Thứ Tư, 19 tháng 9, 2007

Người bạn

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Tặng Trịnh Kim Ngân

Hơn nửa năm sau ngày Đồng chết tôi mới có dịp trở về Sài Gòn. Tôi hứa mãi với Nhã sẽ đi thăm mộ Đồng nhưng những buổi chiều thường có mưa và thời giờ hiếm hoi của tôi trong thành phố này bị cắt xén thành nhiều mảnh nhỏ cho từng người bạn gặp lại tình cờ và mỗi cuộc vui, cho nên lần duy nhất đi với Nhã vào nghĩa trang, tôi đã không ngồi đủ lâu trên thành mộ nhìn khuôn mặt Đồng nhạt nhòa trên tấm bia đá như Nhã muốn. Nhã rơm rớm nước mắt, run run đốt thẻ nhang cắm trên đầu mộ, gió thổi lớn trên mái lá cao, buổi chiều đe dọa một trận mưa chắc chắn sẽ kéo dài cho đến khoảng gần nửa đêm. Tôi đưa mắt nhìn một lượt quê nhà cuối cùng của những người đã thực sự tìm thấy cõi yên nghỉ vĩnh viễn của đời mình, những tấm bia cũ đã rêu xanh, những nấm mộ mới thầm lặng, những khuôn mặt trên bia đá nhìn xuống cuộc đời bên ngoài, những nụ cười hết còn mang một ý nghĩa nào nữa, cho dù là một ý nghĩa cay đắng. Và tôi đã buồn bã rủ Nhã ra về. Thẻ nhang mà Nhã mang theo chúng tôi cũng đã chia làm đôi, một nửa vừa đốt cho Đồng và nửa kia cho vị chỉ huy trưởng của đơn vị chúng tôi, người đã chết sau Đồng mấy tháng. Chúng tôi đi bộ ra cổng nghĩa trang, Nhã nói lại cho tôi nghe về một vài kỷ niệm cũ của Đồng trên đường về. Tôi thấy Nhã rơi nước mắt, khuôn mặt nàng đã gầy đi, tóc phủ lòa xòa trên má, chiếc áo trắng chập chùng một sự luyến tiếc như vô cùng. Tôi đã không nói gì cả cho đến lúc về đến nhà.

Chị Nhân cố giữ tôi lại trong bữa cơm chiều. Cơn mưa mà tôi đã nghĩ đến từ lúc còn ngoài nghĩa trang thành phố vẫn chưa đến. Tôi định từ chối vì sợ phải một lần nữa nhìn chị sụt sùi khóc như những lần trước tôi ghé đến. Sau cùng tôi ngồi lại với Chấn ở phòng ngoài trong khi chị làm cơm. Nhã có vẻ như sốt, mệt mỏi đi ra đi vào rồi cuối cùng nằm luôn trong buồng. Ông bà cụ trông đã gầy đi nhiều so với lần trước tôi về đây với Đồng, ông cụ từ ngày Đồng mất cũng đã bỏ hẳn thói quen mỗi chiều đi đánh tổ tôm ở các nhà láng giềng, bây giờ râu tóc đã bạc trắng, nằm trên võng mắc trước bàn thờ đong đưa suốt ngày. Du và Chấn có vẻ bình tĩnh hơn cả trong gia đình, hầu như đã nguôi quên đi cái chết tức tưởi của người anh hơn nửa năm trước. Hằng vẫn là kẻ sống với nhiều vẻ xa cách và lẻ loi nhất trong những sinh hoạt của một gia đình đông anh chị hầu hết đã lớn tuổi. Trong những câu chuyện với Nhã mấy ngày trước đây, tôi biết thêm rằng chiếc xe gắn máy mà ngày trước Đồng vẫn chở tôi đi lêu bêu trong thành phố này trong kỳ nghỉ phép trước đã bị đánh cắp. Rất nhiều lần, một cách thật vô tình tôi đã đưa mắt tìm kiếm khuôn mặt quen thuộc cũ của người bạn thân thiết còn quanh quẩn đâu đó trong căn nhà này, nhưng không có, Đồng không còn ngồi chuyện trò với tôi nữa, Đồng ngồi mãi trên vách cao, sau tấm vải điều phủ xuống, sau khói hương nghi ngút.

Sau bữa cơm, tôi ngồi lại nói chuyện với Du và Chấn chờ cơn mưa dứt. Thật ra tôi cố giữ mình ở lại để thấy thân thiết hơn với gia đình người bạn và cũng để chắc hơn sẽ níu giữ được những kỷ niệm với chính Đồng trong thời gian chúng tôi ở gần nhau. Một ngày ở chiến trường miền Trung, tôi gặp lại Đồng với một khuôn mặt rạc rời và bộ đồ trận xám mốc sau thời gian chúng tôi ly tán nhau. Ở đó, chúng tôi đã nằm với nhau trên một chiếc ghế bố tồi tàn ở hậu cứ mỗi lần đơn vị về nghỉ ngơi, ở đó chúng tôi đã nhiều lần say khướt chuệnh choạng dìu nhau về đồn quân sau một ngày nghiệt ngã ở quán rượu, cũng ở đó đã có những đêm thật thân ái chúng tôi ngồi bên nhau trong một quán cà phê buồn bã, nhắc lại để khỏi quên đi những mảng quá khứ xa xôi, những ước vọng chưa tới, những dự phóng lớn lao sau này bắt buộc phải được thực hiện. Có một điều là ở đó chúng tôi chưa hề một lần nhắc đến cái chết, hình như chúng tôi đã quên bẵng nó đi trong thời gian đó, có phải đời sống là sự mơ tưởng về những gì ở xa chứ không phải là lo sợ những gì vây bủa quanh mình. Tôi đã buồn bã nhắc lại cho Nhã nghe những điều đó, tôi cũng đã nói với Nhã biết về những gì mà Đồng và tôi đã mơ tưởng, tuy nhiên tôi vẫn không thể nói cho nàng hiểu gì hơn về mặt trái cuộc sống của chúng tôi trong thời gian đó. Hơn hai năm, Đồng và tôi ở gần nhau với những đời sống được Đồng kể lại một cách khéo léo trong các lá thư gửi về cho Nhã đọc, được tôi nhắc lại cho Nhã hay. Thế rồi một ngày tôi bị đẩy tới một chiến trường khác. Không lâu sau ngày tôi một mình lên đường, Đồng gục chết tức tưởi trong một thung lũng. Tôi không hay tin Đồng chết mãi đến khi đọc thấy những hàng nhắn tin, vội vã và ngắn ngủi trên một tờ báo do Dũng viết. Những ngày đó tôi đang đắm mình trong một trận đánh tàn bạo ở biên giới, lúc trở về một thị trấn đìu hiu trên cao nguyên tôi đã xúc động mạnh mẽ khi đọc thấy những dòng chữ Dũng viết, và một mình, thật lẻ loi tôi đã nghĩ thật nhiều đến cái chết của chính mình một cách vô cùng chán nản. Hình dung ra Đồng với một vết thương khô máu, xác trên tay những đồng đội, hình dung ra Đồng ngã xuống ở một bờ suối nào đó lúc nửa đêm, những cánh diều tuổi thơ đã chết từ lâu trong trí bỗng dưng bay rợp trên bầu trời tối tăm, những ước mơ vội vã trôi thật nhanh trên những mạch máu nóng còn đập được những nhịp cuối cùng của một đời sống cuồng nhiệt.

Tôi đã gặp Chấn đâu khoảng hai lần, một lần vào kỳ nghỉ phép với Đồng hai năm trước và một lần nữa lúc Chấn ra thăm người anh ở quận lỵ nhỏ nơi chúng tôi chiến đấu. Chấn còn trẻ, dưới hai mươi, khuôn mặt khác hẳn Đồng, vóc người cao lớn và trên khuôn mặt trắng trẻo đó nét thiếu niên vẫn còn. Anh ta hiện đang theo học đại học, có đủ nhiệt tâm của một người mới lớn trong thời đại này, anh ta cũng có những băn khoăn rất thanh niên và những nhạy cảm rất trẻ trung. Chấn hỏi tôi để hy vọng hiểu rõ hơn về những ngày Đồng còn sống bên tôi ở quận lỵ tàn tạ đó, tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên là Chấn đã hỏi rằng trong thời gian đó, có bao giờ Đồng tỏ ra ưa thích cái nếp sống quân ngũ hay không. Tôi trả lời anh ta một cách thật khó khăn, tôi thật tình không muốn xác định lại thái độ của Đồng đối với một đời sống nhiều phiền toái đến như thế cho Chấn nghe, tôi sợ anh ta có thể sẽ thất vọng. Cơn mưa bên ngoài vẫn chưa có một dấu hiệu nào chứng tỏ sắp chấm dứt. Buổi tối trong khu cư xá im lìm, gió mang hơi nước đến lạnh, tôi đốt thuốc lá liên tiếp với Du, riêng Chấn thì không hút thuốc. Mưa nặng nề gõ liên hồi trên những tấm tôn hiên ngoài, tự nhiên tôi nghĩ đến sự ấm cúng của một gia đình, dù cho đó là một gia đình nghèo khó. Tôi đã không có được một gia đình, tôi đã sống một tuổi thơ vô tình trôi qua với nhiều buồn thảm, tôi đã không hề có được một mái gia đình thực sự, mười tuổi tôi đã không ngừng ứa nước mắt sống một mình trong mái nhà cũ dột nát của bố mẹ tôi để lại, mái nhà với những chiếc bàn thờ bố tôi, mẹ tôi, chú tôi, những người anh của tôi. Khuôn mặt người mẹ đã mất hút trong ký ức, sau đó tôi đã lê la với những đứa nhỏ hàng xóm, về ở với một người chú đông con được vài năm, trôi giạt lên tỉnh lỵ, cơ cực và buồn thảm lớn lên như một đứa nhỏ đi hoang. Lúc thơ ấu tôi không có ý thức gì về gia đình, lúc mới lớn lên tôi đã không còn gia đình nữa để mà yêu dấu, nhiều lúc tôi thấy cần có một người cha, một người mẹ, một vài anh chị em, nhưng những điều đó tôi biết không bao giờ còn tìm thấy nữa. Bây giờ ngồi trong mái gia đình của người bạn cũ, dù Đồng không còn nữa, hình như đã nhiều lần tôi muốn đây là gia đình của mình, bố mẹ Đồng là bố mẹ tôi, chị Nhân, Du, Nhã, Chấn, Hằng là anh chị em của tôi, điều đó chắc chắn sẽ có thể dựng lại cho tôi một thứ hạnh phúc, vốn dĩ không tìm thấy suốt bao nhiêu năm qua trong đời mình.

Một cách quá bất ngờ, Chấn hỏi tôi:

- Theo anh thấy thì anh Đồng nghĩ sao về cái mà người ta gọi là phản chiến hiện nay ở các thành phố?

Tôi gượng cười. Tôi biết trong thời gian Đồng sống gần gia đình, Chấn là người được Đồng hướng dẫn kỹ nhất trong việc tạo cho Chấn một thái độ của một người trẻ tuổi trước những vấn đề thời cuộc. Tôi khó khăn trả lời Chấn, và tôi cũng biết rõ rằng những điều mình nói không hẳn là những ý nghĩ thiết tha nhất của Đồng:

- Trong thời gian sau này, Đồng không thường băn khoăn về những vấn đề thời cuộc như trước nữa. Tôi không nghĩ rằng Đồng thay đổi thái độ, tôi nghĩ Đồng thấy mình mệt mỏi. Cuộc sống quân ngũ trói buộc chúng tôi vào những định kiến cứng nhắc, vây bủa chúng tôi và cắt xén những ý nghĩ trung thực nhất của chúng tôi. Điều đó làm cho Đồng gần như buông xuôi, tôi biết Đồng chờ đợi một dịp thuận tiện hơn, chẳng hạn một biến cố lớn, một cuộc vận động mạnh mẽ của những người bằng hữu cũ, hoặc cũng có thể Đồng chờ một ngày rời bỏ chiến trường. Điều sau này thì thật khó. Riêng vấn đề anh hỏi, theo tôi nghĩ thì Đồng không ưa những phong trào phản chiến, có lẽ vì nó mang nhiều tính chất thời thượng hơn là thực chất của nó.

- Còn anh, anh nghĩ sao?

Tôi gượng cười. Tôi nghĩ đến vai trò của mình đang đóng trước mặt Chấn. Có lẽ Chấn nhìn tôi như một người đi trước, một người cùng thế hệ của anh ta nhưng đi trước năm bảy năm, một người như thế, tôi nghĩ nếu không muốn bị phủ nhận vai trò đàn anh của mình một cách phũ phàng như chúng tôi đã từng phủ nhận những người thuộc tầng lớp cha chú chúng tôi bây giờ thì chỉ còn có một cách duy nhất để giữ vững niềm tin đã có cho dù rất nhỏ mọn, là phải thành thật và can đảm. Tôi nhớ rằng đã có lúc chúng tôi nguyền rủa một số người đi trước mình chỉ vì họ không dám làm điều đó. Tôi không muốn bị nguyền rủa, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào đóng vai một tên phản động được, tôi nói với Chấn:

- Chúng ta đang sống trong một tình thế nhiễu nhương, một hoàn cảnh quá phức tạp và nhiều phản trắc. Tôi nghĩ rằng những người thỏa hiệp được với cuộc sống như vậy ít nhiều đã vong thân. Nhưng im lặng trước một hoàn cảnh như thế thì có vẻ hèn nhát quá nếu không phải là im lặng để toa rập, bởi vậy tôi tưởng rằng tất cả mọi người có một ý thức phản kháng đều có lý và đáng khuyến khích. Tuy nhiên tôi cũng đồng ý với Đồng là sự kiện phản kháng của những người trẻ tuổi ở đây đã có ít nhiều tính chất thời trang.

Ngừng lại một lúc rồi tôi chậm rãi kể tiếp:

- Tiếc rằng lớp tuổi tôi bây giờ đa số đều bị đưa đẩy tới một chỗ đứng thật khó khăn. Người ta đã thành công khi làm cho chúng tôi không còn thì giờ để phản kháng nữa bằng cách đưa ra mặt trận. Thời giờ đối với chúng tôi, nếu có thì cũng chỉ đủ để giữ mình khỏi sa đọa, thế thôi. Các anh nữa, Chấn ạ, rồi một ngày không xa các anh cũng sẽ như chúng tôi. Anh thấy không, chiến tranh đang giữ chân lớp người sinh ra trong những năm ba mươi ở ngoài mặt trận, đã đẩy hết những người sinh ra trong những năm bốn mươi như chúng tôi ra mặt trận và đang thu hút dần dần những người sinh ra trong những năm năm mươi như các anh vào mặt trận. Điều bi thảm hơn nữa là chiến tranh cũng đang phá hoại một cách khủng khiếp những trẻ em của chúng ta, những đứa trẻ vừa được sinh ra trong những năm sáu mươi.

Tôi nghe Chấn thở dài trước mặt mình. Tôi cúi xuống nhấp một chút cà phê mà Nhã vừa mang ra. Du vẫn im lặng hút thuốc. Tôi biết trong số anh em của Đồng, Du là người ít nói nhất. Khuôn mặt Du xương xương rất giống Đồng, nhất là dáng người nhỏ và thấp. Tôi biết anh cũng là một người mệt mỏi, hơn nữa, bởi những ngày tháng chờ đợi trong thành phố đã là những ngày mệt mỏi, đơn vị anh lại là một đơn vị lưu động, thời gian chờ đợi trong một thành phố chỉ là thời gian tạm bợ cũng như cuộc sống quân ngũ đã là một cuộc sống tạm bợ, bi đát hơn nữa chúng ta phải sống cái đời sống tạm bợ đó không biết cho đến bao giờ.

Nhã đến ngồi trên chiếc ghế còn lại với chúng tôi. Buổi tối có những người hàng xóm đến nói chuyện với ông bà cụ trong phòng trong, chị Nhân cũng ở đó. Hằng ngồi học bài nơi chiếc bàn kê gần cửa sổ. Nước mưa chảy rào rào qua một khe rãnh nhỏ đằng bức tường gạch cũ kỹ ngăn cách khu cư xá và con đường ngập bùn phía ngoài. Tách cà phê mà Nhã mang đến làm tôi tỉnh táo và ấm áp hơn. Hình như tháng mười ở thành phố này mang nhiều vẻ tàn tạ trên các khuôn mặt quen biết của tôi. Chấn nói:

- Nhiều lúc tôi cũng thấy rằng sống trong thành phố này thật khó anh ạ. Hình như chỉ có hai cách thế để chọn lựa: hoặc là làm một thứ bung xung với những tổ chức, những phong trào, hoặc là hèn yếu đứng ngoài mọi thứ tranh chấp. Cách thứ hai tôi không đồng ý được, còn cách thứ nhất thì tôi thấy mình không ngừng bị lợi dụng.

Một người bạn của Du đội mưa đến. Du sửa soạn ra đi với người bạn đó. Còn lại Chấn và Nhã, tôi ngồi hút thuốc, nói với Chấn về một vấn đề khác rồi sau đó Chấn cũng đứng dậy đi lo việc riêng. Tôi nhấp hết chỗ cà phê còn lại trong tách, mơ hồ nghe tiếng động của mưa vẫn còn gõ trên mái tôn, hình như trong tiếng động đó nhẹ nhàng hơn trước đây. Tôi nghĩ là cơn mưa sắp dứt.

Nhã nói:

- Trong nhà anh Đồng được bọn em mến thương hơn cả. Ngày trước em không ưa anh ấy cho lắm, hồi đó tánh tình anh ấy có vẻ xa cách và quá im lặng, giống như anh Du bây giờ. Sau này, nhất là lúc đã vào lính, anh Đồng mới tỏ ra lo lắng cho gia đình và bọn em nhiều hơn, có lúc anh biết không, đọc thư anh ấy viết riêng cho em, em thấy muốn khóc. Tiếc rằng tình thương yêu dó không còn nữa. Nếu biết trước anh ấy bỏ đi sớm như thế, hồi Tết vừa rồi em đã không ra thăm.

Tôi không nói gì cả. Nhã có vẻ xúc động mạnh mẽ, đó là điều tôi vẫn thường bắt gặp mỗi lần nhắc tới Đồng. Chị Nhân cũng thế. Tôi nhớ tới lúc Nhã ra miền Trung thăm Đồng, đó là những ngày Tết trong cái quận lỵ đìu hiu kia. Đồng đón Nhã vào buổi chiều cuối năm ở sân phi trường trong thị trấn nhỏ, đưa Nhã về quận lỵ rồi chúng tôi về đồn quân mà Đồng đang đóng. Đó là một đồn quân nhỏ, đủ cho một đại đội nằm giữa một vùng xóm làng nghèo khó, những năm trước, các trận đánh lớn nhỏ đã không ngừng diễn ra, làng xóm đã tiêu điều đi quá nhiều, sau này đơn vị Đồng được đưa về để yểm trợ cho các lực lượng địa phương giữ an ninh và xây dựng lại bộ mặt của nó. Sẩm tối ngày cuối năm trời mưa bay bay và gió thật lạnh, chúng tôi ngồi với nhau trong một căn hầm rộng rãi, bữa tiệc hèn mọn quả thật đã là một niềm vui lớn lao của chúng tôi lúc đó. Nhã ngỡ ngàng trước những sinh hoạt ồn ào của một đồn quân lẻ loi của những ngày hưu chiến bắt đầu. Chai rượu mạnh Đồng mang từ thị trấn về đã làm nhiều người say, những khuôn mặt ngật ngưỡng dưới ánh đèn tù mù của cây đèn cầy hai bên có lẽ đã làm Nhã ngao ngán. Đồng khề khà nắm ly rượu trong tay nói với Nhã rằng cái không khí náo động đó chỉ xảy ra vì đây là những ngày hưu chiến và cũng vì sự có mặt của Nhã một phần. Tôi biết Đồng muốn trấn an đứa em gái đang còn nhiều xa lạ với cuộc sống ồn ào xô bồ, có phần nào bừa bãi ở đó được sự nhạy cảm của một người con gái nhìn thấy, nhưng tôi cũng biết sự thực không phải như Đồng nói. Quãng thời gian sau này, Đồng đã liên miên đắm mình trong những cơn say khướt mù, tôi nghĩ đó là hậu quả của một thứ tuổi trẻ thấy mình bị bao vây quá kỹ và mệt mỏi quá sớm. Tuy nhiên tôi lúc đó cũng đã mong rằng Nhã tin điều Đồng nói. Bữa tiệc dự định kéo dài đến quá giờ giao thừa, nhưng đã phải chấm dứt quá sớm bởi một người say và sự nóng tính của Đồng. Tôi, Đồng và Nhã ngồi lại trong căn hầm sau khi mọi người bỏ ra về những căn hầm hay những chiếc lô cốt khác. Sự yên tĩnh buồn bã kéo dài, tôi biết Nhã thất vọng vì sự hiện diện của mình bên cạnh người anh trong những ngày vui, những ngày mà lý ra, tôi, Đồng cũng như bao nhiêu người khác phải có mặt bên cạnh người thân yêu, bên cạnh gia đình, một bếp lửa hồng ấm cúng, anh em trong sự gần gũi chân thật nhất của mọi người. Ngồi một lúc, Đồng bỏ ra ngoài, tôi nói với Nhã có lẽ Đồng ra gặp lại những người có mặt trong bữa tiệc. Một mình Nhã với tôi, nàng nói đúng như điều tôi đã nghĩ, quả thật cái không khí chung quanh đã làm nàng sợ hãi. Tôi bảo Nhã đừng băn khoăn về việc đó nữa, thực ra Đồng đã cố giữ kín việc Nhã ra thăm cho đến sáng nay, trước khi đi đón, hy vọng điều đó sẽ mang lại cho mọi người một sự bất ngờ, và quả thật sự bất ngờ đã xảy ra, khi người ta cô độc từ lâu, với một ít rượu và sự có mặt bất ngờ của Nhã, người ta đã ngao ngán nhìn lại mình, buồn bã mà nốc những ly rượu mạnh một cách hăng hái, bạo dạn nói những điều mình vừa nhớ ra, làm huyên náo cái đời sống thầm lặng của người ta một chút và nghĩ rằng như vậy là có lý. Đó, cơn say đó, tôi nói với nàng như vậy trong lúc nàng thở dài ngồi yên trên mặt ghế thấp. Tôi hút thuốc lá, nghe ngóng tiếng ồn ào vẫn còn ở phía ngoài, tôi chắc chắn rằng sự náo loạn của người say là có lý, cuộc sống giữa những sinh hoạt nặng nề lê lết từ ngày này qua ngày khác trong bao nhiêu năm tháng qua, khoảng cách từ đó tới hạnh phúc hình như vô tận, niềm vui chỉ là những cách tìm quên tạm bợ, anh ta hẳn phải có lý khi vung tay ném ly rượu mình vừa uống xong xuống đất và chửi thề. Nhưng Đồng thì lại không muốn bộ mặt thật thô bỉ được dàn trải cho đứa em gái nhìn thấy một cách ngỡ ngàng. Buổi tối đó là lần đầu tiên Nhã đứng bên ngoài thành phố từ ngày gia đình bỏ miền Bắc vào Sài Gòn, hẳn nhiên lúc đó Nhã còn quá nhỏ để sau này nhớ đến cái quê nhà thực sự của mình ở ngoài kia ra sao, nhưng đó là lần đầu tiên trong đời Nhã đứng nhìn bóng tối vây bủa một thế giới nhỏ bé màu xám, ở đây Nhã không nhìn thấy được nữa những con đường muôn màu, cuộc đời không có sự rực rỡ của đêm phố thị, và Nhã muốn khóc, thật lặng lẽ. Tôi buồn bã nhìn đồng hồ và mong Đồng trở lại.

Trong lúc chờ đợi, tôi nói với Nhã sắp đến giao thừa rồi đó, Nhã hỏi tôi các anh sẽ làm gì. Tôi cười, nói sẽ không làm gì lúc đó hết, tôi hỏi thế Nhã nghĩ chúng tôi sẽ có một buổi tối nhộn nhịp và hạnh phúc lắm sao. Im lặng một lúc, tôi cho Nhã biết thêm rằng ngoài xóm làng không ai có quyền đốt pháo, họ đã đi ngủ đâu từ hồi tám giờ tối. Sự im lặng ở ngoài đó thật dễ sợ đối với nàng, tôi nghĩ như thế. Nhã có vẻ ngạc nhiên, nàng đã ngạc nhiên không biết bao nhiêu lần từ buổi chiều mới đến đây và tôi biết nàng còn ngạc nhiên nhiều nữa. Đồng không trở lại như tôi mong đợi, Nhã ngồi thở dài, có vẻ mệt nhọc. Tôi tiếp tục nói chuyện và lơ đãng chờ đợi. Lâu sau, tôi nghe tiếng súng cối bắn đi, tôi rủ Nhã ra cửa hầm đứng nhìn ra ngoài trời tối. Những quả đạn được bắn đi liên tiếp, tôi nói với Nhã cho nàng yên lòng là họ bắn hỏa châu. Đồn quân được soi sáng rực, những trái sáng trôi chênh chếch trên cao. Nhã đứng gần bên tôi, những sợi tóc bay trong gió lộng quất khẽ vào mặt tôi, mùi hương tóc chợt làm tôi ngây ngất. Dáng Đồng đứng ở xa, bên cạnh những người khác. Những trái sáng tắt dần, đồn quân nhập nhòa dưới một thứ ánh sáng vàng bệch, bấp bênh, rồi tắt ngấm. Rải rác trong sân đồn có những ánh đèn yếu ớt, một vài người di chuyển qua những giao thông hào. Một trái sáng được đốt bùng lên trên mặt đất. Bọn lính tụ lại đó đông hơn, những trái sáng được đốt liên tiếp nhau, và cả bọn do Đồng dẫn đầu, bắt đầu nhảy múa, vỗ tay ca hát. Ở một góc trời xa tôi còn nhìn thấy những trái sáng treo trên cao trong trời đen thẫm, và ở nhiều phía khác, hỏa châu cũng được thắp lên trên vòm trời các đồn quân bạn. Cuộc vui của bọn Đồng ở đây và cuộc vui của họ ở những nơi đó, tôi nói với Nhã, là giao thừa của chúng tôi đó, chỉ có thế, lúc nào những trái sáng kia tắt đi, niềm vui cũng chấm dứt. Nhã tiếp tục đứng nhìn, không nói gì nữa.

Sáng hôm sau, ngay lúc thức dậy, Đồng mang những chiếc pháo mà Nhã mang từ Sài Gòn ra đốt. Những tiếng nổ nghe lẻ loi và buồn thảm hơn tôi tưởng. Tôi rủ Nhã ra cổng đồn quan đứng nhìn buổi sáng đầu năm trong khi chờ bữa ăn sáng. Nắng dịu dàng chiếu xuyên qua lớp sương muối thật mỏng, gió đêm đã ngưng từ bao giờ tôi không hay. Chúng tôi đứng nhìn cánh đồng xanh mạ trước mặt, con đường làng chạy qua những khu vườn xanh lá, len lỏi dưới những cụm tre lả ngọn, đó là lần đầu tiên từ nhiều năm qua tôi nhìn thấy phảng phất quanh đó chút hương xuân trên những tà áo của các thôn nữ đi lễ chùa sớm đầu năm. Tôi nói với Nhã điều đó, và thực tình tôi nghĩ đó là niềm vui. Nhã im lặng nhìn con đường làng càng lúc càng đông người, những chiếc xe đạp cũ kỹ và những chiếc áo mới, không phải là được cắt may trong những ngày vừa qua mà là mới được mặc lại để đi ra đường vào một ngày đầu năm sau một thời gian tối tăm kéo dài đã quá lâu. Lúc quay trở vào đồn, tôi nói với Nhã rằng chính vì còn hy vọng có một ngày như thế cho nên chúng tôi mới chịu đựng cầm súng chứ không phải bởi những dòng khẩu hiệu cũ rích trên các bức tường thành phố. Tôi cũng đã nói rằng hơn ai hết, Đồng tin tưởng một ngày thanh bình sẽ đến, mà theo anh thì không còn xa xôi nữa. Bây giờ thì Đồng đã chết ở chính nơi cái quận điêu tàn đó với niềm tin tưởng của anh.

Nhã nói:

- Sau ngày anh Đồng chết, thỉnh thoảng em có nhận được một vài lá thư thăm hỏi của các đồng đội cũ của anh ấy. Họ tỏ ra có cảm tình với anh ấy làm em thấy được an ủi phần nào. Hồi em ra thăm, anh biết, em chán nản ghê lắm. Đến hôm trở về Sài Gòn, anh ấy đưa em vào phi trường, em muốn khóc vì thấy mình vô ích quá trong những ngày đó. Trên máy bay em đã khóc thật. Không ngờ đó là lần sau cùng anh em gặp nhau và chia tay nhau.

Tôi hỏi:

- Những người tình cũ của anh ấy giờ ra sao Nhã biết không?

- Một người – hình như anh cũng đã gặp – có đến đây một lần sau khi anh ấy chết. Lần thứ hai cô ta đến mang theo cả anh nhân tình mới.

- Còn những người khác?

- Không ai đến cả. Với lại em chưa gặp họ lần nào.

Ngừng lại một lúc, Nhã đứng dậy nói:

- Anh ấy còn để lại một ít ảnh cũ. Để em mang ra cho anh xem.

Trong tập ảnh, tôi tìm thấy những tấm ảnh mới nhất Đồng chụp cách đây gần một năm ở nhiều đồn quân khác nhau, những tấm ảnh Đồng đứng bên pháo đài, đứng trên cánh đồng lúa chín với những nông phu và một vài đồng đội, một vài tấm chụp lại quang cảnh một bữa tiệc, Đồng say tít mù cười nghiêng ngửa, chiếc nón rừng chụp xuống thật sâu trên khuôn mặt anh, ly rượu trên tay đưa cao, buổi chiều nào đó trên con đường làng dẫn về quận lỵ, Đồng ngồi trên xe đạp, khẩu súng trễ xuống một bên hông, những con đường đó, những pháo đài trên các đồn quân đó, những lần say lướt khướt đó của Đồng thật quen thuộc với tôi. Một lần Đồng dắt tôi về quận lỵ uống rượu, tôi say mù ngất ngưởng té ngã trên đường về căn cứ chính lúc gần nửa đêm. Đồng dìu tôi vào cổng, bọn lính gác không cho chúng tôi vào, chửi bới om sòm. Đồng dắt tôi đi ngược trở ra quận lỵ cách đó hơn một cây số, khu phố say ngủ lúc nửa đêm nhảy múa không ngừng trong mắt tôi. Đồng đưa tôi đến trước một căn nhà tôn, gõ cửa rồi dẫn tôi vào trong một căn phòng. Tôi nằm dài trên chiếc giường rộng, ngủ vùi ngay sau đó. Khuya cựa mình thức dậy, khát nước, cổ khô và đắng chát, tôi mò mẫm trong ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu vặn nhỏ đặt trên mặt bàn gần đó; tôi tưởng Đồng nằm bên cạnh mình nhưng không phải; tôi tìm nước uống, đốt thuốc hút một mình lúc bốn giờ sáng. Đầu váng vất nhưng cũng đã bắt đầu tỉnh táo, tôi nhìn người đàn bà nằm với mình, tôi mong cho mau sáng và không thể nào tiếp tục ngủ được nữa. Tôi buồn bã tưởng mình có thể khóc được. Một lần khác tôi cũng say khướt với Đồng, tôi kéo Đồng đi tìm gái trong khu phố tối tăm đó và tôi ngã chúi vào một căn nhà đang cháy. Đêm đó người ta chở tôi về bệnh xá tiểu đoàn, tôi nghe tiếng Đồng bật khóc trong một lần nào đó cựa mình giữa giấc ngủ mê man.

Tôi cố tìm xem có tấm hình nào Đồng chụp chung với bà K. không, nhưng không có. Bà K., vợ lão thiếu tá tiểu đoàn trưởng của Đồng. Hình như sau này Nhã và tất cả mọi người trong gia đình đều biết tên người đàn bà đó, đều biết những gì xảy ra giữa Đồng và bà ta. Thiết cũng biết đến điều đó. Thiết đã kể cho tôi nghe về một lần họ hẹn nhau khi cả hai về Sài Gòn, người đàn bà còn trẻ đó và Đồng. Đồng đã chết và lão thiếu tá tiểu đoàn trưởng cũng đã chết sau Đồng khoảng bốn năm tháng. Quả thật Đồng có nhiều tình nhân hơn tôi tưởng, nhất là thời gian sau này, khoảng một năm trước ngày Đồng chết. Những người tình của Đồng, tôi nghĩ họ cũng không khác gì hơn là những ly rượu mà Đồng đã khề khà uống ở nơi này nơi khác. Thật tình cờ, tôi tìm thấy một tấm ảnh Đồng chụp hồi còn niên thiếu, tấm ảnh đã được phủ một màu vàng nhạt, trong đó Đồng gò lưng đạp chiếc xe đạp đi qua một đường phố nào trong thành phố này, chiếc nón trên đầu, chiếc cặp da trên ghi-đông xe, Đồng mặc áo trắng quần xanh, chân đi dép, tôi nghĩ có lẽ tấm ảnh đó đã hơn mười năm. Thiết cũng đã kể cho tôi nghe về thời kỳ này của họ. Đồng là người bạn thân thiết nhất của Thiết từ cái thời họ còn đạp xe đến trường Chu Văn An hằng ngày. Hình như tuổi niên thiếu của mỗi người là lứa tuổi có nhiều hình ảnh đẹp nhất trong suốt đời mình, Đồng trong bức ảnh cũ này cũng làm tôi tin điều đó là đúng. Kiên nhẫn trên chiếc xe đạp lăn từng vòng bánh chậm chạp qua những con đường trong đô thị mới, cái quá khứ là một thời thơ ấu ở miền Bắc rét mướt, cái quá khứ đó không hề còn là một niềm mơ tưởng trở về gia đình như những ngày mới ra đi, cái quá khứ đó chết cứng cùng lúc với những nỗi bàng hoàng gây nhiều xúc động cho tuổi mới lớn của anh, trước một thứ thời thế càng lúc càng bệnh hoạn mà anh vừa mới bắt đầu nhìn thấy. Đồng đã mơ ước gì hằng ngày trên chiếc xe đạp cũ kỹ đó, có phải đâu là súng đạn và nỗi chết. Có phải đâu là những cơn say mù trên các con đường làng quê miền Trung. Mười năm trước anh đạp xe qua phố, đến trường, ngồi vào lớp học, bàn ghế và những cuốn sách buồn bã đó, quá khứ là một miền sương khói trong nỗi nhớ đứt quãng và tương lai là một đời sống hứa hẹn nhiều xáo động, những phấn đấu vật vã sau những ngày tạm bợ sống im lìm ở một tỉnh lỵ vùng đồng bằng miền Nam. Mười năm sau Đồng chết đi vào một đêm tối tăm trong một thung lũng nhỏ miền Trung. Những cánh diều tuổi thơ đã chết từ lâu ở ngoài kia bỗng dưng bay lên rợp trời rồi mất hút. Chiếc xe đạp đã phế thải, sách vở mọt cắn trên sàn gác tối, những mơ ước chưa nên hình dáng thực, và những phấn đấu say sưa kia đã kết bè theo những đám lục bình trôi ra biển, duy chỉ còn lại một nụ cười, nụ cười im sững hết còn mang một ý nghĩa nào nữa trên vách, sau tấm vải điều phủ xuống, sau khói hương nghi ngút.

Tôi cầm tấm hình đó trên tay, ngẩng lên nhìn vào khuôn mặt nhỏ bé của Nhã, mưa đã dứt ngoài trời, gió xao động trên ngọn lá cao, trong đôi con mắt mệt lả của mình tôi thấy Nhã với những sợi tóc buồn bã nằm yên trên vai, tôi thấy rõ là nàng đang khóc.

Pleiku, 11/1970

(Tạp chí Trình Bầy số 17/1971)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét