Thứ Năm, 20 tháng 9, 2007

Cẩn trọng đối với tiếng Việt

Mới đây, tôi đọc được một bài báo – có lẽ là của một cán bộ giảng dạy môn ngữ văn – phàn nàn về sự yếu kém đáng kinh ngạc của thí sinh dự thi tuyển sinh vào các trường đại học – cao đẳng năm học 2002-2003. Qua một số đoạn trích dẫn “tiêu biểu”, điểm chung nhất dễ nhận thấy là ở trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông, rất nhiều cô cậu tú của chúng ta sử dụng ngữ văn tiếng Việt hết sức phập phù, những ý tưởng khái niệm được diễn đạt rất mơ hồ, rối rắm, chứng tỏ việc tiếp thu những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ, văn hóa, xã hội trong nhà trường phổ thông rất đáng suy nghĩ.

Chúng ta đều biết khác với tiếng nói tự nhiên xuất phát từ nhu cầu mang tính bản năng, ngôn ngữ viết là một hình thái ý thức của con người. Đến lượt ngôn ngữ nói cũng không ngừng được hoàn thiện, nâng cao ngang tầm vóc văn hóa của một cộng đồng. Trước khi nghĩ đến việc viết cho hay, người ta cần phải học cách viết cho đúng: dùng đúng từ ngữ, viết (nói) đúng câu, diễn đạt đúng ý tưởng. Muốn thế phải học. Hiện tượng số đông học sinh học kém môn ngữ văn, phần lớn thí sinh đại học làm bài thi môn văn đạt điểm rất kém có phần xuất phát từ nhận thức sai lầm cho rằng tiếng Việt thì ai cũng nói được từ thuở lọt lòng mẹ, cần gì phải học! Hãy thử liếc qua góc học tập của học sinh phổ thông mà xem: hầu như các em có thể mua đầy đủ sách văn phạm, từ điển tra cứu để phục vụ cho việc học ngoại ngữ, nhưng với ngôn ngữ mẹ đẻ, rất hiếm học sinh trang bị các loại sách công cụ (từ điển tiếng Việt, từ điển Hán Việt, từ điển thành ngữ tục ngữ, các loại sách ngữ pháp tiếng Việt…). Thế cho nên công phu giảng dạy môn ngữ văn tiếng Việt trong nhà trường phổ thông dù có hoàn hảo cũng chả bù đắp nổi cái sự sử dụng tiếng Việt theo quán tính, thậm chí theo bản năng khiến cho kết quả học tập không đạt yêu cầu. Mặt khác, nội dung dạy và học môn văn trong nhà trường phổ thông có phần nghiêng về phân tích bình luận văn học, học sinh học tốt môn văn biến thành nhà lý luận phê bình văn học tập sự, trong khi lẽ ra yêu cầu đối với trình độ này là kỹ năng sử dụng thuần thục tiếng Việt và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn học. Bằng chứng là đáp án và thang điểm môn văn ở các kỳ thi đều lệch về chấm ý mà coi nhẹ kỹ năng diễn đạt, bài văn của thí sinh đáp ứng được bao nhiêu ý chính phụ về nội dung thì được bao nhiêu điểm trong khi lẽ ra năng lực sử dụng tiếng Việt diễn đạt các ý tưởng kia mới là mục tiêu nhiệm vụ của bộ môn văn.

Hậu quả là tiếng Việt được sử dụng với đủ dạng kiểu sai sót ở khắp mọi nơi – trong các văn bản giao dịch, trong công văn giấy tờ hành chính, trên các phương tiện thông tin đại chúng… Sự sai sót trong cách sử dụng tiếng Việt dần trở nên quen mắt, trở nên điều bình thường, và rồi đến lúc người ta không biết dùng như thế là sai lầm, thế hệ sau hồn nhiên lặp lại trọn vẹn những sai lầm của người đi trước và tiếp tục mắc những sai lầm mới. Thử nhặt ra một số hạt sạn ngẫu nhiên bắt gặp trên các trang báo đọc được gần đây. Không ít trường hợp thật khó tin: ngài đại sứ quán, USD Hồng Kông, 1,5 giờ đồng hồ, 1,5 năm…, “cá sấu là loài cá được mệnh danh là vô cùng nguy hiểm”, “việc nhạc sĩ B.T.D được mời vào ban giám khảo là một danh dự lớn cho guitar Việt Nam”… Từ Hán Việt hiện đang được sử dụng ngày càng tùy tiện. Thời kinh tế thị trường, việc trao thưởng có vẻ đang bị lạm dụng triệt để. Ban tổ chức một chương trình biểu diễn nọ thông báo khán giả chỉ cần vào xem cũng đã được phần thưởng. Một anh chàng ca sĩ nọ trao giải thưởng cho đội tuyển bóng đá quốc gia nếu giành chiến thắng ở một giải đấu khu vực. Đúng ra, chỉ khi ai đó tổ chức cuộc thi mới có quyền trao giải thưởng, những trường hợp xét thưởng khác nên gọi là tặng thưởng, còn như khán giả đến xem một chương trình biểu diễn thì chỉ có thể nhận quà tặng mà thôi…

Có lần tôi đọc được trên báo một mẩu tin ngắn như sau: “Ca sĩ A đã vâng lệnh song thân kết duyên cùng chị V vào ngày N tại khách sạn R". Thông tin ngắn trên đây có ít nhất hai chỗ sai quan trọng: thứ nhất, vào ngày N tại khách sạn R diễn ra tiệc cưới của ca sĩ A, chứ không diễn ra việc ca sĩ A vâng lệnh song thân kết duyên cùng chị V; thứ hai, nếu như ca sĩ A còn phải vâng lệnh song thân để kết duyên cùng chị V vào thời điểm đầu thế kỷ 21 thì thông tin trên hàm ý nhấn mạnh rằng cuộc hôn nhân này không có tình yêu mà do cha mẹ áp đặt, một việc làm trái luật. Xin dẫn thêm một đoạn viết khác cho thấy năng lực sử dụng tiếng Việt yếu kém đã chống lại ý tưởng của người viết như thế nào: “Ngày Quốc tế lao động 1.5 dần trở thành tâm điểm cho các cuộc phản đối trong những năm gần đây. Bên cạnh các hoạt động chào mừng ngày 1.5 năm nay ở một số nước, các cuộc biểu tình phản đối cũng nổ ra ở nhiều nơi với các lý do khác nhau…” (!). Còn có thể trích dẫn vô vàn những đoạn văn, câu chữ như vậy trên báo chí hôm nay. Ở đây cần phải nhắc tới vai trò của biên tập viên ở các tòa soạn nhưng có cảm giác như người ta chỉ quan tâm nhiều đến nội dung tư tưởng và tính chính xác của các sự kiện được phản ảnh trên báo chí, còn ngôn ngữ chưa được coi trọng đúng mức.

Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là chủ trương lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đã phát động từ ngót nửa thế kỷ nay. Bắt đầu từ bậc học phổ thông nhưng không phải chỉ học sinh phổ thông hay sinh viên các ngành khoa học nhân văn, liệu có bao nhiêu cán bộ viên chức ở bất kỳ cấp nào, ngành nào có chức trách soạn thảo văn bản, những nhà báo nhà văn và tất cả những ai làm các công việc có liên quan đến ngôn ngữ, chữ viết – họ đã có sẵn những cuốn từ điển và sách ngữ pháp tiếng Việt để tra cứu khi cần?

Hãy trân trọng và cẩn trọng đối với tiếng Việt!

THẾ VŨ

(Thanh Niên 307/2002)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét