Thứ Năm, 27 tháng 9, 2007

Thế Vũ – Những trang văn để lại

Cuộc chiến tranh xâm lược mà người Mỹ tiến hành ở miền Nam nước ta trước năm 1975 đã để lại những di chứng nặng nề trong đời sống xã hội, cả trên lĩnh vực văn học. Khi văn học trở thành chiến tuyến, những người cầm bút ở Sài Gòn không thể không rơi vào thế kẹt của lịch sử, và tác phẩm của họ tất yếu bị lợi dụng, khai thác để phục vụ cho những mưu đồ chính trị. Nhưng cũng chính trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, những nhà văn có lương tri đã tìm cách xoay trở để ngòi bút không những không phản bội lại lương tâm mình mà còn có thể gửi gắm vào trang viết ước mơ nung nấu về một ngày mai gươm đao biến thành lưỡi cày. Như một phản chứng của lịch sử, một số cây bút - đặc biệt là những cây bút trẻ, thường không mang nhiều mặc cảm như thế hệ đàn anh - dù đứng trong hàng ngũ quân đội Sài Gòn, do trung thành với sự thật khách quan, đã làm chứng cho một xã hội băng hoại và mục rã đang đến hồi sụp đổ. Họ không phải là những nhà văn trực tiếp nằm trong quỹ đạo của cách mạng, nhưng dường như lịch sử đã cài họ vào hàng quân đó để thu và phát những tín hiệu văn chương từ một phía đối nghịch của chiến tranh mà thật ra, cho đến nay, người nghiên cứu văn học chưa phải đã quan tâm và thấu hiểu đầy đủ.

Thế Vũ, tác giả tập sách mà bạn đang cầm trên tay, là một trong những nhà văn có số phận đặc biệt như vậy.

Đọc những sáng tác Thế Vũ viết trước 1975, ta có cảm giác như xem một cuốn phim quay chậm những cảnh đời tù hãm và những kiếp người tàn tạ. Này đây những làng xóm tiêu điều, những dãy phố quạnh hiu. Này đây những doanh trại và khu gia binh với các căn nhà tiền chế chật chội, nóng bức. Này đây một bệnh viện dã chiến bẩn thỉu, tạm bợ. Này đây những chuyến xe nhà binh mệt mỏi trên con đường lầm bụi. Là người trong cuộc, ngòi bút Thế Vũ miêu tả sắc nét cảnh sinh họat ngột ngạt mà con người phải chịu đựng trong “một thứ thời thế càng lúc càng bệnh hoạn”. Đó là một thế giới mốc meo, u ám, vương mùi tử khí. Những bộ đồ trận xám mốc đôi khi lang thang trong cõi người như những hồn ma từ cõi chết trở về vất vưởng trong một đời sống đang kiệt cùng đến tận đáy.

Hình tượng ám ảnh nhất trong văn Thế Vũ là những cơn mưa, những cơn mưa tàn bạo ngút ngàn nơi chiến trường hay những cơn mưa tầm tã, buốt cóng trên mái nhà tù. Những trang văn thời chiến của Thế Vũ gợi nhớ đến những trang tiểu thuyết chiến tranh của E.Hemingway và E.M.Remarque, dù biết rằng giữa ông và hai nhà văn tầm cỡ thế giới ấy có một khoảng cách rất xa. Tôi phỏng đoán rằng Thế Vũ đã đọc họ, ít nhất là hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Chuông nguyện hồn ai Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh.

Dù sao, những nhân vật của Thế Vũ vẫn có một số phận riêng. Là những con tốt trên bàn cờ thế sự, họ đã bị đẩy vào một tình cảnh không lối thoát: “Kể từ chiều nay, khi đặt chân xuống phi trường lạ của thành phố cao nguyên này, sẽ không còn có lúc nào nữa tôi trở về để ăn một bữa cơm khốn khó với gia đình người bạn, sẽ không bao giờ tôi còn gặp lại những người mới quen biết, người tình, những con đường còn bóng cây cho những trưa hè nồng nàn, những đêm khuya đạp xe về với người bạn đến độ quen mặt từng anh bán bánh mì ngoài ngã năm thị xã, những ngọn gió đêm mát rượi phiêu bồng thổi qua một đời sống truân chuyên (…). Ở cái hiện tại này, trong bộ đồ trận tả tơi sau hơn ba năm bò lê từ mặt trận này đến mặt trận khác, với không có chút cấp bậc nào trên vai, tôi thật tình không biết còn có thể làm gì khác hơn để có một ngày bình yên trở về gặp mặt lại anh em, bằng hữu, người tình mà không phải đui mù què cụt, một ngày còn hy vọng có thể có được trong đời mình một mái nhà, một gia đình…” (Ngày mới đến Pleiku).

Đó là những người lính trẻ trở về mình đầy thương tật đi tìm miếng ăn, nếu không bỏ thây trên chiến trường hay bị vùi chôn đâu đó không người thân thích. Đó là “những người lính đã già trong một cuộc chiến tranh đã cũ”, vì đào ngũ tìm đường sống, bị kết án và đày ải khổ sai trên chiến trường, với hàng chữ Lao Công Đào Binh trên lưng áo, mà ai đó đã từng mỹ từ hóa một cách lãng mạn là Loài Chim Đi Biển! Đó là những người lính vì có ý thức phản kháng cái guồng máy thống trị phi nhân, đã bị đẩy vào những nhà giam đầy ám khí với kỹ thuật tra tấn dã man, ghê rợn. Trên những khuôn mặt hốc hác, bệ rạc của họ, ta nhìn thấy không chỉ một nỗi mệt mỏi ê chề mà còn là một niềm căm phẫn, uất nghẹn: “Những trận đòn hằn lên số tuổi đã quá nửa đời người là những trận đòn đau nhức nhất, nó chậm chạp thấm sâu vào thân thể hắn như để mỗi lúc một chứng tỏ thêm rằng kiếp người chỉ là một giấc mơ không bao giờ có thực của giun và dế. Hắn cam chịu một cách chua xót và cầu mong có một quyền lực nào ban xuống để hắn được trở về với mái nhà, trong đó đứa con bốn tuổi vẫn ngồi ngay bậc cửa chờ bố và người vợ tay bồng đứa nhỏ đỏ hỏn mắt nhìn đăm đăm, người vợ đã an ủi một phần nào cái đời sống tối tăm của hắn, kẻ suốt đời nổi trôi mà không hề nghĩ mình đang đi tìm một cái gì” (Người tù ngoan ngoãn).

Chúng ta có thể gặp trong nhiều truyện của Thế Vũ hình ảnh những con người có lương tri phải dấn thân vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ bị buộc phải giao phó danh dự và sinh mệnh mình cho những sĩ quan vô đạo và bất tài “vốn do Tây đào tạo để sai vặt hay nhiều lắm là đánh thuê trong một thời kỳ đã xa lắc, bây giờ đang cất giọng hô hào chiến đấu” (Những vòng hoa ngụy tín). Ở đây nhà văn đã khéo vận dụng một khái niệm của triết học hiện sinh vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật để phơi bày tình trạng giả dối và mục ruỗng của bộ máy quân đội Sài Gòn. Không phải ngẫu nhiên mà truyện ngắn Những vòng hoa ngụy tín của Thế Vũ đã phải chịu sự phản ứng gay gắt của nhà cầm quyền: ngay sau khi được công bố trên tạp chí Trình Bầy số 21, ra ngày 1.6.1971, nó đã bị Bộ Nội vụ Sài Gòn ra lệnh tịch thu và ngày 6.8.1971 đưa ra xét xử trước Tòa Sơ thẩm Tiểu hình về tội “đã phổ biến luận điệu có tác dụng làm suy giảm kỷ luật và tinh thần chiến đấu của quân đội và làm phương hại đến an ninh quốc gia” (1). Năm ấy Thế Vũ mới vừa 23 tuổi.

Chỉ trong vòng bốn năm, Thế Vũ đã viết một lọat truyện ngắn đăng trên Trình Bầy, Ý Thức, Văn Mới, Làm Dân… với nội dung tố cáo sâu sắc bộ máy quân sự và chế độ nhà tù phi nhân của chính quyền Sài Gòn. Và cũng chỉ trong một thời gian khá ngắn ngủi đó, ý thức xã hội của các nhân vật - và đằng sau đó là ý thức xã hội của chính tác giả - đã đi một bước rất dài. Từ những số phận đen đủi, hẩm hiu trút nỗi đắng cay trong “những cơn say ứa nước mắt”, đã xuất hiện những người trẻ khao khát hòa bình, “thà cam tâm chịu đựng cảnh ngục tù đày đọa hơn là thỏa hiệp với tình thế bạo ngược của chiến tranh” (Mưa trên lầu bát giác). Từ những số phận mà hoàn cảnh nghiệt ngã đã bào mòn và giết chết những ước mơ, đã xuất hiện tiếng nói phản kháng phẫn nộ và quyết liệt. Từ những hình ảnh xa xôi, kín đáo về những người anh em “ở bên kia”, đã xuất hiện những bàn tay vẫy trong sân trại tù đáp lại những cánh tay lờ mờ sau những chấn song sắt, những tiếng hát cất lên từ phòng giam gieo hạt mầm hy vọng trong ngục thất.

Không phải vô tình mà trên kia, khi nói về bức tranh thời chiến trong văn Thế Vũ, tôi có nhắc đến Hemingway. Những nhân vật của Thế Vũ có cái gì đó khiến ta liên tưởng đến điều mà các nhà nghiên cứu thường gọi là “nhân vật mảnh vỡ” trong tác phẩm Hemingway. Suy cho cùng, Những “tôi”, “gã”, Vĩnh, Tường hay Phan đều là biến thể – phân thân hay hóa thân - của hình tượng tác giả. Trong những năm đầu thập niên 70, bản thân Thế Vũ cũng từng bị bắt lính, từng đào ngũ, tham gia làm báo đối lập, rồi bị kết án lao công chiến trường như các nhân vật của ông. Địa danh Nha Trang nhiều lần trở đi trở lại trong các thiên truyện cũng chính là thành phố quê hương của nhà văn. Tất nhiên không thể đồng nhất hình tượng tác giả với hình tượng người kể chuyện và hình tượng nhân vật. Nhưng cũng không thể phủ nhận mối quan hệ giữa các yếu tố đó, nhất là khi ta có thể tìm được những điểm chung giữa sáng tác và cuộc đời tác giả. Và như vậy mỗi truyện ngắn là một tháp đoạn tạo nên bức tranh liên hoàn về những người lính đang từng ngày từng giờ kháng cự lại hoàn cảnh, cũng tức là kháng cự lại tình trạng vong thân đang vây bọc chính mình.

Văn Thế Vũ là một thứ văn gắn liền với đời sống, hay có thể nói, cuộc sống cựa quậy trong văn ông. Những yếu tố hành động của cốt truyện thường không rõ nét, nhưng bù lại, dòng ý thức trôi chảy tạo nên một cái mạch tâm lý nhất quán trong tác phẩm. Sau một phần ba thế kỷ, đọc lại những truyện ngắn trong tập này, ta vẫn thấy ngôn ngữ văn xuôi Thế Vũ hòa nhập được với ngôn ngữ văn xuôi đương đại.

***

Bạn đọc cả nước, nhất là bạn đọc trẻ, có lẽ chưa biết nhiều về Thế Vũ. Như đã nói, trước 1975, cùng với những Thái Lãng, Ngụy Ngữ, Trần Hoài Thư, Ngô Thế Vinh, Lê Văn Thiện, Mường Mán, Nguyễn Quang Tuyến…, nhà văn này được chú ý ở mảng sáng tác về đời sống quân ngũ dưới chế độ Sài Gòn, chủ yếu trong thể loại truyện ngắn. Sau 1975, tác phẩm Thế Vũ mới được in thành sách: Gặp gỡ mùa hè (Hội văn học nghệ thuật Nha Trang, 1987), Những vòng hoa ngụy tín (Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa, 1989; NXB Kim Đồng, 2001), Nỗi ham muốn thiêng liêng (NXB Công an nhân dân, 1998). Truyện ngắn của ông cũng đã được chọn in trong các tuyển tập Tiếng hát những người đi tới (Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ, 1993) và Nhìn lại một chặng đường văn học (Trần Hữu Tá biên soạn, NXB TP Hồ Chí Minh, 2000). Rời bỏ cái không gian ngột ngạt trong những thiên truyện thời chiến, nhà văn cố gắng bắt mạch cuộc sống hòa bình và thể hiện những chủ đề mới. Nhưng phải nói thật lòng rằng ngòi bút Thế Vũ, trong giai đoạn sau này, chưa bắt kịp nhịp vận động và những biến thái tinh tế của đời sống. Điều đó một phần có thể do nhà văn chưa cắm sâu vào một môi trường công việc nhất định; phần khác là do tình hình sức khỏe và những khó khăn riêng tư của ông. Sau nhiều năm gắn bó với thành phố quê hương trong cương vị nhà giáo và người làm báo văn nghệ, từ 1992 cho đến ngày từ trần (2004), Thế Vũ chuyển vào làm việc ở tòa soạn Báo Thanh Niên. Ở đây, vừa viết những bài báo trực chiến, ông vừa ấp ủ những tác phẩm dài hơi; nhưng căn bệnh phổi đã không cho phép ông thực hiện ý định sáng tác của mình, kể cả việc hoàn thành cuốn tiểu thuyết dở dang Về từ Trường Sơn mà vốn sống ngày cũ ông đã dồn hết vào đó.

Đối với một đời văn, số lượng tác phẩm mà Thế Vũ để lại như vậy không phải là nhiều lắm. Nhưng khi nói đến một mảng hiện thực chiến tranh, nhìn cận cảnh từ một góc độ ở phía bên kia để có khả năng cung cấp một phần sự thật, người ta không thể không nhắc đến những trang văn ngồn ngộn chất liệu đời sống của ngòi bút sắc sảo này.

Tháng 11/2005

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

(1) Trong phiên xử này, nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Trình Bầy đã bị tòa tuyên phạt một trăm ngàn đồng, bồi thường cho Bộ Nội vụ một đồng danh dự, truyền tịch thu số báo nói trên (Theo Trình Bầy số 26, ngày 18.8.1971)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét