Thứ Tư, 31 tháng 10, 2007

Tiếng hát

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Cuối cùng nàng đã tìm tới căn nhà ấy vào một ngày đẹp trời. Con hẻm nhỏ quanh co dẫn từ mặt tiền phố chính lộng lẫy chạy qua một dãy phố ít bề thế hơn, đi sâu vào khu lao động nhà cửa xô bồ chắp vá, men theo một bờ tường rêu của ngôi chùa, len lỏi giữa một khu xóm mọc lấn trên mặt con kênh đen ngòm nồng nặc mùi sình thối lưu cữu. Đã gợn lên trong nàng ý định quay lui nhưng không rõ ma lực nào bắt nàng cứ dẫn bước trong nỗi e ngại ngập ngừng, vừa dùng dằng vừa liều lĩnh. Vậy là cuối cùng nàng đưa tay rụt rè gõ cửa mà không thật tin vào mắt mình. Lẽ nào anh chờ đợi nàng sau bấy nhiêu năm trắc trở ở một nơi như thế?

Anh hoàn toàn sững sờ. Có lẽ chưa bao giờ nàng đẹp đến thế, một vẻ đẹp chín muồi, rực rỡ trong bộ cánh sang trọng, dáng vẻ rất đài các, nhất là giữa một khu xóm tồi tàn trước một căn nhà nghèo nàn như vậy, trong một buổi sáng đẹp trời như vậy sau những ngày mưa dầm dề. Nắng vàng thu hào phóng trải xuống khắp thành phố một vẻ ấm áp dịu dàng. Trong lòng anh rộn lên một nỗi niềm ngang trái, một cảm giác hạnh phúc đầy bất trắc, một cơn đau tê tái ngọt ngào. Khi gọi tên nàng “Quỳnh Như”, tiếng gọi mừng vui tràn trề xúc động khiến anh muốn khóc.

***

Đã xa xăm như cổ tích thời trai trẻ của họ, nhưng giờ đây khi nàng đan cả mười ngón tay trong mái tóc muối tiêu cứng như rễ tre của anh, khi trái tim anh chợt đập những nhịp thổn thức cùng nỗi niềm hạnh phúc tê tái ấy, những đợt sóng kỷ niệm ào ạt tràn về tung xõa những cảm xúc rạo rực trùm lên kè đá hoang vắng đời anh. Choáng ngợp trong mùi hương nàng mang tới, anh quay quắt nhớ lại làn hương thiếu nữ của nàng hai mươi lăm năm trước, trong cái đêm suốt đời anh sẽ không quên họ ngồi ôm đàn hát với nhau trong sân trường đại học. Họ đã ngồi hát từ chập tối cho đến quá nửa khuya, từ lúc sân trường đông đảo bạn bè cho đến khi hầu như chỉ còn có hai người với một đống lửa đã tàn lụi chỉ còn những đốm than hồng. Anh buông đàn, ngạc nhiên: “Sao em không về với các bạn?”. “Em ở lại chờ anh”. Anh sững đi giây lát nhìn sâu vào khuôn mặt tuyệt vời ấy. Nàng tựa mái tóc mượt mà lên vai anh, làn hương thiếu nữ dìu dịu khiến anh ngây ngất. Anh bồi hồi vuốt ve lọn tóc trên vai nàng. Khi nàng ngẩng lên nhìn vào khuôn mặt lặng lẽ trầm tư của anh, lần đầu tiên trong đời anh run run đặt lên môi nàng một nụ hôn. Và rồi anh ngạc nhiên hỏi: - Em yêu anh từ bao giờ? Nàng ôm siết hai gò má anh không đáp, ánh mắt nụ cười không hiểu sao đầy vẻ bao dung đến vậy. Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua họ ngồi lặng lẽ tin cậy bên nhau, rồi ôm nhau đi lang thang trong sân trường, dưới bóng cây. Sương lạnh thấm vai, nàng thu mình nép vào cái dáng gầy gò của anh, cây đàn anh mang trên lưng thỉnh thoảng bất chợt bật lên một âm thanh lẻ loi, tan vào đêm khuya khoắt. Cuối cùng họ ngồi lại trên bậc thềm trước giảng đường, anh so lại dây đàn rồi khẽ dạo một bản tình ca. Nàng hát, giọng hát tự tin và xúc động, âm vang vừa đủ cho hai người nhưng thấm rất sâu vào lòng anh, đến đỗi hai mươi lăm năm sau nó vẫn còn vang lên trong ký ức của anh: Đêm đêm tiếng ca hao gầy đậu xuống môi em... Anh phụ họa theo một bè trầm để nâng giọng hát run run chới với của nàng lên: ... Những tiếng hát bay qua, một mai rồi tắt thở. Ôi chỉ còn câu hát với hư không...

Đã vang lên tiếng động cơ xích lô máy rồi tiếng gõ lóc cóc giòn tan của một chiếc thổ mộ chạy sớm ngoài đường. Một ngày khác đã sắp bắt đầu. Trong nụ hôn chia tay, nàng cầm bàn tay anh úp lên vòm ngực phập phồng của mình: “Nó sẽ mãi mãi rộn lên theo tiếng hát của anh”. Không ngờ câu nói ấy đã ám ảnh anh, đã trở thành định mệnh trớ trêu. Những đêm lửa trại trong sân trường đại học tiếp sau đêm ấy vẫn có Quỳnh Như. Nàng vẫn tìm được cách để ngồi bên anh, để được hát riêng với anh một số ca khúc, nhưng đó là những đêm không ngủ của cả tập thể, họ không còn những nửa khuya về sáng dành riêng cho nhau nữa. Rồi những ngày bãi khóa, những cuộc đấu tranh ngay trong sân trường hoặc tại đại học xá, trên đường phố sôi nổi lên thành cao trào. Anh vẫn ôm đàn hát cùng bè bạn nhưng không rõ từ bao giờ Quỳnh Như đã lạc mất anh. Rồi những cuộc đàn áp đẫm máu, rồi nhà tù, trại lính, chiến trường... Đôi khi anh nhớ tới nàng, nhớ vầng ngực ấm áp phập phồng, nhớ câu nói tưởng chừng ngẫu nhiên, tưởng là chút lãng mạn trinh bạch của mối tình đầu nàng thốt ra buổi sáng tinh mơ ấy...

Năm năm sau, khi anh là một gã binh nhì nhờ tiếng đàn giọng hát được rút về bổ sung cho đội văn nghệ tâm lý chiến của sư đoàn Ó Đen, anh gặp lại Quỳnh Như bất ngờ trong đêm “liên hoan mừng chiến thắng” tổ chức trong chi khu P. Rạng sáng một ngày đầu mùa mưa, chi khu P. chịu một trận pháo binh dữ dội kéo dài gần một tiếng đồng hồ rồi ngay sau đó một trận tấn công chớp nhoáng đánh bật toàn bộ đám quan binh đồn trú trong chi khu ra khỏi giao thông hào, tháo chạy tán loạn vào những cánh rừng thưa thớt dọc quốc lộ 14. Trận đánh ấy mở màn cho một chiến dịch kéo dài hơn một tháng trong một vùng cao nguyên rộng lớn, thu hút một lực lượng tác chiến phải rút từ vùng duyên hải và một lữ đoàn quân dự bị cơ động từ Sài Gòn lên tăng cường. Kết thúc chiến dịch, khi đã tái chiếm lại được chi khu P., viên tướng tư lệnh mặt trận muốn chứng tỏ tầm vóc của “chiến thắng” bằng một buổi lễ mừng công tổ chức ngoài trời để gắn huy chương và thăng cấp đặc cách cho thuộc hạ và một cuộc liên hoan rôm rả cho quan binh vui chơi trước khi lao vào một trận đánh khác. Một đoàn quân xe có lính hộ tống đến chi khu P. vừa làm nhiệm vụ tiếp tế, vừa đem theo đội văn nghệ tâm lý chiến, phu nhân các sĩ quan và một số gái nhảy vét từ các phòng trà trong thị xã. Phu nhân các quan chức cấp cao thì đến bằng trực thăng. Trong khi các anh hùng trận mạc hú hí với quý phu nhân, những sĩ quan độc thân chia vui tập thể cùng gái nhảy, đội văn nghệ phục vụ đám lính khốn khổ một chương trình ca nhạc dã chiến ngay trên bãi đất rộng nơi vừa kết thúc “lễ mừng chiến thắng”. Rồi đám binh lính vùi đầu vào bữa liên hoan, khóc cười cuồng say với men rượu, đội văn nghệ phục vụ một chương trình đặc biệt cho các quan chức và phu nhân trong phòng họp của chi khu. Một số bài hát tình yêu lính chiến mùi mẫn rẻ tiền, rồi khi màn đêm buông xuống, ban nhạc chuyển sang chơi nhạc nhảy. Anh làm xong nhiệm vụ quen thuộc của mình trong những trường hợp ấy là hát hai bài ca thời thượng, rồi lui vào một góc thu mình chờ tàn cuộc. Mùi rượu thịt, mùi chiến tranh, mùi phấn son và mùi máu – cái không khí nhố nhăng cố tình để lấp đầy sự trống rỗng hoang mang của đám sĩ quan trước mắt các bà vợ của họ làm anh nhờm lợm.

Anh chỉ nhận ra Quỳnh Như khi nàng đã ngồi bên anh trên chiếc băng ghế cuối phòng. “Sao anh ngồi một mình buồn vậy?”. Anh giật mình sửng sốt, đau xót nhận ra nàng giữa khung cảnh bát nháo ấy – “Sao em lại có mặt ở đây?”. “Em mới đến trưa nay cùng đoàn xe, chồng em là người có bộ ria con kiến đang ôm cô ả mặc áo hồng xõa tóc đấy”. “Sao em không nhảy với chồng em?”. “Em không thích. Anh ấy thực ra có biết nhảy đâu, em sợ bị dẫm dưới bốt-đờ-sô. Chúng ta ra ngoài một lúc cho dễ chịu”. “Liệu khẩu súng chồng em đang mang kè kè bên hông có rời khỏi bao?”. “Anh sợ ư? Quả là anh ấy rất ghen”. “Anh không muốn bị bắn mà không được quyền tự vệ”. Anh bước theo nàng ra ngoài, hai người ngồi bên một căn hầm trú ẩn chìm trong khoảng tối. Nàng vuốt ve khuôn mặt gầy gò của anh: “Em sẽ là vũ khí tự vệ của anh, được không?”. “Không, lẽ ra em phải là vũ khí chiến đấu của anh trước anh ta”.

Nàng hôn lên môi anh: “Nói thế chứ, anh ta mết cái cô gái nhảy đó rồi”. Anh hỏi cay độc “Vậy thì đêm nay ai ngủ lại với anh ta, cô ấy hay là em?”. “Có thể là cô ta, nếu như em muốn thế. Nhưng nói chuyện đó làm gì! Anh hát đi, Tiếng hát về khuya. Sao em yêu anh với ca khúc này đến vậy!”.

Từ lâu quên hát... anh cất giọng thiết tha, khẽ hát vừa đủ cho nàng nghe. Có lúc Quỳnh Như phụ họa theo, giọng ngập ngừng, run rẩy, xúc động. Trời đêm se lạnh y như đêm nào đã xa xôi trong sân trường đại học, vẫn những bài tình ca ấy nhưng anh vừa hát vừa ý thức rõ ràng giây phút này đây không thật sự hiện hữu, nó chỉ là âm bản của một quá khứ, một niềm hạnh ngộ mong manh. Những giây phút hư ảo ấy không biết kéo dài bao lâu trong đêm tối, rồi mọi sự đột ngột đứt quãng. Bất ngờ một quả đạn pháo đâu từ rừng xa nã về, tiếng rú rít rợn người, ầm nổ ngoài hàng rào phòng thủ của chi khu. Mọi người nháo nhào bò trườn đi tìm chỗ nấp, máy điện phụt tắt, những phút giây căng thẳng giữa những lần đạn réo trên đầu và nổ bùng đây đó. Trước sau chỉ có sáu quả đạn nổ thưa thớt, kéo dài, nặng nề căng thẳng, như thể phía đối phương gửi lại một lời cảnh cáo, cũng như thể một lời hẹn ngày tái ngộ... Vậy là cuộc vui dã chiến tàn đi không kết thúc... Đêm ấy anh không sao ngủ được. Anh mắc một chiếc võng ở đầu phòng họp, gần một đoạn giao thông hào, cứ thao thức ngỡ Quỳnh Như sẽ lại đến với anh, sẽ hát với anh suốt đêm ấy, đồng thời bị ám ảnh bởi ý nghĩ nàng đang nằm dưới một căn hầm trú ẩn nào đó trong vòng tay chồng, gã sĩ quan có bộ ria con kiến, lủng lẳng khẩu súng bên hông...

Nhiều năm sau, qua biết bao biến động đổi thay, anh lại bất ngờ gặp Quỳnh Như trong một chuyến đi lưu diễn qua thị xã cao nguyên ấy của đoàn ca nhạc Bông Hồng. Đêm biểu diễn suất cuối cùng trước khi rời thị xã, đang khi chuẩn bị ra sân khấu anh nhận được một mảnh giấy nhỏ gấp làm tư, trong đó ghi: “Anh còn nhớ nghĩ tới người xưa? Hãy đến quán Như Mây để cùng nghe lại bài hát cũ. Quỳnh Như”. Tim anh rộn lên. Biết bao năm anh không có dịp nào hát lại bài hát ấy nữa. Anh quyết định thay đổi tiết mục khi bước ra sân khấu, mang theo cây đàn ghi ta gỗ và ra dấu cho ban nhạc biết. Anh dạo đàn so dây rồi cất giọng: Từ lâu quên hát... Anh nghĩ tới nàng, nhớ tới những đêm khuya xa xưa tưởng như cổ tích, nôn nao dự tưởng cuộc gặp gỡ chốc nữa đây... Những tiếng hát bay qua, một mai rồi tắt thở. Thôi chỉ còn câu hát với hư không... Tiếng vỗ tay rạt rào không dứt. Anh dạo đàn hát tiếp một bài khác: Tiếng hát nào về khuya trên đỉnh trời, lúc em về lạnh từng con phố dài... Rồi anh vội vã rời khỏi rạp hát, thuê một chiếc xe ôm tìm tới quán Như Mây.

Đêm đã về khuya, quán còn lại dăm người ngồi. Quỳnh Như ngồi sau quầy dưới ánh đèn vàng có chụp. Anh đứng đối diện với nàng một khoảnh khắc nhưng dường như nàng không nhận ra anh. Đấy là một phụ nữ đẹp đang độ suy tàn, một khuôn mặt thẫn thờ thất vọng tuy nhan sắc ấy dưới ánh sáng ấy trong một quán khuya vẫn đủ sức quyến rũ mê hồn – Tiếng hát về khuya, anh nói nhỏ. Nàng giật mình sực tỉnh, như bất ngờ bị bứt ra khỏi giấc mơ. “Ôi anh...” nàng thốt lên rất khẽ, liếc vội về phía một người đàn ông ngồi nơi chiếc bàn kê bên trái. Anh nhìn theo. Gã ngồi khuất trong bóng tối, mắt chằm chằm nhìn nàng, nhìn anh. Anh biết ngay đó là ai, và anh tìm một chỗ ngồi xa khuất, lặng lẽ hút thuốc, lặng lẽ chịu đựng nỗi bứt rứt xót xa không nói nên lời. Quỳnh Như thay băng nhạc, bài hát quen thuộc của họ vang lên bởi một giọng nữ cao, nức nở đau đớn. Một cô gái đem cà phê tới cho anh, chặp lâu sau lại mang tới cho anh một mẩu giấy nhỏ. Anh căng mắt đọc trong ánh sáng mờ ảo: “Em không thể ngồi cùng anh được. Hãy hiểu em đau khổ gấp ngàn lần hơn anh. Hắn là một gã cai ngục mẫn cảm và nghiệt ngã”. Anh ngồi đến nửa đêm, đến lúc quán không còn một người khác nào. Bấy giờ gã mới đứng dậy thu dọn bàn ghế, thỉnh thoảng ném về phía anh một ánh nhìn dò xét. Buồn bã, anh vào quầy tính tiền, gã lẽo đẽo bước theo, anh chỉ kịp nói địa chỉ của anh cho nàng nguệch ngoạc ghi vội vào đâu đó. Anh thả bộ trên những con phố vắng tanh, hân hoan và đau khổ, hy vọng và tiếc nuối, tách cà phê khiến anh tỉnh táo một cách ngây ngất, bềnh bồng trôi trong lãng đãng mù sương và lớp lớp hoài niệm.

Bắt đầu thời kỳ những lá thư dài nàng viết cho anh, như thể đó là niềm hy vọng cuối cùng, là niềm vui duy nhất của đời nàng. Từ một mối tình không trọn vẹn của tuổi thanh xuân, nàng đang cố tạo thành niềm hạnh phúc muộn màng khi biết anh vẫn sống cô độc, vẫn cất giữ những kỷ niệm mong manh đầy bất trắc của một thời trai trẻ. Nàng nói về chồng với tất cả sự chán chường, như thể một món nợ oan nghiệt; rồi ít lâu sau nàng báo cho anh biết chồng nàng đang làm thủ tục để được xuất cảnh ra nước ngoài, nàng sẽ tự do, sẽ trở về với anh, sẽ lấp đầy nỗi cô đơn trống vắng đời anh.

***

Có một điều nàng không biết: sau suất diễn cuối cùng ở thị xã cao nguyên đêm ấy, anh không còn bước ra sân khấu nữa, một kỷ luật về sự tùy tiện thay đổi tiết mục của anh. Ít lâu sau, anh trải qua một thời kỳ sa sút về tinh thần và sức khỏe buộc phải trở về thành phố sống những ngày âm thầm nghèo khó.

Và nàng đã tới như anh hoài mong. Chồng nàng cuối cùng đã ra đi một mình, gã sĩ quan có bộ ria con kiến lủng lẳng đeo khẩu súng bên hông cả khi ôm trong tay cô gái nhảy, gã đàn ông đêm đêm ngồi trong bóng tối ở một góc quán cà phê canh giữ Quỳnh Như cứ như một cai ngục mẫn cảm và nghiệt ngã ấy. Được tự do, Quỳnh Như đẹp hẳn lên, rực rỡ và lộng lẫy như một bà hoàng xuất hiện trong căn nhà tồi tàn của anh trên dòng kênh đen ngập ngụa mùi sình thối lưu cữu. Hạnh phúc bất chợt sà vào vòng tay già nua mệt mỏi của anh, nhưng anh đã vội linh cảm đấy là một hạnh phúc đầy bất trắc. Mãi về sau, khi nàng đã vội sớm rời bỏ anh không một lời giải thích, một sự ra đi êm đềm lặng lẽ đến đỗi anh không ngờ, anh mới chiêm nghiệm ra rằng vào cái buổi xế chiều của họ, tình yêu không tồn tại trên sự đắm say một bản tình ca như thuở người ta còn trẻ. Tiếng hát bay đi, chỉ còn anh và nàng mỗi người ở lại với một cõi hư không riêng lẻ.

T.V

Mùa mưa 1992

--> Read more..

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2007

Mùa hè, thành phố

Mùa hè trong những thành phố, những thị trấn không phải chỉ nhọc nhằn dưới cơn nắng lửa và mệt mỏi bởi động cơ và khói xe. Mùa hè bây giờ còn được đốt cháy bằng những cơn sốt lạ lẫm, ồn ào, những cơn sốt nhức nhối con người và có tác dụng đánh gục lương tri, nói tóm lại những ngày mùa hè trong thành phố là những ngày bạo động. Ví dụ như chúng ta vừa bước vào thành phố, ví dụ như chúng ta vừa trở về, đêm đêm không phải chỉ nghe có tiếng còi thảm thiết rít lên ngoài đường phố, không phải chỉ nghe có tiếng súng nổ bừa bãi và vội vàng, không phải chỉ nghe có tiếng động của những con chuột khổng lồ làm rung rinh căn gác tối – những con chuột trong các thành phố bây giờ to béo một cách đáng sợ. Hình như mùa hè của tôi trong các thành phố là một sự bất an vô cùng, bên những xâu xé tranh chấp, bên những vụ khủng bố và truy lùng, bên những ngôn ngữ ồn ào của mùa tranh đấu, bạo động. Trò chơi của những tên hoạt đầu, những tên tài phiệt đã mở ra, sân khấu đông đúc nghẹt cứng những tay diễn trò và khán giả có người vẫn ngủ quên, có người đã tỉnh dậy vội vã lau nước mắt. Cái đáng buồn hơn nữa là cửa rạp đã được khóa kỹ bằng xích sắt viện trợ.

Mùa hè, tháng sáu trong một thị trấn lớn miền Trung, tôi buồn bã đi bộ dưới những tòa nhà cao lớn quá sức để tìm kiếm lại bằng hữu mình. Một điều mà tôi mới nghĩ đến là có phải với một tình thế nào đó, khi những đàn chuột khổng lồ rời khỏi chỗ ẩn nấp của chúng, ngang nhiên di động một cách rất tự do thì con người bắt buộc phải lẩn trốn, lén lút và luôn luôn đặt mình trong một tư thế cần thiết, không phải là để đối phó mà là tiếp tục lẩn tránh để sống sót. Lẩn tránh, thật phiền nhiễu, nhưng làm sao được khi anh đang bị săn đuổi, lúc đó đời sống không phải là sự tìm tới hạnh phúc nữa mà trái ngược lại, hạnh phúc là sự duy trì đời sống. Trong một thị trấn lớn, tôi đã tìm kiếm những bằng hữu của mình trong hoàn cảnh như vậy. Có thể những người này lẩn trốn trong một nhà giảng đạo, có thể trên gác chuông thánh đường, có thể trong một tu viện, dưới gốc những cây sứ trắng ngát hương sau ngôi chùa cổ, trong một căn nhà âm u ở ngoại ô, trong vườn dừa bên kia con sông xanh, có thể trong một quận lỵ buồn thiu ở đâu đó. Cuối cùng tôi nghĩ họ có thể đang nằm trong nhà giam, trong một cơ quan điều tra an ninh hay một chỗ nào đó tương tự như vậy – ở đây bây giờ những nhà tù được mở ra khắp nơi dưới nhiều danh xưng làm tôi hết biết gọi tên. Sự thật bây giờ đã trở thành một điều cấm kỵ, nói lên sự thật đã trở thành tội trạng, tiếng nói của chúng ta bây giờ không thể còn màu xanh, màu hồng như mong ước, tiếng nói của chúng ta đã trở thành màu đen, sự sống như thế đã trở thành một sự sống bị tước đoạt, và giá trị của con người – nếu có thể nói như vậy – chỉ có khi chúng ta dám lẩn tránh sự săn đuổi của bạo lực, nói cách khác, chúng ta có đủ kiên nhẫn tiếp tục sử dụng tiếng nói màu đen và đủ can đảm làm cho thứ ngôn ngữ bị cấm đó thành ngôn ngữ phổ quát cho thời đại.

Mùa hè, trước hôm tôi về tới thành phố, buổi sáng khi sửa soạn rời đồn quân, một anh lính khoảng ba mươi tuổi treo cổ chết trong cầu tiêu phòng an ninh đơn vị. Trong thành phố, tôi hay tin hai người bạn cũ được mời tới Ty An ninh vì một lý do sẽ cho biết sau. Những bài thơ của họ mà tôi đã được đọc quả thực là một vết ô nhục dành cho một chế độ, chế độ lớn mạnh lên được nhờ vào con số lớn lao những lao công chiến trường, tù nhân và những người lẩn trốn.

Những ngày cuối mùa hè, vô tình tôi phải ở nán lại trong thành phố trước khi trở về mặt trận Tây Nguyên. Trở về mặt trận, tôi cố ý nhấn mạnh những chữ buồn thảm đó bởi vì tôi có thể hiểu được một cách dễ dàng rằng, cho đến giờ này thành phố vẫn chưa phải là chỗ dung thân của tôi được, nói khác đi một cái gì như định mệnh, tôi còn nhiều liên hệ bó buộc tới các mặt trận xa xôi. Chỗ đứng của những người như tôi trong thành phố, nếu cần phải nhắc lại thêm một lần nữa, là những vỉa hè, những bến xe, những con đường nhộn nhịp nhưng quạnh hiu, những bữa cơm nhờ vả vào anh em bằng hữu xa gần; thành thực mà nói dù có bi thảm đến đâu, chúng tôi đã sống những ngày đó như một gã ăn mày chưa đủ can đảm quỳ lạy ngoài xó chợ. Quả thật tôi đã không dám đi mạnh chân qua những vỉa hè lộng lẫy và đắt tiền, không dám bước vào căn nhà bốn tầng của một anh bạn, luôn luôn tôi tưởng như mình bị nhìn ngắm bởi những cặp mắt xua đuổi; thật sự tôi đã hiểu tại sao nghèo đói là một tội lỗi. Một người bạn cũ đã tỏ ra hằn học khi tôi không chịu nghe theo lời khuyên của anh, là hãy rời chiến trường mà trở về thành phố; nhưng làm sao tôi có thể sống trong một khung cảnh không chút liên hệ nào với mình, làm sao tôi có thể chịu đựng được những ngày tháng xa lạ của mình trong một thành phố náo động và bạo động. Tôi còn quá trẻ để đi ăn mày và tôi cũng đã quá già để vào sống trong viện mồ côi. Nói theo sách vở và chữ nghĩa: hãy nghĩ tới tương lai mà sống. Tôi không được cái sung sướng như những người sống thoải mái trên các cao ốc, tôi cũng không có cái hãnh diện của những người đang nằm trong những trại tù nên tương lai của tôi thật khó mà nghĩ tới được, tựu trung tương lai của những người như tôi đang nằm trong tay phường lái buôn. Trò chơi qua ngày lý thú nhất của tôi là sắp những con cờ vào vị trí đã được vẽ sẵn của nó, rồi đẩy một con chốt đầu tiên tiến tới trước một bước. Chỉ duy nhất một bước mà thôi, ngay sau đó tôi rời bỏ bàn cờ, bởi vì tôi biết còn khó khăn lắm mình mới bước được sang phía bên kia sông.

Mùa hè của tôi trong thành phố có lẽ sẽ kết thúc bằng một trận mưa. Một trận mưa tàn bạo.

THẾ VŨ

Sài Gòn tháng 6/1971

(Tạp chí Trình Bầy, số 23 ngày 3.7.1971)

--> Read more..

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2007

Nhìn những mùa thu đi

Sáng tác: Trịnh Công Sơn
Trình bày: Khánh Ly

Nhìn những mùa thu đi
em nghe sầu lên trong nắng
và lá rụng ngoài song
nghe tên mình vào quên lãng
nghe tháng ngày chết trong thu vàng

Nhìn những lần thu đi
tay trơn buồn ôm nuối tiếc
nghe gió lạnh về đêm
hai mươi sầu dâng mắt biếc
thương cho người rồi lạnh lùng riêng

Gió heo may đã về
chiều tím loang vỉa hè
và gió hôn tóc thề
rồi mùa thu bay đi
trong nắng vàng chiều nay
anh nghe buồn mình trên ấy
chiều cuối trời nhiều mây
đơn côi bàn tay quên lối
đưa em về nắng vương nhè nhẹ

Đã mấy lần thu sang
công viên chiều qua rất ngắn
chuyện chúng mình ngày xưa
anh ghi bằng nhiều thu vắng
đến thu này thì mộng nhạt phai.

--> Read more..

THẾ VŨ, trong tình thân bằng hữu

TRN HUIN ÂN

Vậy mà tôi không nhớ rõ đã quen Thế Vũ năm nào trong khoảng 1967-1970 (hay sớm hơn?), gặp một lượt với ai. Hồi ấy so với Tuy Hòa, Nha Trang gần hơn Qui Nhơn mặc dù xa hơn Qui Nhơn 10km. Sinh hoạt văn nghệ ở Nha Trang cũng đông đảo hơn Qui Nhơn, già trẻ nam nữ đủ lứa tuổi, từng nhóm (tạm gọi như thế) riêng nhau. Tôi quen nhiều nhóm. Có thể coi Thế Vũ cùng nhóm với Nguyễn Sa Mạc (sau là Nguyễn Hoàng Thu), Nguyễn Âu Hồng, Trần Vạn Giã, và một người lớn tuổi hơn: Nguyễn Huy Hoàng. Lê Ký Thương đang ở Phan Rang. Lê Văn Thiện lặn lội khắp nơi. Về sau, có lúc Thế Vũ ở cầu Bà Di (Bình Định) cùng Doãn Dân, Lữ Quỳnh, Nguyễn Kim Phượng, Trần Hoài Thư, hình như Thế Vũ gần với Lữ Quỳnh hơn. Tôi và gia đình thì thương mến tất cả, nhất là Doãn Dân và Thế Vũ, biết rằng mỗi người có hoàn cảnh khác nhau.

Những ngày thuyên chuyển lên Pleiku, Thế Vũ hay về Tuy Hòa, ở lại chỗ tôi. Chiếc xe kawasaki của tôi lúc đó vào loại trành nhất, tuy vậy cũng tạm có cho hai anh em dùng hàng ngày. Theo luật thời ấy, quân nhân vắng mặt tại đơn vị 14 ngày là “vắng mặt bất hợp pháp”, chỉ bị phạt (trọng cấm hay tù quân), sang ngày thứ 15 sẽ bị “báo thị tầm nã đào ngũ”. Cho nên tôi thường tính thời gian cho Thế Vũ trở về đơn vị kịp trong “ân hạn”, có khi phải lên trạm quân vận xin phương tiện và đến đồn quân cảnh xin xác nhận. Tại Tuy Hòa, Thế Vũ gặp thêm nhiều bạn văn nghệ trong giáo chức, đôi lần cùng chúng tôi và học sinh đi chơi chỗ này chỗ nọ, cũng có khi anh em muốn kiếm cho Thế Vũ một người bạn gái để đỡ “sầu đời” (chữ của Phạm Ngọc Lư) nhưng ở đâu Thế Vũ cũng ngồi im lặng nhiều hơn, khi tranh luận về văn nghệ và chính trị thì lại hăng hái đến độ quá khích, thành ra Thế Vũ tiếp tục cô đơn và sầu đời. Thời gian này tôi mới đọc thấy ở Thế Vũ những truyện ngắn viết về chiến tranh khá hay, tuy vẫn rất quá khích và đẫy dẫy sự hằn học, bởi vì Thế Vũ đã sống trải qua như thế, tất nhiên từ chủ quan suy nghĩ như thế. Rồi Thế Vũ quyết định đào ngũ. Tôi bàn với Đỗ Chu Thăng xin các vị Đại đức Hiệu trưởng Bồ Đề cho Thế Vũ ít giờ dạy để tạm sống và nương náu trong chùa. Nhưng Thế Vũ đi Sài Gòn, dù sao đất rộng dễ hơn, và làm ở tòa soạn Trình Bầy. Bẵng một thời gian không có tin gì của Thế Vũ rồi tờ Trình Bầy tự đóng cửa, bỗng một hôm tôi nhận được thư Thế Vũ ghi địa chỉ “lao công đào binh”.

Cuối năm 1975, chúng tôi gặp lại ở Nha Trang. Cái số của Thế Vũ vẫn luôn luôn lận đận. Có khi phải chuyển ra Ninh Hòa, rồi lên Sơn Hòa thật xa xôi (cách Nha Trang 170 km), ổn định được một thời gian ở tạp chí Văn nghệ Nha Trang đường Lý Tự Trọng chẳng bao lâu lại một lần nữa phải bỏ Nha Trang vào Sài Gòn. Lúc này mỗi lần vào Nha Trang, tôi ghé lại Lý Tự Trọng, buổi tối chuyện trò. Một lần Thế Vũ rủ tôi giữa khuya cùng ngồi nơi ban-công tòa soạn Văn nghệ Nha Trang uống trà xem hoa quỳnh nở. Thật tình là tôi không ham lắm cái chuyện xem hoa nở chờ trăng lên. Bữa ấy buồn ngủ muốn chết, mặc dù uống trà đậm, nhưng vẫn ráng ngồi vì nể bạn, cũng sợ bạn chê là người làm thơ mà không biết thưởng thức hoa quỳnh.

Ở Sài Gòn Thế Vũ dù làm việc tất bật cũng để thì giờ cùng tôi đi tìm nhà Phan Bá Chức mất một buổi chiều, hoặc đến Bảo Cự, Lữ Quỳnh… Hồi ấy cô Hà còn ở Nha Trang, Thế Vũ thuê một căn gác nhỏ trong hẻm đường Lê Văn Sỹ. Cũng bia bọt vui vẻ. Năm 1997, nhờ sự giúp đỡ của Thế Vũ, Lữ Quỳnh, Lê Ký Thương, tập truyện ngắn Tiếng hát nhân ngư của tôi được ra đời. Cho đến khi Thế Vũ phải vào bệnh viện Phạm Ngọc Thạch thì vì lý do sức khỏe, việc giao tiếp phải hạn chế. Cái tội của Thế Vũ là hút nhiều thuốc lá nặng. Hồi trước, chúng tôi hút ruby, cotab hoặc chỉ phì phà salem…, còn Thế Vũ “chơi” toàn bastos xanh! Đầu năm 2004, Thế Vũ giúp tôi tìm lại được một bạn cũ từ hồi cùng viết tuần báo Tuổi Xanh, sau 30 năm xa cách. Việc ấy đáng nhớ lắm. Một số bạn bè cho rằng Thế Vũ khó tính, nét mặt lúc nào cũng đăm đăm. Đối với tôi, Thế Vũ không khó tính, luôn luôn sẵn sàng vì bạn, đồng thời đòi hỏi bạn phải thật lòng. Còn nét mặt thì mỗi người mỗi vẻ, có người lúc vui cười ha hả, ngả nghiêng, có người lúc vui chỉ nhếch mép. Ta chơi với bạn là chơi với cả ưu điểm và nhược điểm của bạn, vì ta cũng có ưu điểm nhược điểm của ta mà bạn phải chấp nhận.

Lần gặp gỡ cuối cùng tại chung cư Bàu Cát, có Lê Ký Thương. Buổi chiều hôm ấy, Thế Vũ nói có chai rượu tây ngon, nhưng Lê Ký Thương 6 giờ phải đi đám cưới, tôi bị bệnh “gút”, nên mỗi người chỉ uống một ly con và để dành, hẹn gặp. Thật sự thì dù bị bệnh gút hành hạ một vài hôm, tôi vẫn có thể ngồi uống với Thế Vũ, Lê Ký Thương, nhưng tôi sợ, Thế Vũ yếu nhiều, uống xong lỡ ra có điều gì thì cái trách nhiệm tinh thần tôi phải chịu rất lớn… nên tìm cách từ chối.

Điểm lại bạn bè văn nghệ Miền Trung từ một thời rong ruổi… qua bao nỗi truân chuyên… bây giờ tuy tứ tản nhưng số đông vẫn tại thế. Phạm Ngọc Lư ở Đà Nẵng, lão tướng Xuân Tùng ở Thăng Bình, Mang Viên Long ở Bình Định, Lê Văn Thiện ở Vạn Ninh, Trần Vạn Giã ở Nha Trang, Võ Tấn Khanh ở Phan Rang, Tô Duy Thạch, Huỳnh Hữu Võ ở Phan Rí, Từ Thế Mộng ở Phan Thiết, Nguyễn Dương Quang ở Đà Lạt, Lê Ký Thương, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Kim Phượng ở Sài Gòn, Lữ Quỳnh, Phan Việt Thủy, Quán Như, Trần Hoài Thư, Hồ Dạ Thoại, Phạm Cao Hoàng… và hình như Nguyễn Âu Hồng ở nước ngoài… Khánh Linh và một số Tuy Hòa vẫn ở Tuy Hòa… Có sót ai chăng? Những người vắng mặt: Trần Doãn Dân, Đỗ Chu Thăng, Vũ Ngọc Châu (Chu Ngym Vũ), Nguyễn Lệ Tuân và Thế Vũ. Cả Y Uyên nữa, cũng như Doãn Dân, Y Uyến sống-viết-chết ở Miền Trung. Hiện đang ở dưới ấy, Đỗ Chu Thăng là người hiền nhất của Tuy Hòa, Nguyễn Lệ Tuân chắc là người hiền nhất Bình Thuận, Y Uyên, Vũ Ngọc Châu… cũng rất hiền, anh em ta đều là người hiền cả. Doãn Dân xấu số hơn hết, đáng thương mến hơn hết. Tôi biết Doãn Dân và Thế Vũ có chính kiến khác biệt rõ ràng song mến nhau nên không nói ra, thì nay sự bất đồng ấy cũng xin hai bạn bỏ qua một bên, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, hai bạn hòa đồng vui vẻ cho anh em trên này cùng vui vẻ…

T.H.A

(11. 11. 2005)

--> Read more..

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2007

Một số hình ảnh Thế Vũ lúc sinh thời

Thế Vũ thời trai trẻ
Thế Vũ trong ngày cưới - 1981


Thế Vũ và con gái

Thế Vũ năm 2003
Thế Vũ tại chái nhà sau XN May Nha Trang
Thế Vũ và con trai

Gia đình Thế Vũ tại chái nhà sau Xí nghiệp May Nha Trang


Thế Vũ và con gái tại nhà em út

Tại đám cưới em út

Thế Vũ với sinh nhật con gái (P.An-cài tóc xanh) năm 5 tuổi

Thế Vũ - Những ngày đầu ở Báo Thanh Niên

Thế Vũ - Những ngày đầu ở nhà trọ Lê Văn Sỹ (1992)

Thế Vũ (thứ hai, bên trái) với Xuân Hòa (bìa trái) và Nhựt Quang (bìa phải) tại Nha Trang

Thế Vũ (thứ hai từ bên phải) với các đồng nghiệp tại Hội VHNT năm 1989

Với bạn bè tại SN Phương An (5 tuổi)

Tại Nhà thiếu nhi tỉnh Khánh Hòa
Bim làm nũng với ba

Thế Vũ tại Thái Lan

Thế Vũ với Ngọc Hải (Báo Thanh Niên) tại Thái Lan

Thế Vũ - thứ hai bên phải với đồng nghiệp Báo Thanh Niên

Thế Vũ với Đoàn Mẫn (Báo Thanh Niên)

Tại nhà Tôn Nữ Thu Thủy

Với bạn tại nhà 112 Chung cư Thanh Niên (Q.Tân Bình, TP.HCM)
--> Read more..

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2007

NGÀY MỚI ĐẾN PLEIKU

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Chiếc GMC đỗ lại trên khoảng sân rộng lót vỉ sắt, chung quanh đó là những căn nhà tiền chế, hầu hết đều đã được phủ một lớp bụi đỏ khá dày. Những cột trụ điện bằng gỗ đen, nhô lên cao hơn những cụm lá xanh còn rải rác trong khu trại. Gã tài xế nhảy xuống xe, bộ đồ trận từ màu cứt ngựa biến sang màu đỏ ngoét bụi đường, bùn ngập cổ giày. Gã đứng riêng ra một nơi, rút thuốc lá châm lửa đốt, phì phà, nhe răng cười cười với đôi ba người lính khác từ trong phòng việc bước ra. Những người khác hì hục chuyển những túi quân trang từ trên xe xuống sân. Nắng le lói những tia sau cùng của ngày; có phải mỗi ngày của một người lính là một cực hình; còn với tôi, nó còn tệ hơn thế nữa ít ra là lúc này. Con đường bên kia sân cũng được rải nhựa, bóng loáng dưới ánh mặt trời. Núi đang ở hướng Đông chứ không phải là hướng Tây như buổi sáng nữa. Về phía mặt trời sắp lặn, tôi chỉ thấy một vùng xanh rợp, không núi đồi, chỉ có những triền thấp bắc qua những lũng sâu và xa hơn nữa là một buôn Thượng. Lúc tất cả đồ đạc trên xe đã được chuyển xuống sân, tôi mang túi quân trang – như đã từng mang nó đi từ thành phố này đến thành phố khác, từ căn cứ này đến căn cứ khác, từ chiến trường này đến chiến trường kia suốt ba năm qua – đi theo một anh hạ sĩ quan vòng dưới những hiên nhà sát nhau, cuối cùng vào đến phòng quản trị nhân viên, tìm một góc nhà vất túi quân trang xuống và bắt đầu, một cách thật ê chề, thủ tục trình diện.

Sáng nay, lúc còn ngồi trong quán cà phê với một người bạn trong thành phố ở dưới kia, tôi đã nói nửa đùa nửa thật với anh ta rằng có thể tôi sẽ đào ngũ. Người bạn trố mắt nhìn không trả lời. Lúc đó quán còn vắng người, thị trấn vùng duyên hải kia dù sao cũng còn có bằng hữu, có người mình yêu, có những con đường mình quen mặt. Thế nhưng không phải vì xa những điều đó nên tôi có ý nghĩ kỳ cục kia. Phải là một lý do nào khác. Nhưng đồng thời ngay lúc đó tôi cũng nhận ngay rằng nếu phải tìm cho mình những lý do xa gần, là mình đã bắt đầu sợ hãi, trốn chạy và ngụy biện. Kể từ chiều nay, khi đặt chân xuống phi trường lạ của thành phố cao nguyên này, sẽ không còn có lúc nào nữa tôi trở về để ăn một bữa cơm khốn khó với gia đình người bạn, sẽ không bao giờ nữa tôi còn gặp lại những người mới quen biết, người tình, những con đường còn bóng cây cho những buổi trưa hè nồng nàn, những đêm khuya đạp xe về với người bạn đến độ quen mặt từng anh bán bánh mì ngoài ngã năm thị xã, những ngọn gió đêm mát rượi phiêu bồng thổi qua một đời sống truân chuyên. Sau khi rời khỏi quán, anh bạn còn đưa tôi đi loanh quanh một vòng phố xá, trên vai tôi lúc đó đã có sẵn túi quân trang, càng lúc như càng đè nặng hơn thêm. Đó là những giờ phút yên ổn cuối cùng của tôi. Lúc vào đến căn cứ, ngồi trên vùng cát bỏng chờ đến giờ theo xe vào quân vận thị trấn để đáp chuyến bay chiều, tôi đã thiết tha nghĩ đến một ngày bình yên. Một ngày bình yên còn xa lắc trong mong ước mỗi người, một ngày bình yên sau cái hiện tại bi thảm này liệu trong đám bằng hữu của ta, ai còn ai mất; những người tình của ta, ai còn ai mất, những người thân của ta, ai còn ai mất? Từ ý nghĩ đó, tôi chợt nhìn lại hiện tại mà ngao ngán. Ở cái hiện tại này, trong bộ đồ trận tả tơi sau hơn ba năm bò lê từ mặt trận này đến mặt trận khác, không có chút cấp bậc nào trên vai, tôi thật tình không biết còn có thể làm gì khác hơn để có một ngày bình yên trở về gặp mặt lại anh em, bằng hữu, người tình mà không phải đui mù què cụt, một ngày còn hy vọng có thể có được trong đời mình một mái nhà, một gia đình... Liệu tôi sẽ còn làm được gì hơn là cứ tiếp tục bò lê trên những mặt trận mới mẻ và xa lạ hơn?

Trong khi chờ đợi người hạ sĩ quan lo về phần hành bổ nhiệm quân nhân mới thuyên chuyển đến lục lại giấy tờ, tôi rút thuốc châm lửa hút. Những điếu thuốc lá càng ngày càng được tôi nuông chiều kỹ hơn. Ngày mới vào lính, mỗi ngày tôi có thể hút gần hai bao thuốc thơm nhưng bây giờ chỉ còn có thể hút một bao thuốc đen là tối đa. Trong những ngày sắp tới, rất có thể tôi còn phải bỏ thuốc, uống nước lã qua ngày. Đó là kết quả của gần một tháng trời vác quân trang đi hết nơi này đến nơi khác để tìm đơn vị. Trong một thoáng, tôi chợt nhìn thấy trên quần áo của mình có bám những vết bụi đỏ đầu tiên. Bụi đỏ của cao nguyên rồi đây sẽ tha hồ bám dày lên mặt lên mũi này, đầu óc này, trí nhớ này, ước mơ này, như vết cường toan gặm nhấm lần da thịt rã rời.

Người hạ sĩ quan phụ trách phần hành liên hệ cho tôi biết đã phân phối quân số tôi xuống một đại đội tác chiến. Điều đó không làm tôi ngạc nhiên bao nhiêu nhưng dù sao tôi vẫn thấy chán nản. Tôi ngỏ ý hỏi anh ta xem còn có thể vui lòng để tôi phụ trách một trong những chỗ trống ở hậu cứ được không, anh ta trả lời bằng một cái nhún vai và lắc đầu. Tôi chợt hiểu về giá trị của cái từ chối đó, xa hơn nữa tôi cũng hiểu rằng với cuộc chiến dai dẳng này, ba năm quân vụ của tôi chưa là một lý do chính đáng để được cho làm một việc ở hậu cứ, một việc làm thích hợp với khả năng mình hơn. Sau cái từ chối của anh ta, tôi tưởng như mình có thể nhìn thấy lại được khuôn mặt tiều tụy của mình, cái thân xác gầy yếu, những ngón tay khẳng khiu thừa thãi của mình có lẽ sẽ rất ư là vô dụng nếu không có trong tay một khẩu súng trường sẵn sàng nhả đạn và những ngày tháng triền miên ngoài rừng, trên ruộng đồng, trong làng mạc hoang tàn như đã trải qua suốt ba năm qua. Vất mẩu thuốc cũ, tôi lại đốt thêm một điếu khác, ngồi trên cái ghế thừa trong phòng làm việc, nhìn ngơ ngẩn lên trần nhà, ngoài cửa, trên một mặt bàn, khuôn mặt của từng người chung quanh. Nắng đã sắp tắt bên ngoài, tôi thật tình thèm một bữa cơm chiều có đủ mặt anh chị, những người thân chỉ còn nhớ đến tôi như một hình bóng xa vời sau gần năm năm phiêu hốt.

Giờ tan việc, tôi theo xe anh hạ sĩ quan lên thành phố. Dù sao đây cũng là những giờ bình yên cuối cùng nơi hậu cứ một đơn vị. Doanh trại rộng hơn tôi tưởng, đó là một căn cứ được thiết lập bởi một đại đơn vị đồng minh mấy năm trước đây. Chung quanh căn cứ, những vùng rừng hoang rộng bao la kéo dài mãi tới dãy núi xa tít mù hướng Đông, trải dài thoai thoải xuống thấp hơn về tây; có phải nơi nào đó giữa vùng đất màu mỡ này người ta vẫn gọi là biên giới? Những gì xảy ra bây giờ ở bên kia biên giới? Tôi chợt nhớ tới ý định từ lâu với một người bạn thiết, ngày bình yên hai đứa sẽ kéo nhau đi tìm một khu rừng như thế để dung thân, cái quãng cuối cùng của một đời người khi mà người ta không còn có thể dùng mình vào việc cầm súng được nữa; hẳn nhiên đây là khu rừng tốt cho một ý định như thế, nhưng tiếc rằng người bạn kia đã chết tức tưởi bằng một viên đạn trong thành phố. Còn một mình tôi, bao giờ? Bao giờ thì tôi mới có thể thực hiện cái điều ước tầm thường nhất của một con người tầm thường nhất? Ngày mai nào đó, có phải là lúc những người như chúng tôi nhìn lại mình như nhìn một thứ quá khứ bỏ không?

Chiếc xe ngược quốc lộ số 14 về thành phố. Trước khi về nhà người quen của anh hạ sĩ quan kia để ngủ qua đêm, tôi được đưa đi vòng quanh phố xá. Buổi tối đã bắt đầu với những cửa hiệu thắp sáng ánh đèn néon, tuy nhiên những cột đèn đường tù mù không đủ soi sáng những khu phố khác tối tăm. Thị dân đã bắt đầu kéo nhau về con phố chính, tụ tập trước những rạp hát hay trong các quán nước, quán cà phê. Khu ngoại ô đường phố lởm chởm những đá cuội và bụi xám. Từ một phía khác của thành phố nhìn xuống một thung lũng chúng tôi có thể thấy rõ mặt hồ lóng lánh nước, những khoảng sáng của vòm đèn từ trên cao chiếu xuống. Đôi khi tôi cũng còn nhìn thấy rõ ánh đèn le lói của một buôn Thượng nào xa trên một triền đồi thấp, lúc đó những căn nhà sàn xám mốc chỉ còn nhìn thấy như những dấu chấm lớn cuối cùng còn ghi nhận được trong một thứ chiều xám, trước khi mặt trời đánh mất hẳn ranh giới và đêm sẽ bắt đầu với nỗi kinh hoàng ngự trị trong đầu óc mỗi người sống bên ngoài thành phố. Gió thổi ray rứt trong trí nhớ tôi về một thị trấn khác, khí lạnh của đêm cao nguyên dần đến làm tôi nhớ đến ngày nóng bức vừa qua chiều nay. Chúng tôi trở về nhà người quen của anh hạ sĩ quan khoảng chín giờ tối.

Đó là một căn nhà kiến trúc khá xinh xắn nằm trong khu cư xá sĩ quan trên triền một ngọn đồi thấp hướng Tây Bắc thành phố. Đứng từ vị trí này, tôi có thể thấy một phần thành phố hướng Tây tiếp giáp với khu tị nạn trước khi đến vùng rừng núi, khu doanh trại của nhiều đơn vị nằm về hướng Bắc, tiếp giáp phi trường hơi chếch về Đông. Những ngọn đèn đêm cao ngất ngư trên bầu trời làm tôi nhớ đến những ngày còn sống trong một thành phố cao nguyên khác, những đêm đưa Sương đổ dốc xuống bờ hồ ngồi nhìn thành phố đủ màu nhấp nháy quanh mình rồi dắt nhau trở về, đó là những ngày tình đầu của hai chúng tôi, một nửa đêm hay một sáng tinh mơ vẫn thức dậy một mình sau khi đã đưa nàng về nhà, bước ra hiên nhìn bao quanh thành phố mà tôi mới đến, đang làm quen, ngọn điện nhấp nháy trên chót đỉnh trụ ăng-ten của đài phát thanh hay ánh đèn của một chiếc xe băng sớm dưới đường, cơn xao động thúc giục tuổi trẻ, tình yêu, sự tê điếng của ân tình lúc đầu, đó là những ngày thành phố còn bình yên, tôi còn thong dong làm một anh chàng phiêu du lãng mạn, những ngày cuối cùng. Những ngày đó không còn nữa đã bao nhiêu năm qua, tôi đã hoàn toàn xa thành phố kia, chưa hề trở lại một lần nào, đã xa rồi những ngày lãng mạn đó; bây giờ tôi đang làm một thứ anh hùng ở khắp nơi như ngôn ngữ phù phiếm của các anh vẫn nghe, còn Sương, có phải Sương đã chết trong một buổi sáng đầu năm nào đó rồi không?

Người đàn ông tiếp chúng tôi mặc áo lót quần trận, đôi giày trận bóng loáng khó tin được ở một nơi như nơi này. Tôi được anh tài xế cho biết ông ta là sĩ quan cấp tá, làm việc ở một đơn vị lớn nhất trong thành phố. Anh ta cũng nói thêm rằng ngày trước ông ở đơn vị mà tôi mới thuyên chuyển đến, ông ta rất tốt khi đối xử với nhân viên trực thuộc. Tuy nhiên chúng tôi đã không được tiếp đãi mấy vồn vã, mỗi đứa một ly đá lạnh và bao thuốc thơm cho cả bọn vất ra giữa bàn. Căn phòng khá rộng rãi, tuy nhiên chúng tôi chỉ ngồi ngoài nhà trống, nền xi măng phủ dày một lớp bụi đỏ, trên những khung cửa kính cũng thế. Gió thổi mạnh từ cửa Tây sang cửa Đông, trong hơi gió đó, tôi đã thấy mình thấm hơi lạnh hơn. Tôi hút thuốc vội vã, ngồi nghe họ nói chuyện, những câu chuyện về đơn vị, về một trận chiến đang diễn ra cách đây hơn trăm cây số nằm sát biên giới, nơi đó ngày mai đây hay một ngày kế tiếp tôi sẽ được gởi tới để thay chỗ những người đã gục ngã hôm qua. Tôi không biết góp chuyện với họ, chỉ ngồi nghe và thỉnh thoảng đưa mắt nhìn hai người lính hầu trong nhà. Cả hai vẫn mặc quân phục tác chiến, đơn vị mà họ mang trên tay áo bên trái là một lực lượng bộ binh đang tham chiến như thành phần chính tại chiến trường kia. Uống một ly đá lạnh trong nhà một vị sĩ quan cao cấp trong lúc này, như một thứ đặc ân hiếm hoi suốt thời gian còn mặc bộ đồ tác chiến trên người, hút một điếu thuốc và thở khói tan theo gió cuốn đang làm tôi run run, tôi nghĩ một cách cay đắng về vai trò của người lính tác chiến trong thành phố qua hình ảnh hai người kia. Họ đảm trách những công việc xét ra không nhọc nhằn cho bằng vác đạn lên núi bắn những người mà từ lâu chúng ta đã quen gọi là kẻ thù, tuy nhiên tôi vẫn thấy rằng nếu phải lựa chọn một trong hai chỗ ngồi đó, tôi vẫn còn đủ sức tiếp tục chiến đấu ngoài mặt trận như một con tốt đen say khói hơn là phải trở về thị trấn, vừa an toàn cho chính bản thân mình vừa mau lên lon.

Thêm hai người khách nữa bước vào. Cả hai đều trong quân phục tác chiến thẳng nếp gấp và không mang rõ cấp bậc. Không khí trong phòng khách thay đổi hẳn, hai người lính hầu bị hối thúc lấy rượu và thức nhắm thết khách. Cái bàn vừa đủ cho sáu người ngồi, sáu chiếc ly thủy tinh, chén đũa, một chai rượu ngoại quốc. Tôi ngồi đực người ra đó, lạc lõng, và như một tên cùng đinh giữa thế giới những người trưởng giả, thèm bỏ ra ngoài. Nhưng bỏ đi thì ngủ qua đêm ở đâu giữa thị trấn lạ này, những đồng bạc lẻ cuối cùng leng keng trong túi quần trận không đủ ăn một bữa cơm trưa mai, bây giờ cũng gần nửa đêm? Cứ như thế, tôi ngồi ở góc bàn, uống những ly rượu người ta pha cho nhưng biết rõ là không phải để mời mình thực tình, uống một cách nhạt thếch, vô vị. Người tài xế, thỉnh thoảng xoay sang phía tôi cho biết thêm một đôi chi tiết về vị sĩ quan và hai người khách lạ, chẳng hạn như họ là những kẻ đấu thầu xe cũ phế thải của quân đội đồng minh, chẳng hạn – ông sĩ quan cấp tá là người sắp sửa ra ứng cử vào Thượng viện trong kỳ bầu cử sắp tới, ông ta có nhiều máy điện, nhiều xe, nhiều xăng mà anh ta vẫn thường đến xin mỗi bận dăm ba chục lít đem bán lấy tiền mua vé số. Đến một lúc tôi nghe ớn trong đầu như chưa hề biết uống rượu. Bao thuốc lá đen đã hết, tôi xé thành từng mảnh nhỏ vất xuống sàn nhà trong lúc ngồi nghe họ bàn tán với nhau về những công chuyện làm ăn: tìm thêm một vài anh tài xế tốt đem ra ngoài chạy xe chở hàng mướn, dùng một ít xe nhà binh cho những dịch vụ riêng tư, tìm một số súng trường Trung cộng mà quân đội đã tịch thu được trong các trận đánh đem bán cho người Mỹ, tìm một khu đất trống vùng có an ninh cho người canh tác thu huê lợi... Họ mặc cả với nhau về từng loại áp phe, năm chục ngàn, bảy chục ngàn, một hai trăm ngàn, một triệu, hai triệu. Tôi lúc đó thấy phải ra ngoài gió một lúc cho đỡ mệt, đứng dưới sương lạnh nhìn ra bầu trời đen đằng xa, hít thở cái khí trời lạ lẫm này, và nghĩ xa hơn, biết đâu trong vùng trời đen ngòm ngoài kia, một gia đình Thượng cơ hàn nào đó đang hạnh phúc.

Nhưng đứng mãi ngoài trời cũng lạnh, tôi lại thấy thèm một chỗ nằm ít ra cũng để nghỉ ngơi sau một ngày hành trình dai dẳng, mai đây tôi còn phải tiếp tục những chuyến đi khốc liệt hơn cho đến một ngày nào hoặc là vĩnh viễn nằm xuống, hoặc là vĩnh viễn xa lìa một phần thân xác nào đó của mình để trở về tật nguyền ôm những đứa cháu nhỏ ru chúng ngủ qua ngày bên cạnh người chị nghèo khó, hoặc là cho tới một ngày thanh bình. Điều sau cùng này xem ra còn xa vời hơn hai điều trên kia, bởi chẳng phải những người lãnh đạo cuộc chiến này vẫn hô hào chiến đấu thêm mười, hai mươi hay nếu cần một trăm năm hay đến người cuối cùng đó sao?

Tôi chui vào khoang xe jeep, nằm trên băng ghế sau, lấy chiếc áo choàng nhà binh đắp lên mặt, để nguyên đôi giày nhắm mắt muốn ngủ. Gió vẫn đập mạnh trên những vòm lá trên cao hay một khung cửa sổ khép hờ, tuy vậy lúc này tôi không thấy lạnh nữa vì đã có bức tường chắn ngang lối gió tới. Nằm một lúc không ngủ được, tôi lại tìm thuốc lá. Đã hết. Bao thuốc đã xé nát vất trong phòng, tôi ngồi dậy, lững thững đi ra ngõ tìm một sạp hàng mở cửa khuya, mua một bao thuốc lá đen, đi bộ trở về. Thêm những đồng bạc lẻ cuối cùng ra khỏi túi. Nằm tại chỗ cũ trên xe, hút điếu thuốc mới, nghĩ miên man đến nhiều thứ, cuối cùng tôi hiểu vì sao những người lính như tôi càng dùng súng đạn của tư bản bắn về phía mà chúng ta đã quen gọi là kẻ thù, chúng tôi càng sống gần người vô sản. Kinh nghiệm của bố tôi, của anh trai tôi không cho phép tôi được nhầm lẫn khi chọn một chỗ đứng trong cuộc chiến này nhưng cho đến bây giờ, sau những năm liên tiếp cầm súng của người ta viện trợ cho bắn về phía trước, nhất định tôi chưa tìm thấy một lý do nào chính đáng hơn để tiếp tục. Bỏ cuộc, như thế trở thành đầu hàng, chạy trốn. Tiếp tục thì vô lý, có khi thành ngụy tín. Tại sao? Làm sao chúng ta hội đủ những ảo tưởng để thay vào chỗ trống của một thứ lý tưởng tàn tạ? Nhưng có cần thay thế hay không?

Vất mẩu thuốc lá xuống sân sỏi, tôi nằm lại trên ghế xe, cố dỗ mình vào giấc ngủ. Hãy ngủ thật bình yên nghe cưng, sáng mai có hòa bình (*). Mặc cho tiệc rượu còn tiếp tục trong phòng khách, tôi cố dỗ giấc ngủ. Vả lại, vắng mặt tôi, họ vẫn cứ tiếp tục hết ly rượu này đến ly rượu khác, hết chai rượu này đến chai rượu khác, hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, hết câu chuyện này đến câu chuyện nọ, những chai rượu, những gói thuốc lá được sản xuất từ xứ sở của những người vẫn đúc ra súng đạn cho chúng ta bắn hằng ngày ở đây.

Vào một lúc nào đó giữa giấc ngủ mệt mỏi, tôi có cảm tưởng mình đang trôi tuột xuống dốc sỏi cho đến lúc bỗng dưng dừng lại. Tôi choàng dậy, chiếc xe được sang số, nhấn ga vọt tới trước, bắt lên một triền dốc khác. Đằng ghế trước ít ra cũng đến hai ba người ngồi sát nhau. Tôi ngồi dậy, đưa tay dụi mắt, chiếc xe rời đỉnh dốc thấp âm u tối đổ xuống một con lộ ít gập ghềnh hơn, và tôi chỉ nhận ra phút đó, chúng tôi đang đi về phía phố chính. Gió lạnh như cắt, giật tung tấm mui xe nhưng tôi vẫn cố đốt cháy một điếu thuốc. Những người ngồi phía trước vẫn tiếp tục câu chuyện có lẽ dở dang từ tiệc rượu, không ai nhắc nhở gì đến tôi. Xe qua phố chính, đường vắng tanh, những cửa hàng đóng im lìm, hàng đèn đường đỏ ngoét trên cao không soi rõ mặt lộ. Tôi nghĩ đến một thành phố chết lúc quá nửa đêm, tôi tưởng như mình đang ngồi trên một chuyến xe trở về tiếp thu lại một thành phố đã bị địch quân chiếm cứ từ nhiều tháng trước, phố xá như đã bị bỏ quên đằng sau gót chân người đi tị nạn, và lúc đó tôi chợt muốn thấy những đụn khói đen, những căn nhà đổ nát, những con phố ngập ngụa gạch đá, những xác người nằm lẻ loi trong niềm quên lãng của con người, kẽm gai, những toán lính tuần tiễu, những loạt súng nổ rời rã nhưng không kém phần kinh tợn, những lô cốt cháy xém. Nửa đêm trong một thành phố mới tiếp thu, có phải đó là hình ảnh của những ngày thơ ấu của tôi, có phải đó là thời kỳ của anh, của chú tôi nghiệt ngã trong khói súng thù hận với mơ ước một ngày bình yên cho tuổi già của họ, cho tuổi lớn lên của tôi; bây giờ cũng từng đó thứ, như vậy tôi mơ ước gì, liệu tôi đang mơ ước gì với những ý tưởng kia, một thành phố nửa đêm ám khói, súng liên thanh ròn rã kia; đằng trước cửa rạp hát đông người buổi chiều bây giờ chỉ còn có anh cảnh sát ôm súng đứng đằng sau một vòng kẽm gai, liệu anh ta đang nghĩ gì, đang mơ ước gì, sau lưng anh ta, hàng chữ lờ mờ ghi tên một khách sạn bằng tiếng ngoại quốc, lầu năm tầng, đèn sáng, một phía khác, cũng đằng sau những vòng kẽm gai, hàng chữ lờ mờ ghi giới hạn nổ súng, cấm vượt qua, bên một đống rác những con chó đang gặm những khúc xương rời, ậm ừ, có phải đó là những khúc xương người? Súng đại bác nổ ngập ngừng hướng Bắc thành phố.

Chiếc xe chui vào nhiều con đường sỏi gạch nổi ngang ngửa, ra một vùng có lẽ khá xa với khu phố chính ở đó không có đèn đường, những căn nhà lùi sâu vào phía trong những khoảng đất trống hay những khoảng sân lát gạch có ánh sáng lờ mờ từ một cánh cửa sổ nào đó hắt ra; cuối cùng dừng lại trên lề đường. Một người trên xe nhảy xuống, đưa tay bắt tay hai người còn lại rồi đi bộ vào phía cổng gỗ sau khi nói thêm hai tiếng cám ơn. Tôi nhận ra đó là một trong hai người khách đến sau trong buổi tối tại nhà vị sĩ quan nọ. Trên xe còn hai người ngồi đằng trước và tôi, vẫn ngồi nguyên như cũ, không nói năng, lạ mặt, có lúc thấy kỳ cục, hầu như tôi vẫn ngồi đấy cho đến khi trở về nhà mà hai người kia không hay biết. Đêm đó tôi ngủ nguyên trên băng sau xe, thỉnh thoảng thức giấc nghe tiếng đại bác nổ, tiếng động cơ của một hay nhiều chiếc trực thăng lượn vòng trên đầu, đôi khi còn nghe cả tiếng chó tru tréo từ một xóm nào đó dưới chân đồi hay trên đỉnh dốc vọng tới.

Sáng sớm hôm sau thức dậy lúc những tia nắng đầu ngày còn mãi trên ngọn lá xanh, tôi đưa tay dụi mắt, tìm một điếu thuốc lá đốt lên và thở khói một cách khá từ tốn. Dù mệt mỏi, rã rời, ngao ngán, tôi vẫn còn chút lãng mạn thử đưa mắt tìm trên vòm lá xanh cao hay dưới lũng thấp xem có chút sương mù cao nguyên nào không. Không có. Gió Lào vẫn thổi qua đây nhưng dịu nhẹ hơn, buổi mai mát rượi không lạnh buốt như đêm qua. Bắt đầu một ngày mới, tôi tự nhủ tôi như vậy, hãy bắt đầu một ngày mới dù sao, hãy hút một điếu thuốc thật ngon, trong hơi mát buổi sáng nay, hãy nghĩ đến người tình trong thị trấn nhỏ đã ra đi sáng hôm qua, đó là chút vui đầu ngày trước khi lên chiếc trực thăng ra trình diện đơn vị mới đang hành quân nơi một vùng trời khác. Từ nhiều năm qua, mỗi lần sửa soạn một chuyến đi ra mặt trận tôi vẫn thường tìm những niềm vui nhỏ như thế để tự an ủi mình. Những ngày sau này, tôi sẽ còn nhiều dịp trở lại thành phố này, sẽ trải qua những đêm buồn tênh, một mình, sẽ có những buổi chiều trống rỗng ngồi dưới gốc những cây phượng già nơi ngã năm thành phố nhìn những đứa nhỏ cầu cực một đời sống chui rúc bằng những ổ bánh mì xin được, co ro ngủ qua đêm trên ghế đá mốc meo như chiều qua tôi đã thấy, đời sống và hạnh phúc của chúng ta đó có phải không, một thành phần vô sản mới trong xã hội chúng ta đó có phải không, là những kẻ mười năm sau sẽ cầm súng chiến đấu cho quê hương chúng, cho tự do của chúng ta đó có phải không? Những ngày sau này, nếu tôi còn sống, trở về từ những mặt trận quanh đây, chỗ ngồi trên chiếc ghế đá dưới gốc những cây phượng cây thông già đó có phải dành cho tôi, đám trẻ con kia có phải là anh em duy nhất của tôi, và hạnh phúc nào thứ hạnh phúc mà tôi cần tìm thấy? Bây giờ là đầu mùa hè, những ngày mưa sẽ tới, phượng sẽ không nở hoa rực rỡ đỏ trên ngọn xanh, lá sẽ rơi mục ngoài những cánh rừng tôi sắp đi qua, có phải đó là buổi xế chiều của những đời sống quạnh hiu?

Lúc theo xe để trở về căn cứ cách đó hơn mười cây số, ngồi trên băng ghế sau, buồn hiu, tôi mới khám phá ra rằng trên bộ đồ trận của mình đang mặc, không phải là một hay hai mà là rất nhiều vết bùn đất đỏ. Bảy giờ sáng, đi qua ngã năm, những đứa trẻ chiều qua đã thức dậy, mỗi đứa nắm trên tay một viên đá. Hình như chúng đang bắt đầu lại trò chơi qua ngày của chúng đã bỏ dở dang từ xẩm tối hôm qua.

T.V

Pleiku, 4/1970

(Tạp chí Trình Bầy, số 7/1970)

(*) Thơ Cùng đinh, Nguyễn Âu Hồng - 1969

--> Read more..

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2007

Lộ trình nào ?

THẾ VŨ

Lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc thu hút sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà liên tiếp tại các kỳ họp gần đây, Quốc hội đã dành khá nhiều thời gian cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo trả lời chất vấn của các đại biểu. Bản thân Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển cũng thừa nhận thực trạng giáo dục nước ta còn rất nhiều yếu kém và bất cập, nói như một vị đại biểu Quốc hội tại kỳ họp vừa qua thì có thể ví thực trạng giáo dục đào tạo như một chiếc áo quá cũ mặc trên cơ thể một chàng trai trưởng thành, vừa chật chội vừa rách nát, vá chỗ này bục chỗ kia... Mặc dù trong gần 20 năm qua ngành giáo dục đào tạo cũng đã có những cố gắng không nhỏ để đổi mới từ nội dung, phương pháp, chất lượng giáo dục đến công tác quản lý nhưng vẫn hết sức bất cập so với yêu cầu phát triển mạnh mẽ của đất nước và ngày càng lạc hậu so với thế giới. Tình hình bức xúc đến độ mới đây, tại buổi làm việc với các nhà giáo và các chuyên gia giáo dục tiêu biểu, Thủ tướng Phan Văn Khải đã kêu gọi mọi người hiến kế để chấn chỉnh nền giáo dục nước nhà. Chính phủ cũng đang thu thập ý kiến chuẩn bị bản báo cáo trình bày trước kỳ họp Quốc hội đầu năm 2005 về thực trạng giáo dục và đề ra những giải pháp đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục đào tạo trong những năm tiếp theo.

Chúng ta đều biết sản phẩm của giáo dục là con người cho nhiều thập niên về sau. Thế hệ học sinh sẽ bước vào lớp 1 năm học 2004 - 2005 chẳng hạn, sau 12 năm học phổ thông, khoảng 3-5 năm đào tạo bậc cao đẳng - đại học hoặc học nghề, sẽ là lực lượng lao động chính của thời kỳ 2025 trở về sau. Đó là thời điểm mà mục tiêu kinh tế xã hội của chúng ta đề ra là trở thành một đất nước phát triển ngang bằng các nước phát triển trong khu vực, một số lĩnh vực có rút ngắn đáng kể so các nước tiên tiến trên thế giới. Để có một đội ngũ trí thức năng động và lực lượng lao động có tay nghề đáp ứng được những yêu cầu cho mục tiêu phát triển nêu trên, rõ ràng không thể chỉ yên tâm trông chờ ở một nền giáo dục đào tạo bất cập và lạc hậu như hiện nay. Những cố gắng chỉnh sửa sách giáo khoa, bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho đội ngũ giảng dạy, thay đổi mô hình quản lý giáo dục... như hàng chục năm qua chúng ta đã và còn đang làm rõ ràng chỉ là những biện pháp vá víu tạm thời chỉ để khắc phục những nhược điểm tự thân bộc lộ trong quá trình vận hành bộ máy giáo dục cổ lỗ hiện nay chứ chưa nói đến khả năng rút ngắn khoảng cách với những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Xã hội hóa giáo dục, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục đào tạo là hết sức cần thiết và cấp bách, nhưng trước hết chúng ta phải xác định rõ một lộ trình đổi mới toàn diện hoạt động giáo dục, hay nói như GS-TS Võ Tòng Xuân là tiến hành "một cuộc đổi mới thứ hai" - đổi mới giáo dục Việt Nam sau đổi mới kinh tế.

Để tiến hành thắng lợi "cuộc đổi mới thứ hai", chúng ta không thiếu các chuyên gia giỏi đang sống và làm việc trong nước và cả ở nước ngoài, vấn đề là làm sao tập hợp họ lại vì sự nghiệp chung. Thiết nghĩ trong tình hình hiện nay không thể giao việc này cho Bộ Giáo dục - Đào tạo bởi sức lực của Bộ này chỉ có thể điều hành bộ máy giáo dục hiện hành đối phó với những vấn đề nảy sinh trong quá trình vận hành cỗ máy cũ. "Bộ tham mưu" của cuộc đổi mới thứ hai này nên là Hội đồng quốc gia giáo dục, vừa tổ chức tư vấn vừa đảm đương nhiệm vụ thiết kế toàn bộ kế hoạch đổi mới giáo dục, đặt dưới sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Có thể hình dung toàn bộ công cuộc đổi mới giáo dục như một đại công trình xây dựng cấp quốc gia do Chính phủ trực tiếp đầu tư và chỉ định tổng công trình sư, trong đó gồm nhiều hạng mục công trình; từng hạng mục sau khi hoàn thành, vận hành thử và nghiệm thu xong sẽ bàn giao lại cho ngành giáo dục đào tạo quản lý và sử dụng.

Đúng như Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển đã phát biểu tại kỳ họp gần đây của Quốc hội, đổi mới giáo dục phải bắt đầu từ người thầy. Lộ trình của "cuộc đổi mới thứ hai" này thiết nghĩ phải bắt đầu từ việc đổi mới triệt để công tác đào tạo ở các trường sư phạm. Để những sản phẩm đầu tiên của công cuộc đổi mới giáo dục theo hướng nêu trên phát huy tác dụng vào đầu thập niên thứ ba của thế kỷ này, thiết tưởng phải làm thế nào để "hạng mục công trình" đầu tiên có thể đi vào vận hành trong thời gian sớm nhất. Mặt khác, xã hội hóa giáo dục không phải chỉ là việc chuyển một bộ phận trường công lập thành trường tư thục, còn việc giữ lại một tỷ lệ trường công nhất định để Nhà nước đầu tư thích đáng nhằm xây dựng thành những trường lớp chuẩn mực cho việc đổi mới giáo dục là hết sức cấp thiết, chấm dứt tình trạng đổ thừa không lấy đâu ra tiền như lâu nay. Có thể xem đây là "hạng mục công trình" thứ hai cần hoàn thành sớm mới mong tạo tiền đề cho việc vận hành cỗ máy giáo dục đổi mới.

T.V

(Thanh Niên T3/202/2004)

--> Read more..

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2007

Khóc Thế Vũ

TRẦN DUY PHIÊN

1. Cú điện thoại gọi lúc bảy giờ sáng, với tôi - một người thường mất ngủ, là quá sớm.

- A lô? - Tôi vừa thoát ra khỏi giường.

- Phiên phải không? Thương đây! - Người đầu dây trả lời - Lê Ký Thương đây!

- Vâng - Tôi hỏi - Khỏe không?

- Có chuyện buồn này... - Thương ngập ngần - Báo cho anh hay Thế Vũ mất rồi!

- Hồi nào?

- Hôm qua, 12 giờ ngày 15 tháng 11 - Lê Ký Thương nói tiếp - hiện đang quàn ở... - Tôi không nghe rõ, hoặc Lê Ký Thương lúng búng. Bối rối, tôi không biết phải làm gì! Nhưng không lẽ cầm mãi điện thoại trong tay!

- A lô! - Tôi nói - Có cách gì...?

- Cả nhà đang... - Thương nói - Chắc chị Hà - vợ Thế Vũ đang ở đấy. Nhưng gọi cho con gái Thế Vũ - Phương An, số máy di động... - Tôi dùng phấn ghi ngay lên nền nhà một dãy mười con số...

- Thôi! - Tôi nói và cảm thấy mình ngớ ngẩn. Thôi là thôi cái gì! - Mình sẽ liệu cách. Cám ơn đã báo tin. - Tắt máy, tôi bần thần ngồi bệt xuống nền nhà. Mười con số này quá lắm giúp tôi một thứ xã giao chiếu lệ.

2. Vào khoảng năm 1985-1986, Huỳnh Ngọc Sơn mang qua nhà tôi một số Văn nghệ Nha Trang. Chỉ một đêm, tôi đọc một lèo không sót chữ nào. Một tạp chí mỏng manh chỉ bỏm bẻm chọc thèm nỗi khát khao văn học bấy lâu âm ỉ trong tôi. Nhưng dù sao tờ tạp chí cũng giúp tôi nhớ lại vài ba khuôn mặt bạn bè. Hơn mười năm qua, tôi cắm cúi cầm cuốc cầm búa thay vì cầm bút cầm phấn, cố quên mình đã có một thời ước mơ trở thành nhà văn. Dạo ấy tôi kiếm sống ở một hợp tác xã cơ khí. Ngoài giờ lao động tập thể, tôi còn cuốc đất trồng mì, trồng lang, nấu rượu lậu, nuôi heo... Tính ra mỗi ngày phải quần quật mười lăm tiếng. Thế mà quỷ ma xui khiến làm sao, sau đêm thức trắng ấy, tôi giở lại mớ bản thảo bụi bặm gần như phủ kín chữ nghĩa. Lựa lấy một bản đánh máy từ năm 1972 có nhan đề Qua đồng Văn xá - vì nó tươm tất hơn cả, tôi gởi cho Thế Vũ.

Đừng thêm thắt chi nữa! Tự nó, đã đủ cho một truyện ngắn! - Nửa tháng sau Thế Vũ viết cho tôi. Đọc thư Thế Vũ, tôi thầm nghĩ mình đã để tuột mất khả năng sáng tác. Trước khi gởi bản thảo đi, tôi có rà lại và viết thêm một đoạn ngắn. Mùa hè đỏ lửa năm 1972, tôi đưa vợ con di tản qua Pleiku, Buôn Ma Thuột, Nha Trang đến Phan Rang, tạm cư ở một căn nhà tôn giữa đồng dọc đường lên Tháp Chàm. Vô công rỗi nghề, tôi ngồi viết một số truyện. Năm tháng sau về lại Kon Tum, tôi gởi truyện ngắn ấy cho Đối Diện... nhưng chẳng được in. Năm sau về công tác thí vụ ở Đà Nẵng, gặp Đông Trình. Đang lúc thế này mà Phiên cho một tay du kích vác súng đi giữa thành phố Sài Gòn thì có mà chết! Chúng nó hốt ngay! Đông Trình cho hay ông Lan đã nói với anh như thế. Người trong cuộc, tôi hiểu đó là lý do vì sao linh mục Nguyễn Ngọc Lan gác lại tác phẩm ấy. Thú thật, tôi buồn. Nhưng sau nghĩ lại, bản thân tôi may ra chỉ được lếu láo viết lách. Còn như khôn ngoan cân nhắc, tiến thoái đúng thời cuộc tôi không có được. Một tác phẩm nhỏ sớm chua cay bầm dập rồi lãng quên đã mười lăm năm, nay được Thế Vũ trân trọng, tôi cảm kích vô cùng. Có lẽ đây là một trong những nguồn động viên thôi thúc tôi cầm bút trở lại...

3. Năm 1987, trên đường đưa con đi học ở TP Hồ Chí Minh trở về, tôi ghé lại Nha Trang tìm Thế Vũ. Dịp này, tôi được làm quen với Cao Duy Thảo và Lê Ký Thương. Cũng dịp này, tôi muốn đến thăm anh Giang Nam, nhưng nghe anh em nói anh đang đương chức phó chủ tịch tỉnh, tôi ngại nên thôi. Có ai tin Thế Vũ và tôi đến lúc đó mới biết mặt nhau, trước đó, chỉ văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình!

Qua năm 1989, tôi viết cùng lúc hai truyện ngắn: Kiến Và Người - Mối Và Người. Một truyện khi đọc thường bắt tôi khóc, một truyện lại bắt tôi cười. Thích quá, có người về Nha Trang tôi chép Kiến Và Người gởi tặng Thế Vũ đọc chơi (vì lúc đó tờ Văn Nghệ Nha Trang đã đình bản). Chừng tháng sau nhận được thư Thế Vũ báo Kiến Và Người sẽ in ở Đất Quảng số tới. Về sau mới biết, trên đường vào thành phố, các cụ Thanh Quế - Tổng biên tập Đất Quảng, Nguyễn Bá Thâm, Trương Điện Thắng... được Thế Vũ đem khoe Kiến Và Người. Các cụ nhất trí cao! Kiến Và Người khi in ra (Đất Quảng số 65 - tháng 9 và 10.1990) đã làm cho Thanh Quế thất điên bát đảo! Còn tôi ở Gia Lai - Kon Tum, cộng thêm Thằng chó đẻ, cũng tơi bời hoa lá!

Ba bốn năm sau, có dịp ghé Đà Nẵng tôi tìm thăm Thanh Quế, đến lúc này chúng tôi mới biết mặt nhau. Tại Thế Vũ, tại các anh, chứ tôi chỉ có cái tội viết ra thôi! - Tai qua nạn khỏi, thay vì cám ơn, tôi khéo đổ vạ nhân khi bia bọt sục sôi.

4. Theo tôi, Thế Vũ là người ít nói, khắc kỷ, trong sáng, sâu sắc và kiên định. Nhận thức, đánh giá sự vật, Thế Vũ nhìn vào cốt lõi, muốn chính danh định phận rõ ràng.

Nhân dịp tôi in cuốn tiểu thuyết Trăm năm còn lại, Thế Vũ làm một cuộc phỏng vấn nhỏ nhằm giới thiệu tác giả và tác phẩm. Chúng tôi ở xa nhau, Thế Vũ gởi cho tôi những gợi ý... Trả lời câu hỏi Vì sao đến bây giờ anh vẫn bám trụ ở Kon Tum trong khi bạn bè viết lách của anh đều quy về các thành phố lớn để sinh hoạt. Tôi viết Cho tới bây giờ, tôi chưa hết mặc cảm lưu đày... Nhưng khi cho in, Thế Vũ chữa lại... Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa hết hạn lưu đày... Sau đó, nhiều người quen gặp tôi hỏi anh bị án tù từ bao giờ?

Tôi chưa bao giờ ra tòa làm sao có án! Thế Vũ cũng biết điều đó nhưng tại sao anh chỉnh lại như thế? Thời sinh viên tôi tham gia xuống đường đấu tranh chống chế độ, tham gia đốt phòng văn hóa thông tin Mỹ và đốt tòa lãnh sự Mỹ ở Huế. Khóa sư phạm của tôi ra trường năm 1967, chúng tôi đa phần bị o ép nhận nhiệm sở các tỉnh hẻo lánh ở Tây Nguyên. (Sau này, tình cờ tôi biết thêm bằng chứng về ý đồ này của chính quyền thời ấy. Và tôi nghĩ người ta ra đòn vẫn còn nhẹ tay). Trong khi tôi dạy học ở một trường sát biên giới, cận kề chiến trận thì năm 1972, Thế Vũ vì cái tội viết Những vòng hoa ngụy tín, vì cái tội trốn quân dịch phải thi hành bản án lao công đào binh ở Dakto, cách tôi chừng 35 km. Nhiều lần mình muốn về Kon Tum tìm ông nhưng trốn không được! - Sau này Thế Vũ thường tiếc nuối. Mình cũng muốn đi khỏi Kon Tum nhưng xin không được! - Tôi thú nhận. Lao công đào binh là gì? Là ở tù giữa mặt trận. Là bị cưỡng bách hành dịch giữa bom đạn. Nghĩ cho cùng, thời ấy chúng tôi đồng dạng với nhau theo một tỷ lệ nào đó. Tôi hiểu tâm tư Thế Vũ nên mặc nhiên đồng tình với câu chữ của anh. Còn ai quy tôi khập khiễng, quy Thế Vũ võ đoán... Xin thông cảm cho!

5. Năm 1987, tôi viết trở lại và thường gởi sáng tác cho Tuần tin Thanh Niên. Và mỗi khi có dịp về thành phố, thu xếp ghé thăm anh em ở tòa soạn.

Từ Nha Trang vào làm việc ở Báo Thanh Niên, Thế Vũ viết thư đều đặn cho tôi. Đáp lại, tôi gởi cho anh những gì tôi vừa viết và cảm thấy thích (nhưng không phải tôi viết cái gì cũng vừa bụng Thế Vũ!).

Tuần tin Thanh Niên dời về Cống Quỳnh năm trước, năm sau tôi có dịp ghé lại. Cơ sở này chật hơn ở Trần Hưng Đạo, gặp nhau, Thế Vũ đưa tôi ra quán nước vỉa hè cách đó chẳng bao xa. Dạo này tôi thấy Thế Vũ ăn mặc chỉn chu bảnh bao, người đã có phần thay da đổi thịt. Thế Vũ còn cho tôi hay Thanh Niên giúp anh có được căn hộ chung cư ở Bàu Cát. Tôi mừng và thầm thán phục đầu tàu của Tuần tin Thanh Niên. Ăn nên làm ra, đoàn kết và thật sự có một tấm lòng mới dám đùm bọc, chở che một nhà văn đang bước đường cùng, một gia đình đang ở giai đoạn cực kỳ khó khăn!

Dấu ấn Thế Vũ sâu đậm trong tôi không chỉ là những tán thành vài ba sáng tác tôi gởi cho anh. Tôi biết Thế Vũ nghèo ngay khi gặp vợ con anh ở một gian phòng sau tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Nha Trang. Tôi biết Thế Vũ kém sức khỏe từ cái đêm hai chúng tôi đưa nhau ra ngồi ngoài bãi biển. Chuyện vãn chưa tới đâu, Thế Vũ ho hen liên tục. Sợ anh cảm lạnh, tôi đành chấm dứt cuộc gặp gỡ... Thế mà nay - khi ngồi ở quán nước này, Thế Vũ lo tôi túng bấn, xúi tôi vào gặp Phó Tịnh xin ứng chút ít. Tôi đã chiều ý Thế Vũ, ký nợ một lần. Và đến nay tôi chưa trả (bằng tiền mặt hay bằng tác phẩm) vì Thế Vũ cứ bảo xong rồi. Hỏi nữa, anh tảng lờ. Thế Vũ xóa nợ cho tôi bằng cách nào?

6. Một lần vừa đưa nhau ra quán nước ở đường Cống Quỳnh, Thế Vũ nói:

- Phiên coi thằng Cự... - Anh ấp úng.

- Thế nào?

- Trong nhà chưa rõ ngoài ngõ đã hay, khôn ngoan đóng cửa dạy nhau - Thế Vũ nói - Hắn viết được cái gì thì đưa đây, anh em sẽ tìm cách in cho, việc gì phải gởi qua bên Mỹ!

- Cho ăn mà không cho sủa kẻ gian, chó cũng bỏ chủ nhà mà đi, huống hồ là... - Tôi chưa nói hết ý, Thế Vũ cúi gầm mặt, run rẩy cầm ly nước lên rồi đặt xuống. Nắng Sài Gòn bức bối, chẳng ai còn nghe khát nữa! Chúng tôi ngồi im lặng với nhau chừng mười lăm phút rồi chia tay. Thế Vũ giận tôi. Anh nghĩ tôi bênh Bảo Cự. Anh đánh giá tôi nặng tình riêng.

Năm 2001, tôi về thành phố, nghe tin Thế Vũ bệnh nặng. Tôi ngây thơ nghĩ sao lúc túng thiếu thì khỏe mà bây giờ... Cái số khổ ư? Tôi đi với Lê Ký Thương vào Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Chị Hà đem cho chúng tôi hai cái khẩu trang rồi mới vào phòng báo cho chồng hay có khách. Đêm tối hẳn, không khí đã dịu xuống, hành lang bệnh viện thông thoáng, nhưng ba người thít chặt ba cái khẩu trang, nói năng được gì! Thế mà trước khi vào đây, tôi đã hạ quyết tâm phen này phải giải tỏa hết suy nghĩ của mình... để làm hòa với nhau!

7. Thế Vũ ơi!

Bá Nha đàn, chỉ một lần được Tử Kỳ nghe mà lấy làm đủ. Trở về chốn cũ, biết tri kỷ không còn, Bá Nha liền bứt dây đập đàn, bỏ cuộc...

Tôi không dám sánh mình với người xưa. Tôi cũng không có tiếng đàn vô thanh của Bá Nha. Tôi cũng không có đảm lược đập nghiên bẻ bút vì tự thấy mình đã viết được gì đâu! Cơn khát chữ nghĩa đêm ngày vẫn thôi thúc, nhưng bạn đi rồi, tôi còn viết... biết có ai nghe?

T.D.P

Kon Tum, 16.11.2004

--> Read more..