mơ...

Họ ngồi mất một lúc lâu không nói gì để quen với cái ồn ào chung quanh. Văng vẳng từ một chiếc loa phóng thanh mắc đâu đó dọc con đường lớn ngoài kia vọng tới chương trình ca nhạc buổi tối. Hà chỉ cô bạn ngồi cạnh, nói với Thịnh:

- Chi, bạn... cháu. Hai đứa cùng mới lên một lần, trước đây cùng dạy một trường ở thành phố. – Quay sang Chi, Hà nói gọn: - Chú Thịnh, quen hồi trước giải phóng.

Như thế đã năm năm hoặc hơn một tí. Thịnh nhớ rõ lắm. Hồi ấy Hà mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn và đang về quê nghỉ hè chờ phân bổ nhiệm sở. Hà không đẹp, hơi đen, má nổi mụn sau một thời gian thức khuya ôn bài thi tốt nghiệp. Thời ấy, Hà còn giữ nguyên dáng dấp một nữ sinh viên thành thị, yêu đời, ham đọc sách và triết lý, có đôi bài thơ tình đăng trên mấy tập san dành cho lứa tuổi dậy thì, đang mơ ước một cuộc sống tự do không bị gia đình ràng buộc để thấy mình thật sự là người lớn. Bố của Hà là một ông chủ thầu xây cất khá có tiếng, đã từng trong mười năm qua góp phần dựng lên các nhà cao tầng làm khách sạn, cơ quan nước ngoài, buyn đinh cho thuê, các cửa hiệu buôn, rạp hát, tiệm nhảy và một loạt công trình khác mà phần lớn là dành phục vụ cho lính Mỹ. Thật ra ông chỉ thuộc loại chủ thầu hạng nhì, hạng ba trong thành phố, làm ăn phất lên được nhờ vào mươi ông chủ thầu hạng nhất. Giữa lúc ông đang ra sức ngoi lên bậc thang cao nhất trong giới của mình một cách không khó khăn gì mấy thì Mỹ rút quân xuống tàu, hiệp định hòa bình được ký kết, rồi đất nước hoàn toàn giải phóng.

Năm ấy Thịnh từ chiến trường Quảng Đức trốn về trong một chiếc xe tải chở đầy chuối, cà phê, khoai lang và nhiều loại rau quả khác. Gần mười giờ đêm, chiếc xe đỗ lại ở một đoạn đường vắng đầu thành phố, người tài xế tắt máy rồi hì hục xê dịch những bao cà phê to tướng chồng chất lên nhau để lộ ra một lỗ hổng, lôi Thịnh từ giữa đống cây trái ra. Thành phố đang vào mùa thu, gió lộng tràn qua những đường phố đông đúc, biển dịu dàng vỗ về sau những ngày hè giông bão. Một người bạn giới thiệu anh đến làm thư ký riêng cho ba của Hà để che mắt bọn cảnh sát và sống qua ngày chờ đợi.

Anh được giao chấm công cho thợ làm thuê, soạn giấy tờ giao dịch, đọc và trả lời thư khách hàng, kế toán sổ sách... Dăm ba hôm anh lại ngồi xe La Dalat với ông chủ thầu đến nơi này để tính sổ nợ, nơi kia nhận hóa đơn chứng từ thanh toán, chỗ khác chuẩn bị cho vụ làm ăn tiếp theo; gặp những người thợ làm thuê, gặp những tay mối lái, bọn cảnh sát giao thông, các viên chức phòng thiết kế xây dựng... Chiều, họ tạt vào các quán nhậu nơi có người hẹn trước, khi thì ở quán Gió khơi trên bãi biển, lúc ở quán Bên đường ngoại ô thành phố... Khuya về họ say khướt, ông chủ thầu lái xe phóng như bay qua các đường phố rộng thênh thang, cao hứng ư ử hát một đoạn tình ca sướt mướt, làu bàu chửi người này bẩn thỉu, tấm tắc khen người kia đáng mặt cho ông giao dịch làm ăn... Tuy nhiên thường hơn cả trong thời gian này là Thịnh ngồi tại văn phòng của ông ta. Văn phòng hãng thầu đặt tại nhà riêng. Đó là một căn nhà ba tầng mới nổi lên những năm gần đây, trên một con phố chạy từ ngã sáu dưới chân nhà thờ chính tòa ra biển. Dưới mắt Hà ngày ấy, Thịnh là một thanh niên hai mươi sáu tuổi đã hai lần ra chiến trường và hai lần đào ngũ, một “lao công đào binh” mới trốn thoát trở về từ mặt trận Pu Prăng, một cựu sinh viên Văn khoa bị đuổi ra khỏi trường vì tham gia phong trào tranh đấu, một người cũng đọc khá nhiều sách và đôi khi cũng ưa triết lý, ưa cả thảo luận chính trị, đồng thời, lại là nhân viên giúp việc cho ba cô, với khuôn mặt gầy, mái tóc cứng, đôi mắt hơi vàng vì sốt rét, có lúc trông lờ đờ mệt mỏi nhưng có lúc lóe lên những tia nhìn táo bạo, con người ấy là một cái gì hết sức lạ lùng, khó hiểu đối với cô, gợi cho cô sự tò mò, có lúc lại gây cho cô một nỗi lo ngại... Và như bao nhiêu cô gái khôn ngoan khác, cô biết khéo léo giữ cho lòng mình bình tĩnh, tự nhiên mỗi lần trò chuyện với anh trước văn phòng. Cô thường gọi anh là “chú Thịnh”.

- Chú Thịnh đưa gia đình lên đây đã lâu chưa?

- Từ đợt đầu. Nhà nằm ngay ở lô thứ nhất từ con đường chính.

Hà vuốt tóc đứa bé âu yếm hỏi:

- Có em chưa?

- Chưa đâu! – Thịnh đáp thay con. Rồi anh cười – Còn Hà, mấy năm rồi có gì lạ không?

- Không có chi, chú! A, có chứ! Tất cả đều mới. Cháu từ thành phố lên đây không lạ sao?

- Hà thấy nơi này thế nào?

- Cháu chưa nghĩ, chú – Cô chớp chớp mắt cười – Cháu mới lên được vài tuần, thấy lạ và hơi ngán. Nhưng rồi sẽ quen đi. Cuộc sống có gì là ghê gớm lắm đâu, nó chỉ là những thói quen xâu chuỗi lại. Hy vọng mai kia cháu sẽ yêu được nơi này. Chú đã yêu nơi này chưa?

Thịnh cười, định nói nhưng lại thôi, im lặng nhìn hai cô gái. Anh giúp con ăn chè, hớp từng ngụm cà phê, lấy gói thuốc vấn một điếu châm lửa, lơ đãng nhìn mông lung. Từ ngoài bước vào cửa hàng một người đàn bà trẻ với hai ba anh con trai mới lớn, họ đến quầy mua vé rồi ra bàn ngồi, mỗi người một điếu thuốc trầm ngâm. Thịnh biết người đàn bà đó đã lâu, không phải từ ngày đến đây. Những năm chiến trường Tây Nguyên sôi động nhất, bọn lính tráng và sĩ quan ngụy từ các phòng trà ca nhạc đắm mình trong men rượu và nghe cô lê thê hát những lời nức nở xót xa cho một mối tình vừa tan vỡ, tiếc nuối những gì đã hiến dâng, hẹn hò một kiếp khác...

Cô ta là người Thái, con một viên thượng sĩ di cư vào Nam, lưu lạc các chiến trường và nổi tiếng là một tay gian ác. Cô ta đã lấy gã đại úy tiểu đoàn trưởng, sống với nhau được hai đứa con gái nhưng không chắc chúng là con của gã. Cũng không chắc chúng là con của ai giữa đám sĩ quan trẻ tuổi lui tới phòng trà ca nhạc cũng thân tình như lui tới nhà riêng của cô trong những ngày dài chồng cô ta dẫn quân đi lùng sục hết cánh rừng này sang cánh rừng khác. Bây giờ cô ta ở đây, hai đứa con đã đi học. Chồng cô và đám sĩ quan đã biệt mù ngay từ lúc tiếng súng giải phóng Tây Nguyên mới nổ. Những buổi tối vui, cô ta đứng lên hát giữa cửa hàng giải khát hoặc trên con đường trở về nhà mới được Nhà nước cấp cho. Tiếng cô ta hát bây giờ không còn cái vẻ mê hoặc của những đêm ở phòng trà nữa. Tiếng hát nhiều lúc vụng về nhưng vẫn trong và ấm, vẫn được nhiều người yêu thích lắng nghe, bởi lời hát gợi lại trong lòng họ một quá khứ chưa xa.

Rồi Thịnh để ý đến một gia đình viên chức cũ đầy đủ vợ chồng con cái lớn bé bước vào quầy: ông bố gọi cà phê, bà mẹ và ba cô gái lớn ưa chè đậu xanh, hai cậu con trai nhỏ lại đòi nước ngọt. Họ ngồi một bàn gần cửa ra vào, sau lưng tốp thanh niên đang hăng hái cãi nhau về việc năm xưa tàn quân ngụy từ cao nguyên chạy về theo đường số bảy có phải băng qua ngôi làng cạnh đây hay không. Thịnh thích thú theo dõi cuộc bàn cãi, chốc chốc lại giúp con ăn nốt ly chè, đưa mắt nhìn hai cô gái và cố tìm một điều gì để nói, nhiều lúc định lên tiếng rồi kịp giữ lại. Mãi lâu anh mới hỏi bâng quơ:

- Hà đang ở tại trường hay trọ nhà ai?

- Tại trường, chú! Đang ở tạm chờ đến nghỉ hè trường mới xây cất thêm. Nhưng chú quá bộ đến thăm thì vẫn có chỗ tiếp! – Cô cười – Nhớ đưa thím đi cùng cho cháu nhận người quen nghe.

- Hôm nào Hà ghé đến nhà chơi cho biết.

- Vâng, chắc chú có đưa sách lên? Cháu đến mượn nghe. Cần có sách đọc ngấu nghiến cho qua một mùa hè nhàn rỗi.

- Hà về Nha Trang nghỉ hè chứ?

- Không, chú – Tự nhiên khuôn mặt cô đổi khác – Năm năm trước cháu đã nói: Nha Trang đối với cháu là nơi để đi xa mà nhớ, không phải là nơi để về cùng sống. Bây giờ cháu càng thấy điều đó đúng.

- Thế thì ai sẽ sống với Nha Trang?

- Ai cũng được, nhưng không phải là cháu. Trước kia cháu chỉ nghĩ về việc đi xa Nha Trang một cách hết sức lãng mạn, còn bây giờ... Mà chú hiểu rồi thôi, phải không?

Thịnh hiểu, hiểu khá rõ. Hà năm xưa chỉ muốn đi xa, đến một thị trấn, một vùng ngoại ô nào đó làm một cô gái xa nhà “cô đơn” – cái tiếng “cô đơn” ấy mới hấp dẫn làm sao đối với một cô gái mới vào đời hồi bấy giờ. Tổ ấm gia đình, ba má, đàn em... như một vùng không gian yêu dấu nhưng chật hẹp, nó còn khắc sâu trong lòng nhưng không thể giữ chân ai mãi được. Và Hà đã đi, đến một ngôi trường nhỏ nằm lọt giữa đồn điền cà phê đêm đêm hoa nở trắng ngát hương.

Nhưng kỷ niệm không phải là tất cả cuộc sống của một con người, nhất là những kỷ niệm thơ mộng. Tây Nguyên giải phóng, Hà hốt hoảng chạy khỏi ngôi trường đáng yêu ngát hương hoa cà phê và đầy ắp kỷ niệm đẹp đẽ của năm đi dạy học đầu tiên ấy. Về Nha Trang chưa kịp hoàn hồn thì ba cô lại tất bật chất toàn bộ gia đình gồm mười hai người lớn nhỏ lên một chiếc xe tải vật liệu xây dựng, chuẩn bị chạy tiếp. Hôm ấy cánh quân giải phóng đầu tiên đang vượt qua đèo Cả và đèo Phượng Hoàng, cả nhà ứa nước mắt, kể cả ông chủ thầu vốn nổi tiếng là con người rắn rỏi khi đứng trên xe đã nổ máy nhìn lại căn nhà ba tầng. Họ từ biệt ngôi nhà giữa tiếng súng cướp bóc của bọn tàn quân ngụy đã bắt đầu đì đẹt nổ. Vừa đẩy cần sang số xong ngước lên thì ông chủ thầu thấy một chiếc xe jeep cầm một lá cờ đỏ đậu ngay trước mũi xe. Thịnh bước ra từ chiếc xe ấy.

Đã lâu Thịnh không còn làm việc ở đây nữa, ít lâu sau khi Hà đi dạy học xa. Ông chủ thầu biết một cách không rõ ràng lắm về quan hệ giữa con gái và anh thư ký riêng, hiểu thêm Thịnh có dính líu đến một tổ chức chính quyền đang hoạt động ráo riết cho hòa bình và thống nhất đất nước. Ông đang tìm cách phản đối cả hai việc thì Thịnh tự ý không làm việc cho ông ta nữa. Thế rồi ngay trong lúc mọi việc chừng như đổ nhào trước mặt ông giữa tiếng súng rộ lên từng tràng, Thịnh lại tới. Ông mở cửa xe, lao xuống ôm lấy anh.

- Tôi sợ quá, Thịnh. Nói đi, tôi phải làm gì bây giờ? Nhà cửa của tôi đây, mồ hôi nước mắt bao nhiêu năm... Nhưng lũ con tôi, chúng sẽ chết mất trong tay cộng sản...

Trong cơn khủng hoảng của một con người từ lâu rồi dồn sức xây dựng từng ấy nhà cao tầng, khách sạn, tiệm nhảy, hiệu ăn cho sự thịnh vượng của một chế độ mà ông ta tưởng không bao giờ bị lay chuyển, đàn con mười đứa lớn nhỏ được đưa lên bàn cân với tài sản dành dụm được ở đầu cân bên kia. May thay, sức nặng nghiêng về phía chị em Hà. Thịnh thấy thương ông ta. Nhưng anh lại thấy thêm một điều nữa: ông ta đã phải tính toán, cân nhắc, tiếc rẻ như thế bao lâu, quả cân trong lương tâm ông có lúc đã phải chao đảo, chông chênh và đàn con mười đứa của ông có lúc đã nhẹ hẫng đi một cách hết sức tội nghiệp... Thịnh bảo ông đưa toàn bộ gia đình về nhà, đóng cửa kín lại, chờ trong vòng một ngày, rồi yêu cầu ông lái xe đi với anh để lo một số việc phục vụ kế hoạch giải phóng và tiếp quản thành phố.

Thế là ông ta giải được bài toán khắc nghiệt. Ông nhìn người thư ký cũ của mình bằng một con mắt khác. Ông nghĩ anh là chỗ dựa cho ông trong những ngày sắp tới. Ông ta khâm phục Thịnh, tự trách mình trước đây đã không đối xử tốt hơn với anh, ông hy vọng anh là một người rộng lượng sẽ che chở cho ông, và ông chờ đợi.... Sau cơn rùng mình chuyển động, thành phố đi vào trật tự mới, Thịnh công tác ở Ủy ban tiếp quản thành phố rồi chuyển sang công tác thông tin tuyên truyền, sau này anh được bố trí sang làm việc ở ban kinh tế mới thành phố. Còn ông chủ thầu ngày nào nay lại tìm được những vụ làm ăn mới để lao vào như thể chẳng hề có việc gì xảy ra, Hà ra trình diện và được cho đi dạy lại ngay trong thành phố.

Thỉnh thoảng Thịnh đến thăm cô vào buổi tối. Họ ngồi nói chuyện nơi bộ sa-lông kê trước văn phòng như xưa. Cô hỏi anh về chủ nghĩa xã hội, về văn học cách mạng, về vị trí của hàng chục nhà văn tên tuổi trên khắp thế giới thuộc đủ các xu hướng, trào lưu khác nhau – những nhà văn mà cô đã miệt mài đọc trong những năm qua khi những bản dịch được đua nhau xuất bản ở các thành thị miền Nam trước đây. Khuôn mặt cô rạng lên vui sướng khi được biết rằng Tônxtôi vẫn có được vị trí sáng chói ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa, rằng hàng vạn bản in tác phẩm dịch của Rơ-mác đã được phát hành ở miền Bắc ngay trong những năm chiến tranh ác liệt nhất, rằng tác phẩm của Đôxtôiepxki đang nằm trong danh mục sắp in trong những năm đầu đất nước thống nhất... Cô tranh luận với Thịnh về hàng loạt tác giả khác ở châu Âu, và không phải lúc nào Thịnh cũng đủ sức thuyết phục cô. Nếu một năm trước đây cô chỉ là một cô gái thành thị có ăn học và đang nao nức bước vào đời với tất cả cái vẻ tò mò ngây thơ thì lúc này Thịnh nhận ra qua những buổi tối trò chuyện ấy, cô đang cố gắng nâng mình lên với cuộc sống rộng lớn xung quanh, cuộc sống khác biết bao những tơ tưởng mà cô đã dựng lên cho mình trong từng ấy năm với sự hỗ trợ đắc lực của ba cô. Những buổi tối chuyện trò như vậy thường kết thúc rất khuya và trên đường về Thịnh tưởng chừng có một đôi mắt vẫn dõi theo anh, đôi mắt long lanh, cảm mến.

Một buổi tối ông chủ thầu về nhà nồng mùi rượu. Ông ngồi bên cạnh con gái rồi nhìn thẳng vào mặt Thịnh, hỏi:

- Thế là anh bị đày sang bên kinh tế mới rồi hả? – Không đợi xem phản ứng của anh, ông tiếp, giọng mỉa mai, cay độc – Tôi đã biết mà, không có chỗ nào hơn cho các anh đâu, những “nhà cách mạng tháng tư” ạ!

Thịnh tái mặt. Một luồng máu nóng dâng lên, và anh đứng bật dậy. Hà níu lấy tay anh hốt hoảng kêu “chú Thịnh!”. Lạ thay, tiếng gọi ấy đã làm anh dịu lại. Anh dằn từng tiếng:

- Ông... ông không được nói như thế, ông hiểu chưa?...

Hà ôm mặt rưng rức khóc khi Thịnh phóng ra đường đi thẳng. Anh cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm. Còn Hà, cô phải đương đầu với một nỗi đau đớn nặng nề hơn rất nhiều. Hàng tuần lễ cô nằm vùi tránh giáp mặt ba cô. Rồi cô cảm nhận ra một sự mất mát lớn sẽ không gì bù đắp được: tình cảm đối với ba cô đã sụp đổ. Và Thịnh nữa, cô chờ anh nhưng từ đó anh không lui tới căn nhà ấy nữa.

Ông chủ thầu lại lao vào làm ăn, nhận thầu xây dựng một loạt công trình cho nhà nước. Tiền bạc phất lên, ông luồn lách mua chuộc một số cán bộ rồi bêu riếu cách mạng. Ông dối trá trong thi công các công trình, ăn cắp vật tư, vi phạm những hợp đồng đã ký kết, làm đình trệ những công trình khác, quỵt tiền trả cho nhân công làm thuê, và nhiều việc làm man trá khác... Thay cho sự quan tâm lo lắng và thương yêu đối với Hà như ngày nào cô mới tốt nghiệp đại học, bây giờ ông chế giễu từng công tác của cô ở nhà trường, những đồng lương khiêm tốn cô lĩnh được mỗi tháng, có khi ông lật sách giáo khoa và giáo án của cô ra trích dẫn từng câu, từng đoạn để châm biếm... Không chịu đựng nổi, Hà dọn quần áo sách vở đến trường xin ở tập thể. Ít lâu sau, cô hay tin tất cả những việc làm vừa qua của ba cô bị lôi ra ánh sáng...

- Chú Thịnh còn ngồi hay về?

Thịnh vấn vội một điếu thuốc nữa rồi đứng lên. Hà bế con gái anh đi trước, họ ra khỏi cửa hàng. Bầu trời đầy sao, đêm không có sương, gió cũng đã ngưng từ lúc nào và Thịnh đoán chừng đêm nay sẽ có mưa. Mưa, những thửa đất đã cày xới đang khát khao dòng nước mát, những hạt mầm đang hứa hẹn mọc lên...

Thịnh đi với hai cô gái một đoạn đường dưới ánh sáng những ngọn điện từ trên cao tỏa xuống. Đi bên cạnh anh, Hà nói nhỏ:

- Cháu xin chuyển công tác lên đây thì hay tin gia đình có ý định vượt biên. Ba cháu lao vào hết sai lầm này đến sai lầm khác. Cháu thấy đau lòng, vừa thương vừa sợ, nhất là khi nghĩ đến những đứa em cháu đang lớn lên, nghĩ đến má cháu. Mới đây... – Cô ngừng lại không nói tiếp.

- Hà nói tiếp đi.

- Thôi chú ạ! Mà cháu cũng trách chú nữa.

- Sao?

- Lẽ ra hồi ấy chú có thể giúp cháu nhiều hơn. Cháu tưởng... không bao giờ chú nhìn mặt cháu nữa. Ôi, lúc nãy nhìn thấy chú, cháu hoang mang quá, vừa ngại, vừa mừng.

Thịnh cười:

- Sao lại ngại? Chúng ta vẫn... quý mến nhau như ngày nào, phải không?

- Cũng đã khác đi rồi, chú Thịnh! – Cô ngước nhìn anh rồi quay đi – Nhưng thôi, thời gian sẽ giúp cháu. Cháu sẽ gắn bó với mảnh đất này. Cháu đang có những đứa học trò rất dễ thương, một số là học trò cũ hồi ở thành phố, gia đình chúng cũng mới lên đây ít lâu. Cha mẹ chúng cũng quý mến cháu lắm, họ hiểu... Đến ngã rẽ họ dừng lại.

- Gặp lại chú, cháu rất mừng. Càng mừng hơn khi thấy chú...

Anh không chắc có phải cô nói tiếp hai tiếng “hạnh phúc” hay không. Anh đón lấy con từ đôi tay cô, và bất giác anh cảm thấy mùi tóc cô thoảng qua, rất nhanh thôi, nhưng nó gợi cho anh những hồi tưởng ngỡ không dứt đi được. Và anh buột miệng:

- Mới đấy mà đã năm năm, Hà nhỉ?

- Dạ. Thôi chú về, hôm nào sẽ gặp lại. Cháu gởi lời thăm... thím.

Thịnh chào cô bạn của Hà, nghe cô nói:

- Hà có nói chuyện về chú cho Chi nghe. Chúng cháu thân nhau lắm.

Thịnh tần ngần đứng nhìn họ một lúc lâu rồi mới vội vã đi về nhà. Đứa bé ngả đầu lên vai anh lặng lẽ, nhưng đôi mắt nó mở tròn nhìn đoạn đường anh bỏ lại sau lưng. Và trong lòng anh, những mảnh ký ức rời rạc, chắp vá hiện ra với mùi hương tóc vừa nãy kia nối kết lại.

Vợ anh đang nằm chong đèn đợi.

- Ba bế hay dắt con đi chơi?

- Có một cô nào ấy bế con.

Anh cười khi thấy vợ nhìn mình dò hỏi. Anh bế đứa bé lên, đưa nó đi nằm.

- Có lần anh đã nói về một cô Hà, em còn nhớ không? Cô ấy vừa tình nguyện lên đây dạy học, anh mới gặp lại ngoài cửa hàng giải khát.

- Có phải con lão chủ thầu nhà ở chỗ... anh Lập đưa em tới gặp anh lần đầu? Thôi em nhớ ra rồi...

- Cô ấy hẹn sẽ đến thăm em.

Vợ anh buông màn cho con rồi đến ngồi bên, quàng tay ôm lấy mái tóc cứng của anh cúi xuống hỏi:

- Cái cô Hà ấy mà, có lần anh nói nửa chừng lại thôi. Sao hồi ấy hai người không yêu nhau nhỉ?

- Anh nhớ đã kể cho em nghe cả rồi cơ mà?

- Chưa, kể đi.

Thịnh không kể. Và mặc dù đã hỏi chồng, vợ anh cũng không đợi anh phải nói. Chị đã biết. Không kể thời kỳ ngắn ngủi trước khi xảy ra sự phẫn nộ của Thịnh đối với ông chủ thầu, ngay cả trong mùa hè họ mới gặp nhau, dù biết bao lần Thịnh tưởng mình sắp sửa nắm lấy đôi bàn tay cô gái để xúc động bày tỏ tình yêu của tuổi thanh xuân muộn màng vừa trở lại với anh sau khi trốn thóat khỏi trại tù khổ dịch chiến trường nhưng anh đã chỉ ngồi yên trong bộ ghế sa-lông, nghe cô nói và đối đáp với cô đủ thứ chuyện này kia khác nọ. Trước sau anh chỉ là một người làm thuê của ba cô, hơn nữa anh lại là một người đang bị truy nã. Hồi ấy, Thịnh không muốn thay đổi vị trí của mình.

Mưa rào rào đổ tới. Từ những căn nhà trong xóm vọng tới tiếng cười nói reo vui sôi nổi của hàng trăm người. Vợ Thịnh cũng sung sướng nói với chồng:

- Mùi đất thơm lừng, thích thật hả anh?

T.V

1976-1979

--> Read more..

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2007

Văn chương và “công nghệ“ tự đánh bóng

THẾ VŨ

Đầu giờ làm việc buổi sáng, nhà thơ ấy gọi điện thoại đến khoe: “Báo Y vừa đăng cho mình một chùm thơ, ông đọc chưa? Ôi, nhiều người quen lâu ngày không găp, nay thấy báo đăng thơ mình đọc liền rồi gọi điện khen quá trời…”. Nhiều người là mấy người ? Thế có ai gọi điện đến chê thơ dở không? Tôi định hỏi, lại e làm hỏng cơn hưng phấn của nhà thơ, đành thôi vậy!

Hiện có khá nhiều người viết văn làm thơ sống bằng nghề báo. Do mối quan hệ gần gũi giữa các nhà này với nhau mà mỗi lần in được sách, các tác giả thường được các báo đăng bài giới thiệu sách mới, ngắn dài tùy mức độ thân sơ. Nếu chỉ có thế thì không có gì phải nói. Nhưng từ đó xuất hiện không ít bài điểm sách được viết bằng thứ ngôn ngữ giao đãi đèm đẹp cho phải đạo bạn bè, một số bài còn hào phóng khen ngợi nhau không tiếc lời – thậm chí không cần phí thì giờ đọc sách vẫn viết được. Nhân một tác phẩm mới xuất bản, trên các báo thường xuất hiện những bài trao đổi, phỏng vấn tác giả. Người đọc tinh ý có thể nhận ra đây đó bài tự phỏng vấn mình của nhà văn A, nhà thơ B… nhờ báo quen đăng tải, nhằm tự lăng xê, quảng cáo tác phẩm cho chính mình. Có nhà văn sau khi xuất bản một cuốn sách, lại tự viết bài giới thiệu, điểm sách rồi ký tên khác – tên vợ con, tên bạn bè hoặc một cái tên bất chợt nào đó – gửi các báo quen đăng tải, vậy là vừa có bài báo “khách quan” khen cuốn sách lại vừa được trả nhuận bút! Khái niệm “kẻ tung người hứng” nay đã lỗi thời, nay tung hứng cũng một người ấy, người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn, người điểm sách và người có sách được điểm chỉ là một, cứ như làm xiếc vậy - chỉ có người đọc là hơi bị nhầm.

Không phải chỉ những cây bút ít tên tuổi mới cần đến công nghệ tự đánh bóng mình vì háo danh hay hám lợi. Văn chương bây giờ hình như không cần công chúng cảm nhận đánh giá mà chỉ cần có người bỏ tiền ra mua, và như bất kỳ một món hàng tiêu dùng nào khác người ta sẵn sàng làm hàng giả và quảng cáo như hàng thật. Chuẩn bị tung ra thị trường chữ nghĩa cuốn sách mới, một nhà văn khá có tên tuổi đã tưởng “rửa tay gác kiếm” khoảng mươi năm nay bỗng nhiên xuất hiện cấp tập qua các bài trả lời phỏng vấn trên nhiều tờ báo để “tiếp thị” trước: “Tôi có tham vọng gửi nhiều thông điệp khác nhau tới độc giả trẻ”, “Tôi tin cuốn tiểu thuyết mới của tôi sẽ đắt hàng”, “Tôi bảo đảm nó sẽ là một cú sốc, một sự kiện của tiểu thuyết Việt Nam” ANTG số tháng 4.2003)... Nghe có mùi “sơn đông mải võ”. Chẳng biết khi sách phát hành, độc giả có tìm thấy bức thông điệp nào trong sách của ông không, nó có gây sốc trong đời sống văn học thật không – tốt nhất nên chờ thời gian và công chúng trả lời. Thế nhưng trả lời câu hỏi ông nghĩ gì về những lời khen chê tác phẩm của ông, nhà văn lên giọng: “Những người chê tác phẩm của tôi hầu hết là những người viết nghiệp dư. Quan điểm của tôi là không nói chuyện với người nghiệp dư, tôi không dại gì mà làm thế. Nhà văn là trí thức…”(SVVN số 12/2003). Nghĩa là đối với công chúng, nhà văn và tác phẩm của ông ta thuộc về một phạm trù… bất khả tri luận, họ chỉ được quyền mua đọc và… miễn bàn ?!

T. V

--> Read more..

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2007

Bác Thế Vũ !

HƯƠNG GIANG

Tự dưng tối nay lướt mắt qua những trang văn nghệ (Báo Thanh Niên), chợt dừng chân lại nơi một tin vắn: blog của bác Thế Vũ. Rất bỗng dưng, trái tim tôi nhói lên một nhịp khẽ, người bạn - người anh của mẹ tôi. Một người cực tốt... nhưng...

Ơi những người cực tốt
Trái tim thường hay đau

Nhắm mắt lại, trong tiếng nhạc cổ điển dịu dàng... tôi nhớ... nhớ giọng mẹ lạc lõng đến buồn đau khi nói với tôi: "Mẹ nghe tin bác mất, con đến thắp cho bác nén nhang... địa chỉ là...".

Tôi - cô sinh viên năm nhất - gò mình đạp xe giữa mê hồn trận thành phố để tìm nhà - để rồi lúng túng khi ngồi đối diện với bác Hà - vợ bác Thế Vũ...

Nhớ bác - nhớ giọng nói trầm ấm... và sự quan tâm rất thật đến anh em, bạn bè... một con người luôn trăn trở trước thời cuộc, và những dòng bút sắc bén trên mặt báo... cũng như rất chắt chiu chọn lọc từng con chữ.


Tôi vào blog viết cho bác Thế Vũ - vợ bác và hai con lập nên - một nơi để tưởng nhớ về người chồng, người cha... và cũng là nơi để bạn bè ôn lại những kỷ niệm về bác, những trang viết của bác được trải lòng.

Tôi nhớ bác, nhớ đến lời cầu chúc khi trước ngưỡng cửa cuộc đời tôi chạm phải quá nhiều trở ngại, bác đã nói với mẹ tôi: "Để anh viết động viên cháu".

Bác... 3 năm rồi... nhưng những kỷ niệm tốt đẹp về bác, những gì bác đã làm sẽ sống mãi bác ạ... và trong gia đình cháu... bác luôn là người anh, người bạn lớn. Vẫn còn đây những tập sách bác tặng mẹ cháu, những trang sách trân trọng trên kệ... vẫn còn đây những bài viết....

Bác - cầu chúc bác yên nghỉ giữa tình thương bạn bè và tất cả...


Cháu nhớ bác... nhớ lời chúc của bác... và cháu biết mình phải có trách nhiệm hơn, mạnh mẽ hơn. Không có gì là bằng phẳng cả, phải không bác?

H.G

--> Read more..

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2007

Mưa trên lầu bát giác (phần 2)

(tiếp theo phần 1)

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Hồi còn tự do bên ngoài, anh đã không thiết tìm tới sự cứu giúp của tôn giáo. Gia đình anh thì lại càng không biết gì đến những con đường cứu rỗi, giải thoát. Bố anh là một lão nhà quê nghèo khó chỉ biết có thờ phụng ông bà như cái đạo làm kẻ hậu sinh. Tuy nhiên, hồi mới lớn lên, được cho lên tỉnh theo học, trải qua thời buổi đói kém và gia đình lâm cảnh cơ cực, anh có theo một người bạn sống lây lất bằng những bát cơm nhà chùa. Có một thời gian anh theo học thần học giảng bằng ngoại ngữ nơi một mục sư Tin lành. Thời kỳ bôn đào, anh có trú ngụ nơi một nhà thờ nhỏ của một linh mục người Pháp mà ngay cả vị linh mục cũng không biết chắc anh có phải là con chiên của Chúa hay không. Tóm lại, ngược với mục tiêu tinh thần mà các tôn giáo hướng tới, anh chỉ đến với tôn giáo trong những khi bị khủng hoảng vật chất. Nhưng anh lại nghĩ rằng để đạt được sự yên ổn tâm hồn, trước hết con người phải tìm thấy nơi đời sống thường tục một sự an lành tối thiểu nào đó. Chỉ có trên những trang kinh thánh những kẻ mắc tuyệt chứng, những kẻ sắp chết, những kẻ đói khát cùng cực, những kẻ bị tróc nã mới có thể được phép lạ cứu rỗi; ngày nay thì chính con người phải phấn đấu để tự cứu rỗi bằng chính sức lực tàn tạ của mình, họ phải bò lê lết đi kiếm cái ăn, họ phải tìm mọi cách bôn tẩu để sống sót trước đã. Trong đời sống thường nhật, họ không ngừng đặt lại một câu hỏi: thật sự Chúa và các thần linh đứng ở đâu, ở phía nào hai bên ranh giới sự thật và ngụy trá, sấp và ngửa. Ở trong phạm vi hẹp hòi của bốn bức tường giam, có thật Chúa về ngự trên vai ông linh mục, Chúa hiển linh trong từng lời cầu nguyên, ban ơn. Chúa có ban phép mầu xuống đôi tay hồng hào, mập mạp của ông linh mục khi đưa tay nâng bình thánh thể? Chúa có thật hiện hữu và cứu giúp con chiên của mình trên con đường phấn đấu nghiệt ngã để tìm kiếm lẽ phải? Và tất cả uy quyền của một Chúa toàn năng có phải được thể hiện qua ông linh mục chiếm nhiều đặc quyền trong trại giam này hay không?

Sau một thời gian ngắn suy nghĩ, anh đã phải buồn rầu đồng ý với bạn hữu anh rằng Chúa không hiện hữu trong lao tù. Kinh thánh ghi rằng ở đâu con người biết và kêu cầu đến Chúa thì ngài có mặt ở đấy, tuy nhiên có lẽ trên trần gian này ngày nay có những nơi mà Chúa vẫn không đủ uy quyền để bước vào. Thanh kiếm khổng lồ cắm xuống trung tâm ngôi lầu bát giác biểu trưng của một thứ uy quyền tối thượng, có phải uy quyền đó đã chế ngự cả uy quyền của Chúa mà Đức Chúa cha đã ban sai? Nếu Chúa hiện hữu bên trong những bức tường ngăn cách cuộc đời và Chúa vẫn ở về phía lẽ phải thì làm sao giải thích được những nghịch lý của lao tù. Nhưng nếu Chúa vắng mặt ở đây bởi đã có một thứ uy quyền khác bảo vệ sự ngụy trá và nghịch lẽ phải, thì cái con người nhân danh Chúa mỗi tuần lễ hai ba lần ban ân thánh xuống những người tội tù là ai, cái con người hồng hào, mập mạp, trong bộ áo chùng đen, với đủ thứ đặc quyền và lợi lộc mà nhà lao dành cho kia là kẻ nào, ông ta đại diện ai? Chúng ta đang sống trong một thời đại cần thiết cái tính chất thực tiễn, tuy nhiên lại có nhiều người nhân danh công bình nhân loại, nhân danh tự do lẽ phải, nhân danh đấng toàn năng thỏa hiệp với đặc quyền và bạo lực để áp bức kẻ khác. Vậy thì lạy Chúa, chúng tôi những kẻ đang cùng quẫn vì bị áp bức hằng ngày xin được tin tưởng mãnh liệt rằng không bao giờ Chúa hiện diện bên trong bức tường bảo vệ đặc quyền và bạo lực này.

Ngày hôm sau anh được gọi lên văn phòng điện ảnh. Gọi là điện ảnh để tránh né, để tạo cho tù nhân một ý niệm mơ hồ trước khi thực sự bước vào nơi mà thực chất là phòng tra tấn. Phương pháp tra tấn ngày nay cũng đã được đổi mới rất nhiều từ khi hai tiếng điện ảnh được dùng đồng thời với việc thay đổi cơ cấu cai trị nhà tù. Anh được một tên an ninh dắt đi, được mời ngồi dưới nền đất cạnh bàn làm việc. Một tên tù có nhiệm vụ đưa mắt liếc nhìn anh rồi hỏi một cách ồn ào:

- 9002 hả?

- Vâng.

Hắn xoải chân ra ngoài ghế ngồi, đạp mạnh vào người anh trước khi lên tiếng dạy dỗ:

- Dạ, nghe chưa mày?

Anh trả lời một cách thiếu ngoan ngoãn:

- Dạ.

- Tại sao liên lạc với tù chính trị?

- Tôi quen họ từ trước khi mất tự do.

- Làm gì mà mày quen họ? Mày biết họ làm gì không, mày cũng là Việt cộng à?

Anh cúi xuống nhìn đôi tay mình, không trả lời. Đứng trước uy quyền và bạo lực bao giờ anh cũng ít nói, bởi anh hiểu rằng có nói cũng chẳng lợi ích gì. Những điều anh nói ra sẽ không được nhận hiểu một cách trung thực, lời anh nói lúc đó lại là những cái cớ cho họ buộc tội, bắt bẻ và tra tấn.

Người thẩm vấn hỏi tiếp:

- Thế nào nói đi chứ, mày có phải là Việt cộng không?

- Dĩ nhiên là không phải.

- Dĩ nhiên là không phải, đừng lớn lối trong phòng điện ảnh. Mày chưa nghe nói đến thành tích phòng điện ảnh à?

- Có nghe đại khái.

- Ừ thì liệu hồn. Tại sao mày liên lạc với những con người kia?

- Tôi quen họ từ hồi còn tự do, tôi không nghĩ họ là Việt cộng.

Anh lại bị đá thốc vào ngực:

- Còn gì nữa mà nghĩ hay không nghĩ. Mày có nghĩ hay không mặc xác mày. Ở đây, bọn đó là bọn phản động, bọn vô chính phủ, nghe chưa? Mày bào chữa cho bọn đó à? Tội trạng chúng nó đã rành rành ra kia mới bị tống giam, mày cho là luật pháp sai lầm hay sao?

Anh hiểu rằng mình phải nhượng bộ về nhiều lẽ chẳng hạn như không đấu lý với kẻ nắm uy quyền, tuy nhiên anh ngại rằng mình sẽ phải nói khác đi, nói những điều trái lương tâm mình. Anh không ưa mang mặc cảm hèn nhát, với anh không gì tệ hại hơn sự nhu nhược, gian dối với chính lòng mình. Nhưng ở đây anh không muốn bị biến thành trò chơi của kẻ khác, mặc cho họ đẩy đưa, giày xéo mà không lên tiếng phản kháng.

- Tôi có đến thăm viếng, nhờ vả họ...

- Mày nhớ quy định của trung tâm?

- Nhớ.

- Tốt. Mày sẵn sàng chịu trừng phạt thích đáng? Sẵn sàng để bị truy tố?

- Tôi không nghĩ như thế. Tôi... không liên hệ đến những hoạt động của họ.

- À thằng này đùa. Mày sẽ biết, sẽ biết sự trừng phạt thích đáng là gì.

Đó là một lời dọa nạt có kèm theo hành động. Từ hồi mới liên hệ đến luật pháp, anh đã quen với thứ ngôn ngữ dọa nạt đó. Anh đã trải qua cả tuần lễ ở bộ chỉ huy cảnh sát quận, một tháng rưỡi ở tổng nha, đã quen với ma-trắc, roi vọt, những cú đấm vào mặt, vào lưng, vào ngực, vào bụng, những cú đá vào hạ bộ và cả kỹ thuật tra tấn bằng hơi điện. Có khi người ta tỏ ra rằng những hình thức đó là thiết yếu để khai thác tội phạm, tuy nhiên thường thường người ta đã sử dụng nó chỉ để hành hạ một con người như con vật nằm trong đôi tay đầy quyền lực của họ mà thôi.

Anh cũng phải trải qua những điều tương tự trong phòng điện ảnh. Dưới mắt tên an ninh, anh là một đứa ngoan cố. Để trừng trị thích đáng những đứa ngoan cố, người ta đã dùng đến mọi hình thức tra tấn, từ những hình thức tân kỳ đến những hình thức cổ điển khi chúng lên cơn thịnh nộ. Điều họ cần anh xác nhận là đã liên lạc với những ai, nhằm đưa những tin tức gì, tổ chức xách động chống báng ban quản đốc và đường lối cải huấn vào lúc nào, nhằm mục đích gì, có xách động thường phạm hay không, nhằm vào thành phần nào, có mưu đồ nổi loạn khi tình thế bên ngoài cho phép hay không. Sau một hồi quần thảo trong phòng tra tấn, anh lại được dìu ra ngoài văn phòng đối diện với người thẩm vấn.

- Thế nào, sự trừng phạt đó ra sao? Chịu khai rõ ràng chưa hay vẫn ngoan cố?

- Tôi chẳng biết phải khai những gì.

- Mày nhận những chỉ thị gì của bọn chính trị phạm?

- Tôi không nhận chỉ thị nào cả. Tôi chỉ đến với họ trong tình bằng hữu.

Gã nhếch môi cười:

- Vẫn cứng đầu. Sự trừng phạt có thể giảm khinh nếu biết ăn năn. Đừng tưởng mày chỉ bị trừng trị đến như thế là cùng. Nói đi, mày quen biết, chuyện trò với những tên nào?

- Thuật, Ngữ là bạn cũ của tôi ở ngoài đời.

- Hai đứa đó ở phòng dành riêng cho sinh viên?

- Vâng.

Gã xoải chân đạp anh một phát vào mặt:

- Đã bảo không có vâng. Mày quen tên Minh cũng trong phòng đó?

- Không, tôi chỉ biết anh ta, không quen.

- Có nói chuyện?

- Không.

- Còn tên Thành.

- Có quen, không thân thiết lắm.

- Có nói chuyện?

- Một đôi lần.

- Chuyện gì?

- Chỉ hỏi thăm sức khỏe, tình trạng can án, ngày được trả tự do.

- Mày sẽ không có ngày tự do, con ạ. Mày sẽ bị truy tố và lãnh thêm bản án mới, biết không?

- Biết.

Anh thở dài. Gã an ninh ngước nhìn, hỏi:

- Hối hận hả?

- Không. Tôi chẳng làm nên điều gì để phải hối hận cả.

- Rồi sẽ biết, đừng có bướng bỉnh trước mắt tao. Tao đã từng ngồi chỗ này làm việc gần mãn cái án cấm cố của tao, đừng qua mặt. Những thằng ngồi dưới chân tao như mày bây giờ chỉ đáng là những con rệp. Nói đi, mày còn liên lạc với những ai nữa.

- Không có.

- Hôm nọ mày làm gì với tên Trường trong phòng sinh viên?

- Tôi nhờ anh ta hớt tóc hộ. Tóc tôi dài quá sau mấy tháng trong tù, không có tiền trả cho thợ hớt ở khu thường phạm.

- Nó đã nói gì với mày?

- Khi nào tóc dài thì tôi có thể trở lại tìm anh ta.

- Mày tố cáo với nó những gì về đời sống thường phạm?

Anh đã buột miệng định nói nhưng vừa kịp ngừng lại, tự dưng liếc mắt nhìn kẻ hỏi mình. Anh không thể thừa nhận những gì đã nói với anh em sinh viên về cách thức cai trị tù thường phạm. Gã an ninh nắm được cái nhược điểm đó, vội đẩy thêm một lời khuyến khích:

- Ở đây mày có quyền nói thật những gì ngược đãi ở khu thường phạm mà không sợ một ai thù oán chi cả. Đường lối cải huấn của trung tâm là...

Nhưng cái chiêu bài đó không kích thích nổi anh. Anh đã hiểu rất rõ cái gọi là đường lối cải huấn của trung tâm, đó là bịt miệng ngay tức khắc những tiếng nói chống lại việc bóc lột tù nhân có hệ thống, bịt miệng bằng cách biệt giam trong phòng điện ảnh, nhốt cát-sô lầu tư, hoặc là một cách thật bất ngờ đánh hội đồng ở dưới sân trong giờ sinh hoạt tự do cho đến khi thoi thóp chờ chết. Tuy nhiên trong tình thế hiện tại anh không thể không trả lời. Anh ngập ngừng nói liều:

- Sự thật ở các phòng giam thường phạm thì hẳn các ông đã quá hiểu rõ. Tôi chỉ nói với Trường đại khái những gì tôi phải chịu đựng.

- Thôi đừng khôn vặt. Mày tố cáo thế nào?

Buổi sáng hôm đó kết thúc bằng những câu trả lời quanh co của anh và sự giận dữ của gã an ninh. Anh được trả lại phòng biệt giam sau lời đe dọa của gã an ninh rằng buổi thẩm vấn kế tiếp đừng hòng lấp liếm như thế bởi gã sẽ cho áp dụng những biện pháp cứng rắn hơn.

Quá rã rời và đói khát, anh trở lại phòng là nghĩ ngay đến cơm ăn, nước uống và một giấc ngủ. Nhưng cái thùng cơm mà người ta đưa vào phòng từ sáng đã hết nhẵn. Anh nghĩ đến buổi chiều cơm cũng sẽ được đem vào lúc anh đã ra khỏi phòng để tiếp tục cuộc thẩm vấn, như vậy sau mấy tiếng đồng hồ ngồi đối chất quanh co với tên an ninh với một trận đòn có thể có, anh cũng sẽ trở về phòng với cái đói và không hy vọng gì sẽ tìm được miếng ăn trong nhiều bữa liên tiếp như thế. Anh ủ rũ ngồi bó gối, liếc nhìn cái bóng tối mờ mờ bao phủ từ người này đến người kia, có khi anh bắt gặp một khuôn mặt bình thản, có khi lại là một khuôn mặt quá sức thiểu não đến độ tệ hại, và có khi anh lại bắt gặp một khuôn mặt hung tợn chăm chú dò xét mình. Phản ứng của anh trước những cái nhìn dữ dội đó là cúi mặt xuống lặng lẽ trốn tránh. Dần dần anh cảm thấy có một nỗi bất an dâng lên cao. Cái lạ của nhà lao này là những phòng biệt giam cũng chật ních người chứ không phải chỉ một hay hai người co nhau trong một xà lim. Thật ra, những xà lim đều đã có người, thường thường là chính trị phạm có nhiều thành tích, những phòng biệt giam đành phải nuốt gọn cả trăm người trong một khối không khí chật hẹp vừa đủ cho khoảng hơn mười người.

Bất ngờ anh trông thấy một phuy nước ở cuối phòng. Anh không thể ngăn mình đứng bật dậy, chen chân giữa đám người nằm ngồi hỗn độn, bước tới. Không có cơm ăn, anh nghĩ mình có thể uống no một bụng nước lã để chịu đựng tới chiều, cái chất nước mát mẻ và ngọt ngào kia sẽ chạy qua cổ khô rát của anh, để lại một dư vị khiến anh tươi tỉnh. Nhưng cái nghịch lý lại hiện hữu ở khắp nơi trong trại giam gương mẫu của chế độ tự do dân chủ này. Khi anh vừa nâng chiếc ca, mở nắp đậy phuy nước, một bàn tay khẽ vỗ trên vai anh. Ngay lúc anh quay lại, một gót chân tung lên bay vào cằm khiến anh mất thăng bằng, loạng choạng rồi ngã. Gượng ngồi dậy, anh cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra.

- Ai cho phép mày?

Thì ra anh chưa được phép uống nước. Nhưng cái quy tắc đó lại chưa hề được ấn định và phổ biến cho anh hay. Anh đành đậy nắp phuy nước, úp cái ca vào chỗ cũ rồi loay hoay lui bước. Anh hiểu đó là quy tắc riêng của phòng biệt giam này – mỗi phòng giam đều có quyền ấn định thêm những quy tắc riêng bên cạnh quy định chung cho khắp trại giam. Anh cũng hiểu rằng cách tốt nhất là tránh mọi thứ rắc rối bởi vì lợi thế không bao giờ ở về phía kẻ bị hành hạ, đến đỗi anh ước sao mình thoát qua khỏi được mọi nhu cầu sinh lý thiết yếu hằng ngày trong lao tù, không ăn, không uống và không bài tiết. Được như vậy có lẽ anh sẽ an tâm nằm suốt trong tù như cái kén chờ ngày bò ra khỏi vỏ.

Anh ngồi thở hổn hển, mồ hôi rịn ra dưới chân tóc và trên lưng. Trong tù, mọi việc hiện hữu trước mắt. Sát trong tầm tay vẫn có thể là những cái ảo ảnh, xa vời. Một tên đánh cắp chiếc áo của anh xong rồi sẽ mang chiếc áo đó trở lại mời anh mua, nếu anh mở miệng nhìn nhận cái áo đó là của anh bị mất cắp, anh sẽ bị đấm vào mặt trước khi tên trộm ung dung đem chiếc áo đi mời người khác. Trong phòng biệt giam này, rõ ràng cả một phuy nước trong mát rượi đặt ở cuối phòng kia trong khi anh đang khát đến khản cổ, tuy nhiên phải nhắm mắt xua đuổi hình ảnh tươi mát kia, đánh lừa mình bằng cách nhủ thầm đó chỉ là một phuy nước thủng đáy. Một anh bạn ngồi bên đưa tay khều chân anh, mắt lấm lét nhìn bốn chung quanh rồi nói thật nhỏ cho anh vừa đủ nghe, rằng giờ uống nước chưa tới!

Chỉ còn một việc anh có thể làm được là nằm khoèo ra ngủ. Anh thèm ngủ kinh khủng, vì mệt lả. Chen giữa chỗ nằm của hai người khá lớn tuổi, như để tìm một sự an toàn anh lăn kềnh ra nhắm mắt ngủ. Buổi chiều anh lại bị đánh thức dậy để đi thẩm vấn tiếp. Đối diện với gã an ninh, anh còn giụi mắt cho tỉnh cơn ngái ngủ, gã an ninh mở đầu:

- Ăn uống no đủ rồi, lại ngủ ngon giấc trưa thì nhớ trả lời cho đàng hoàng nhé.

Anh cười méo mó:

- Đã có ăn uống chi đâu, đói lắm.

- Sao vậy?

- Trưa về phòng đã hết cơm. Khát quá tôi mò đến phuy nước định uống no trừ bữa ăn hụi, chẳng ngờ lãnh trọn một gót chân tung vào mặt. Họ bảo chưa đến giờ uống.

- À thế!

Hai chữ đó được thốt ra chẳng mang ý nghĩa gì. Anh chỉ cần biết là liệu sẽ có cơm ăn và nước uống hay không, nhưng tên an ninh đã mau mắn sang chuyện khác:

- Đói khát gì cũng vẫn phải trả lời cho đúng đắn. Ngoài những đứa mà mày đã khai khi sáng, mày còn liên lạc với những ai khác?

- Đâu có ai?

- Kìa đã bảo trả lời cho đàng hoàng. Mày quen biết ông già Đẩu như thế nào?

- Ông ta là một giáo sư thần học ở Viện Thần học Tin lành.

- Lão đó nói với mày những gì?

- Ông ta có vẻ không vui khi nói rằng từ hai mươi năm nay ông ta chưa bao giờ sống được nguyên một năm trời tự do. Ông ta nói bị chỉ định nơi cư trú dưới mọi chế độ, mọi thời.

- À đó là lỗi của ông ta. Tại sao không chịu sống yên với cái chức giáo sư thần học có phải là khỏe hơn không?

- Nhưng Chúa dạy ông ta phải luôn luôn đứng về phía lẽ phải. Mỗi lần ông ta nhích chân sang phía lẽ phải là lập tức bị chỉ định nơi cư trú. Đối với tôn giáo ông ta là một giáo sư thần học, nhưng đối với đất nước ông ta là một công dân nghe lời Chúa dạy yêu chuộng hòa bình. Hơn nữa, ở thời đại này, để tìm hiểu cặn kẽ tâm linh con người hầu giải thoát họ, tôn giáo có bổn phận phải liên hệ nhiều đến đời sống thế tục.

- Đó là bọn phản Chúa.

- Hồi xưa Chúa chữa bệnh cho những kẻ mắc tuyệt chứng bằng phép thánh linh. Ngày nay không ai thay thế Chúa làm được điều đó nữa. Không có một dòng nước nào không ô nhiễm trong thời đại này.

Gã an ninh bỗng dưng đập bàn giận dữ:

- Mày đâu phải được gọi lên đây để truyền giáo cho tao, thằng kia? Nói đi, mày nhận chỉ thị gì của ông già Đẩu?

- Không có chỉ thị gì cả.

Cơn điên khùng của tên an ninh hùng hổ, gã quát tháo, vung tay giáng vào mặt anh đến lúc mệt lử. Gã nghiến răng dằn cơn hung tợn:

- Tao biết mày thuộc loại đàng hoàng, con nhà có học, tử tế, tao không nỡ hành hạ như những tay đầu đường xó chợ hay những đứa nhà quê làm ra cái điều yêu nước. Nhưng đừng giỡn với tao, khùng lên thì tao không tử tế gì đâu. Gần chục năm làm cái việc này ở đây, tao chỉ quen trừng phạt thích đáng những thằng tù ngồi trước mặt, mày là cái thằng thứ nhất tao dùng lời dịu ngọt.

Gã muốn nói nữa cho hả giận, tuy nhiên gã lại bỏ đi. Anh ngồi một lúc dưới chân bàn, nghe đau nhức khắp trên cơ thể. Anh nghĩ tới người mang tên ông già Đẩu, một người đàn ông xấp xỉ bảy mươi tuổi, quắc thước, gầy nhưng vững chãi, râu bạc trắng dưới cằm, với một giọng nói rắn chắc, với những ý tưởng sâu sắc, luôn luôn cuốn Kinh thánh nằm trên tay trái mở ra phần thơ Đa-vít viết chương Thi thiên, mặc dù lúc đó ông ta đang ngồi trong một căn phòng nhỏ đằng sau viện Thần học, trong một phòng giam đông lúc nhúc hàng trăm con người hay một mình nằm rã thây trong cát-sô. Anh phải khai rõ những chỉ thị đã nhận được từ người đàn ông đó, nhưng làm gì có chỉ thị nào. Ông ta hoàn toàn là một người không bao giờ làm việc bằng chỉ thị. Ông ta tự động làm việc gì thấy là thiết yếu và mời gọi những người khác cùng nỗ lực như vậy.

Thời gian đầu trong phòng biệt giam, mỗi ngày hai lần anh bị gọi lên văn phòng để khai cung từ, bị hỏi lui hỏi tới đến nhàm tai về những liên hệ với nhiều người khác, những chỉ thị mà anh nhận của chính trị phạm, những hành động mà anh đã thực hiện khi trở về phòng giam. Anh biết cách ứng phó tương đối thích hợp trong mọi cách bắt bẻ, kết án và sau cùng anh thấy rằng quả thật chẳng có gì đáng ngại về những điều mình đã thực sự liên hệ tới. Bọn an ninh thừa hành chỉ thị của ban quản đốc, nhiều lần nữa sau đó, đã đưa anh vào phòng tra tấn, áp dụng kỹ thuật cũ mới nhằm trừng phạt anh và tìm kiếm sự thật nơi anh, tuy nhiên anh đã hết hãi hùng như ban đầu trước những dụng cụ kềm kẹp và những bộ mặt hung tợn. Anh thản nhiên trả lời những câu hỏi, có lúc điểm thêm những nụ cười khi chúng vui vẻ, đùa bỡn, trái lại khuôn mặt anh đanh lại những khi chúng nó cuồng bạo hành hạ. Tuyệt nhiên anh chưa phải nằn nì xin xỏ, khóc lóc than van trước mặt chúng. Dù sao, chúng vẫn bảo rằng hồ sơ của anh cũng phải trình tòa sau khi kết thúc và ban quản đốc sẽ truy tố anh về tội liên hệ đến những hoạt động chống báng ban quản đốc và đường lối cải huấn của chính phủ, và như vậy anh sẽ ngồi rục xương trong tù hết bản án này đến bản án kia.

Ban đầu anh quẫn trí kinh khủng vì không được ăn uống. Sau hôm cái gót chân của một kẻ lạ nào đó bay vào mặt, anh chẳng dám đến gần cái phuy nước. Căn phòng tối tăm kinh khủng dù là ngày hay đêm, mỗi lần đi thẩm vấn về là anh nằm lăn ra ngủ, chẳng biết làm gì khác. Được hai ngày như vậy thì anh cần giải quyết một nhu cầu khẩn thiết hơn mà không thể trì hoãn thêm được: anh cần đi đại tiện. Nhưng cái kinh nghiệm về uống nước khiến anh e ngại. Cuối cùng anh đánh bạo hỏi ông già nằm bên cạnh. Ông ta liếc nhìn trước sau rồi nắm tay anh dắt vào cầu tiêu nằm ở góc phòng, ông ta kiên nhẫn đứng ngay bên ngoài, vừa bảo vệ vừa chờ. Xong việc, ông ta dắt anh trở về chỗ nằm trong lúc nhiều tù nhân khác ngạc nhiên trố mắt nhìn. Anh hỏi thăm người đàn ông và được biết thêm một số quy luật riêng của phòng biệt giam này: tất cả những điều luật khắt khe kia thực ra chỉ dành cho thường phạm. Ở giữa hàng trăm tù nhân thường phạm nằm ngồi lúc nhúc suốt ngày đêm nơi đây, nhà tù cho lưu đày khoảng mười chính trị phạm xem như nguy hại, cần tách biệt khỏi những tù nhân chính trị khác. Nền tự do của xứ sở đã phát triển đến cái mức mà nhà tù hết chỗ giam riêng những thành phần nguy hại như vậy, những xà lim đều đã chật người, nơi dành cho một người nằm thì phải chứa đến ba người ngồi, bởi thế mới có cái cảnh tượng những kẻ biệt giam chen chúc nhau trong một phòng chật hẹp như căn phòng này. Những chính trị phạm đứng ngoài mọi quy luật phòng biệt giam. Bởi vậy họ có quyền làm gì tùy ý. Cái may mắn thứ nhất của anh hôm mới bị đẩy vào phòng biệt giam là đã thiếp ngủ ở chỗ của các chính trị phạm, bởi vậy anh đã tránh được những sự hành hạ mà bọn đại diện phòng vẫn dành cho những thường phạm mới bước chân vào. Kể từ hôm anh được bảo vệ lúc đi cầu anh bắt đầu thực sự sống với các chính trị phạm, được họ dành cho phần cơm mỗi bữa mặc dù không đủ no. Những tên tù vẫn nhìn anh với con mắt hung tợn trước đây đã thôi không theo dõi anh nữa.

Số chính trị phạm bị giam trong phòng này thường thường cũng phạm những tội lỗi mơ hồ như anh, đôi khi lại có vẻ như không có một lỗi lầm nào cả. Một ông già không dưng bị mời xuống phòng điện ảnh, biệt giam hai tuần lễ mà không được giải thích. Hai thanh niên bị kết tội xách động chống chế độ lao tù, những người khác đại khái cũng thế. Nhưng cái đám thường phạm hỗn độn kia thì quả tang mắc đủ thứ tội: đánh lộn có dao nhọn, ăn cắp, đả thương đồng bạn trong phòng giam, sử dụng ma túy bất hợp lệ, oa trữ bạch phiến trong người, vi phạm giờ đóng cửa phòng giam, uống rượu, di chuyển bất hợp pháp qua các khu vực của trại giam. Cứ vài đêm lại có một kẻ ghiền ma túy lên cơn quá độ rồi kiệt sức chết. Người ta dùng chân lật cái xác chết nằm ngửa ra đặt ở cuối phòng, nơi mà nước bẩn từ trong nhà cầu rỉ ra, miệt thị rằng bọn đó chết đi là đáng đời, thế nhưng ngay giữa lúc đó những đứa có tiền vẫn đang kỳ kèo năn nỉ ban đại diện phòng nhượng lại cho một tí bạch phiến để dùng qua cơn ghiền đã bắt đầu hành hạ. Một vài tuần lễ, hoặc là ông quản đốc trại giam, hoặc là ông phó quản đốc hoặc một nhân vật quan trọng khác đến viếng phòng biệt giam, lớn giọng đề cao sự nhân đạo của chính sách lao tù hiện nay, nhắc nhở tù nhân nên tránh sử dụng các loại ma túy và thuốc kích thích, sau hết còn nhấn mạnh rằng ban quản đốc sẽ dành nhiều biện pháp thích đáng để trừng trị những kẻ vi phạm.

***

Một buổi sáng chủ nhật, phòng biệt giam không được mang cơm vào như thường lệ. Đến gần trưa thì mọi người nhốn nháo cả lên vì cảm thấy dường như bên ngoài đang có một việc bất thường xảy ra. Dần dần mọi người đồng ý với nhau rằng có lẽ đó là một biến cố chẳng lành. Số chính trị phạm bề ngoài có vẻ điềm tĩnh hơn, nhưng họ không khỏi hỏi nhỏ nhau liệu đó là biến cố gì. Một vài người dự đoán có nổi loạn, và họ quả quyết trong trường hợp đó chính trị phạm phải là thành phần chủ động. Suy đoán như thế không phải là vô cớ. Theo tin tức mà số chính trị phạm biệt giam trong phòng thu lượm được thì đã có một số tù binh chiến tranh vừa được quyết định đưa về từ ngoài đảo để chuẩn bị trao trả tù binh trong đợt đầu, và chắc hẳn đó phải là nguyên nhân để tù nhân chính trị nổi dậy đòi được trả tự do. Thật ra, một số chính trị phạm đã bị giam giữ quá lâu, một số chỉ bị kết án một vài năm đã phải trải qua ròng rã hơn năm năm trong các trại tù; một số khác mới bị bắt trong thời kỳ sau này, tuy vậy họ cũng trải qua khoảng một năm nay hay hơn nữa mặc dù khi ra trước tòa, họ được xem là không đủ yếu tố để buộc tội và hưởng án treo hay tha bổng. Nhưng cái ngày tự do của họ thì lại quá xa vời. Phủ nhận chế độ tại quyền, họ không thể ngồi yên chờ ân huệ, họ cũng không còn tin đợi nơi ngày phán xét cuối cùng dưới chân Chúa, họ đã phải lên tiếng.

Xế chiều, một toán cảnh sát dã chiến võ trang đầy đủ đến bao quanh phòng biệt giam và án ngữ chặt chẽ trước con đường hầm. Cửa mở, một ít người được gọi tên và mời đi, thế rồi cửa lại đóng. Những người bị gọi đi là nằm trong số khoảng mười tù nhân chính trị. Mãi đến chiều bọn lao dịch mới mang phần cơm cho những người còn lại. Nửa giờ sau, hai thanh niên mới bị tống vào.

Họ nhận ra được những chính trị phạm ngay khi bước vào. Trong câu chuyện giữa những người cũ và hai thanh niên mới, anh hiểu là mọi người đã dự đoán sai lệch mất một nửa về những sự việc xảy ra trong ngày. Không phải tù nhân đã nổi dậy mà là để ngăn ngừa nổi dậy, nhà tù đã yêu cầu cảnh sát võ trang đến can thiệp trước. Tất cả những người bị nghi ngờ là thành phần nòng cốt trong một vụ nổi loạn bất ngờ có thể xảy ra như vậy đều bị chỉ định nơi cư trú một lần nữa: họ sẽ bị phân tán và đưa đi biệt giam ở nhiều trại giam khác hay là lưu đày ra đảo. Theo lời hai thanh niên, những người bị lưu đày sẽ xuống tàu ngay đêm nay, chuyến tàu chở một số tù binh chiến tranh vừa từ Phú Quốc về cập bến ban chiều. Số tù binh đó là những người đã bị giam giữ lâu nhất, từ hơn mười năm nay lần đầu tiên trở lại đất liền. Anh cũng còn được biết thêm rằng những người bạn của anh như Thuận, Ngữ, Thành... đều đã bị đưa đi khỏi trại giam này từ hồi xế trưa, những người khác thì không thể biết được số phận ra sao.

Toàn thể trại giam trải qua một ngày hết sức ngột ngạt, cả tù nhân thường phạm cũng bị ảnh hưởng. Cảnh sát dã chiến can thiệp đến xẩm tối mới xong sau khi hộ tống đoàn người đi biệt giam và lưu đày ra khỏi cổng và lại đón số tù binh chiến tranh để hộ tống vào tận phòng giam. Từ bao nhiêu năm qua, đây là ngày đầu tiên mọi phòng giam đều bị ngưng sinh hoạt. Ban quản đốc đã tung ra một mẻ lưới quyết liệt, tình hình trại giam bởi vậy từ nay cũng sẽ xoay chiều. Tất cả chính trị phạm đều bị bao vây kiểm soát kỹ lưỡng bằng một hệ thống an ninh hoàn bị hơn.

Trại giam sinh hoạt bình thường trở lại kể từ ngày hôm sau. Một số lớn chính trị phạm tuy vậy vẫn chưa kịp xuống tàu ra đảo, bị biệt giam lại nhiều nơi khác nhau trong trại, đã bắt đầu có những phản ứng dữ dội. Phản ứng đó lại có tính dây chuyền, những chính trị phạm không bị biệt giam cũng lên tiếng ủng hộ những người anh em bị bức hiếp của họ, phản kháng ban quản đốc và nhà nước luôn luôn đàn áp tù nhân, đòi trả tự do cho những người mãn án... Đồng thời, một bản sắc mới trong trại giam xuất hiện, đó là những tù binh mới đưa về trong bộ đồng phục màu nâu đã bạc màu vì mưa nắng và đày ải, mỗi ngày một tiếng đồng hồ xuất hiện dưới ánh mặt trời, trong những ô sân nhỏ hẹp lúc mọi tù nhân khác đã bị nhốt lại vào phòng giam. Những bộ áo nâu tập bước đi với nạng gỗ, hướng con mắt nhìn lên những phòng giam trên lầu cao, qua những song sắt tìm kiếm những người anh em. Họ vẫy tay và vui sướng trông thấy lờ mờ sau cửa sắt có những bàn tay vẫy trả. Đêm đêm, thay cho tiếng gào la những khi hồn ma hiện hình nơi một phòng giam nào đó, tiếng hát ca vang lên từ phòng giam tù nhân áo nâu, vang dội sâu xa vào mãi tận con đường hầm ghê rợn dẫn vào khu điện ảnh, vang đi khắp nơi trong ngôi lầu bát giác bít bùng này. Họ đã hát bằng con tim bừng nóng của họ, giọng hát, lời reo vui của họ hướng về quê nhà xa vời mịt mùng phương bắc, hướng đến tự do thực sự bên ngoài những bức tường giam, họ ngợi ca những miền nông trường nô nức những bàn tay cần lao... Tiếng hát vang lên hồi đầu đêm, hồi nửa khuya, hồi mờ sáng, luân phiên cho một thứ tiếng nói khác được nghỉ ngơi, đó là tiếng reo hò quyết liệt lên án chế độ dã man cai trị bằng roi vọt, lên án những âm mưu đen tối khác của kẻ cầm quyền, tiếng reo hò phản kháng thoát ra từ những phòng biệt giam các chính trị phạm chờ đi an trí.

Nằm trong phòng giam của khu điện ảnh, lắng nghe sự trỗi dậy của tự do trong mỗi giây phút nặng nhọc trôi qua, đồng thời với sự náo nức của một quả tim nhận hiểu tiếng nói khẩn thiết của thời đại mà mình đang sống, anh, con người thường phạm kia, kẻ đã từ bỏ vũ khí ngoài chiến trường hơn một năm trước, bỗng dưng nhận ra ở mình một sức mạnh mới mẻ và lớn lao. Anh thấy rằng mình sẵn sàng đối diện trở lại với tên an ninh, kẻ lấy khẩu cung anh, sẵn sàng trả lời thẳng những gì hắn cần ghi vào biên bản, không cần tránh né nữa.

T.V

Buôn Ma Thuột, 1974

--> Read more..