Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2007

Ngoài sân bay

Truyện ngắn của THẾ VŨ

Đó là những ngày cuối mùa hè, trong một thị trấn nhỏ miền cao nguyên, thị trấn cuối cùng trước khi đổ lên vùng chiến trường biên giới.

Vĩnh theo chân bọn lính bước vào một căn phòng rộng rãi đã bỏ hoang nhiều năm, nền xi măng đầy những rác mục, đất cát, những ổ kiến đã lâu ngày, những tấm carton cứng trước kia dùng làm trần nhà giờ mục nát vỡ xuống, trần nhà đầy những lỗ hổng lớn và những vết hoen bẩn bởi nước mưa rỉ đọng thẫm màu, mái ngói nhiều chỗ vỡ trống rỗng từng mảng lớn. Anh tìm một chỗ để đặt cái xắc đeo lưng xuống, tựa súng vào bức tường vôi vàng cáu bẩn nham nhở, ném dây nịt đạn vá nón sắt xuống nền xi măng rồi tìm chỗ căng võng. Doanh trại là một trung tâm huấn luyện địa phương cũ, sáu căn nhà xây cất thẳng hàng với nhau sau một dãy nhà khác có lẽ là văn phòng; tất cả đều hướng mặt tiền về phía sân bay, một cột cờ không cao lắm đứng chênh vênh trong khoảng sân rộng, cổng trại xa hơn nữa về phía con đường đất dẫn ra khu phố, tấm biển gỉ sét trên nóc cổng có hàng chữ kẻ thật to nét nhưng đã quá mờ không thể đọc được nữa.

Đoàn xe nhà binh vừa rời khỏi sân trại đang tung mù bụi trên con đường dẫn về sân bay. Thị trấn và phi đạo như đang bốc hơi dưới cơn nắng lớn. Vĩnh loay hoay mãi trong căn phòng trống trơn và bề bộn những lính, tự nhủ mùa hè đang qua, mùa hè trên vùng cao nguyên này cũng là mùa mưa lũ, như vậy mùa mưa cũng sắp chấm dứt. Tháng tám, con đường liên tỉnh dẫn ra ngã ba biên giới những vết máu đã khô, quốc lộ 14 dẫn lên vùng mật khu Dakpek, Daksut, dẫn về Ba Tơ, Ba Lòng vẫn còn đóng kín, những mùa mưa đã qua trong kinh hoàng và những mùa mưa sẽ tới trong tưởng tượng kinh khiếp. Dù sao đơn vị cũng đang được triệt thoái dần về phía sau, Vĩnh nghĩ đến những ngày sắp tới trong hậu cứ, những tháng sắp tới ở những mặt trận khác, bất giác anh thấy mình chìm dần trong những cánh rừng mịt mù, lạnh lẽo u uất. Vĩnh lấy nước còn lại trong bình đông vã lên mặt, lên cổ rồi kéo vạt áo lau khô, khuôn mặt hình như nhẹ bớt đi, lớp bụi đường dày cứng trên da như đã hết, cảm giác thoải mái ùa đến, anh cởi giày trận, ở trần nằm đu đưa trên võng và thử nhắm mắt.

Tiểu đoàn vừa rời mặt trận ngã ba biên giới kéo về ứng chiến cho một cuộc hành quân vừa khai diễn trong một khu rừng mịt mùng nào đó bên ngoài thị trấn. Khu phố nhỏ thu mình bên một dòng sông, các con phố ngắn và hẹp, phố thị bị bao vây bởi những căn cứ quân sự, xa hơn bên ngoài là núi rừng trùng điệp. Mọi sinh hoạt lừ đừ trong một dáng vẻ quạnh hiu giữa thung lũng khi họ mới đến, con đường liên tỉnh xuôi về nam bắc, những đoàn xe tiếp viện cho những mặt trận lớn nhỏ không ngừng bốc mù bụi đường suốt ngày nắng ráo. Khu phi đạo đằng trước trại quân bốc hơi ngột ngạt trong những buổi trưa nắng lớn, sau những chuyến bay lên xuống, những loạt súng nổ lẻ loi hoang tịch ngoài bìa thị trấn, khung cảnh im vắng của một buổi trưa gió hiu hắt lướt qua, đoàn quân mệt mỏi vừa trở về sau hai tháng dắt díu nhau lê lết qua những ngọn núi biên giới cao ngất mù hay những khu rừng trùng điệp còn tanh mùi xác chết thối rữa bởi những trận mưa liên tu bất tận đổ xuống cùng nhịp độ khốc liệt của trận đánh kéo dài. Bây giờ thì mọi người cần nghỉ ngơi sau những ngày đó; nhiều người đã ngủ ngon trên võng đong đưa mắc chằng chịt trong căn phòng hoang, một vài người trải poncho ngay trên nền xi măng bẩn, có người ngồi viết thư với mẩu giấy kê trên đầu gối. Một vài nơi, bọn lính nghề đang tụ nhau lại với một bộ bài nhàu nát vừa lục tìm được trong ba lô. Buổi sáng đoàn xe nhà binh mười bánh đã đưa họ trở về từ khu sân bay xa nhất vùng biên giới, con đường với những cây cầu vừa mới được sửa lại theo nhu cầu chiến trường. Những mơ tưởng mong manh về những ngày nghỉ ngơi tại hậu cứ đơn vị. Đoàn xe di chuyển chậm chạp hơn sự nôn nóng của mỗi người, bọn họ không biết gì hơn là cứ ngồi ngóng trông về phương nam, hướng mà họ đang tới nhưng lại không biết là sẽ tới đâu. Thế rồi đoàn xe dừng lại một lúc ngoài bìa thị trấn, tất cả im lìm chịu đựng nắng lửa và bụi đường. Cuối cùng đoàn xe rẽ vào đây. Viên thiếu tá chỉ huy trưởng ra lệnh tất cả phải có mặt ngay tại vị trí đơn vị tạm trú cho đến khi có lệnh mới. Đơn vị hành quân bên ngoài đang chạm địch, tiểu đoàn rất có thể sẽ được trực thăng vận đi tiếp viện vào bất cứ lúc nào. Bọn lính rũ xuống thầm lặng, đưa tay áo cáu bẩn quệt lên khuôn mặt nhớp nháp mồ hôi và rúc vào những căn phòng hoang. Hơn hai tháng nay, bây giờ thì mọi việc đã thay đổi và bắt đầu lại: một trận đánh mới, một khung cảnh mới và phần thực phẩm hành quân mới đang sắp sửa phát ra. Chỉ có những người lính đã già trong một cuộc chiến tranh đã cũ.

Vĩnh ngủ được một giấc ngắn. Lúc thức dậy, Vĩnh nhìn thấy nắng bên ngoài đã dịu lại. Toàn thể thung lũng được phết lên một màu vàng nhạt, nắng chiếu những cây gòn cao khẳng khiu thành những chiếc bóng ngã dài trên sân. Những ngọn núi cao quanh thung lũng bắt đầu ngả màu tím nhạt, buổi chiều đã đến êm ả và bình dị hơn nỗi lo âu của những người lính vừa đến. Trận đánh đang diễn ra ở đâu đó ngoài kia chắc hẳn đã không quá gây cấn như họ tưởng lúc mới đặt chân tới. Vĩnh cùng với người lính trong tiểu đội làm cơm chiều. Trong sân trại, từng nhóm năm ba người tụ lại quanh một bếp lửa khói đục cất lên. Vĩnh lại nhớ tới những ngày tháng vừa qua. Đơn vị đã đến thị trấn này nhiều lần trước, Vĩnh còn nhớ đã ngủ lại một đêm trong phi trường mùa mưa năm ngoái, buổi sáng hôm sau đoàn xe đến mang họ ra biên giới nhập vào trận đánh đẫm máu kéo dài hai mươi ngày. Mùa mưa dần dần thành một ám ảnh khiếp đảm trong đầu óc mỗi người lính trong vùng cao nguyên. Bao nhiêu năm qua, bao nhiêu trận đánh tàn bạo vẫn chưa giết hết những người cầm súng, như vậy Vĩnh nghĩ, nếu không bỏ đi hoặc không chết sớm anh còn có thể sẽ trở lại thị trấn này nhiều lần nữa. Trong lá thư anh vừa viết cho vợ trước khi ngủ quên, Vĩnh chỉ mới nguệch ngoạc ghi được mấy chữ ngắn ngủi: “Ngân yêu dấu. Anh biết là mình còn sống khi đoàn xe đổ bọn anh xuống thị trấn này. Kon Tum”. Tờ giấy đã bay mất trong khi anh ngủ.

Bữa cơm chiều dọn ra ngoài sân trại. Dù gì thì đây cũng là một buổi chiều yên ổn nhất từ mấy tháng qua, mọi người có thể ăn không phải vội vã, không phải đặt súng có đạn sẵn trên nòng bên cạnh. Sau bữa ăn, đơn vị tập hợp lại trên sân. Viên thiếu tá chỉ huy trưởng chậm rãi nhấn mạnh từng vấn đề. Đơn vị vừa mượn được một chiếc xe của bộ chỉ huy tiền phương, chiếc xe sẽ đưa lính ra sông tắm giặt, sau đó trở về đưa lính ra phố. Ông cũng nhắc nhở tất cả phải giữ kỷ luật ngoài phố, một thứ kỷ luật đã gia giảm đến mức tối đa cho một đơn vị lưu động mới về từ mặt trận biên giới, và mọi người phải trở về trước mười một giờ đêm. Sĩ quan đại đội có phận sự báo cáo quân số tại hàng lên bộ chỉ huy sau giờ ấn định và đến mười giờ khuya, các vị đại đội trưởng lên bộ chỉ huy nhận lệnh và kế hoạch ngày hôm sau. Vấn đề cuối cùng mà ông nhắc đến đã làm cho mọi người trở lại trạng thái chán nản: sáng hôm sau, tất cả đơn vị cơm nước sẵn sàng trước sáu giờ ba mươi, tập hợp và chờ xe đến đón.

***

Mười hai chiếc xe mười bánh xếp hàng trước sân trại. Tiểu đoàn từ giã nơi họ vừa ngủ đỗ qua một đêm lúc mặt trời chưa nhô lên khỏi những đỉnh núi cao về hướng đông. Mỗi đại đội chen lấn nhau trên ba chiếc xe. Thật ra quân số của đơn vị không nhiều hơn để xin thêm. Đoàn xe chạy ra cổng, tung bụi mịt mù trong buổi sáng tinh sương trên con đường dẫn ra sân bay. Con phố nhỏ hầu như chưa bắt đầu sinh hoạt trở lại, nơi trại tuyển mộ có những người tân binh thức dậy sớm đứng bên rào chờ mua bánh mì, ngước nhìn đoàn xe thầm lặng chạy qua như nhìn vào một tương lai không sáng sủa. Sân bay sương đêm còn đọng trên những tấm ghi sắt gỉ sét, phi đạo ngắn ngủn trống trơn lạnh lẽo, cỏ mọc cao trong khu phi trường trông có cảm tưởng như thị trấn đang bỏ hoang. Trạm hàng không dân sự đóng cửa, những chiếc pháo đài phòng thủ phi trường lưa thưa một vài người lính thức dậy đi rửa mặt, đánh răng. Trạm hàng không quân sự nghe tiếng xe dừng lại bên ngoài mới bắt đầu thức giấc, một anh lính không quân ngái ngủ, hé cửa nhìn ra. Buổi mai bắt đầu sáng rỡ lúc mặt trời nhô lên trên đỉnh núi xa, sương đục dật dờ tan dần, một vài tiếng động cơ nổ từ ngoài phố vọng đến. Đoàn quân xuống xe, tập hợp thành từng toán tám người, ngồi la liệt trên một góc sân bay và bắt đầu chờ đợi.

Hình như lúc gần sáng thị trấn chìm trong một cơn mưa nhỏ và ngắn, những ngọn núi đằng hướng bắc thị trấn vẫn chìm trong màn sương dày. Tiểu đoàn cho biết trời mù nên máy bay sẽ đến chậm hơn dự định, do đó binh sĩ có thể tìm chỗ nghỉ quanh trạm hàng không quân sự. Đoàn xe đã trở về tiểu khu, nắng sớm chiếu những chiếc bóng dài xiên xiên trên mặt phi đạo. Vĩnh nằm gối đầu lên ba lô, tán gẫu với bọn lính trong tiểu đội của mình. Toán của Vĩnh trực đầu nên phải nằm ứng chiến sẵn sàng tại chỗ.

Dù sao thì họ cũng đã trải qua một đêm khá thích thú ngoài thị trấn. Buổi chiều sau khi tập hợp, Vĩnh theo xe ra sông. Cầu Dakbla gãy mất một nhịp giữa, thay thế vào đó người ta đã làm một chiếc cầu phao ở dưới thấp để không trở ngại cho việc tiếp tế cho tỉnh lỵ này cũng như cả một vùng chiến trường biên giới đằng phía tây bắc. Nước sông đục lờ vì những trận mưa triền miên trong núi rừng thăm thẳm suốt mấy tháng qua, dòng nước chảy ngược từ phương đông ra biên giới. Thị trấn nằm về một phía bờ sông, câu lạc bộ nằm trên đầu cầu đối diện với một dãy phố qua ngã tư rộng rãi, con phố thấp từ đó kéo dài về khu chợ, chạy ra vùng xóm đạo với những kiến trúc có vẻ lạ mắt hơn, nghĩa địa công giáo với những cây thập tự lô nhô trong một khu đất cao, khu rừng già ngày nào trở thành nơi cho những đôi tình nhân hẹn hò với mái lá cao trên đầu và thảm cỏ xanh mướt dưới chân. Thành đường trong một buổi chiều sẫm màu, tiếng hát của những thiếu nữ thanh thoát trong một bài thánh ca vang đến từ một góc sân nào đó của nhà nguyện. Đường trong xóm đạo lởm chởm những đá cuội, Vĩnh và mấy người bạn đi rong khắp khu xóm cho đến khi trời tối hẳn thì lạc vào một con đường vắng tanh, hai bên là cánh đồng lúa và trước mặt là một vũng tối đặc quánh. Họ quay trở lại khi một người trong bọn nhớ ra đó là con đường dẫn đến một buôn thượng xa xăm bên ngoài khu vực thị trấn. Họ quay trở lại phố chính, những ngọn đèn hai bên đường soi mờ mờ mặt sỏi, buổi tối gió từ lục địa thổi về nghe lạnh trên vai áo. Bọn Vĩnh châm thuốc lá, im lặng đi thênh thang trên con đường vắng hoe.

Phố buổi tối cũng khá đông người. Con phố chính mở cửa đến hơn mười giờ. Quanh chợ, những gánh quà vặt đặt sát bên nhau, những xe bánh mì, nước ngọt, những sạp báo và tạp hóa, những gánh bắp từ các rẫy xa đưa về, lửa than hồng và bắp tươi nướng tỏa ngát. Đủ mọi thứ sắc áo lính xuôi ngược: những biệt kích quân, những toán biên phòng, những đơn vị địa phương hoặc cơ động, tất cả hầu như đều mới trở về từ những cánh rừng xa, những tóc râu bơ phờ, những quần áo bẩn nhớp, những đôi giày trận sờn rách bạc màu, những khuôn mặt mệt mỏi và ê chề như khuôn mặt người đàn ông già ngồi khâu giày trong một góc phố. Sinh hoạt của thị trấn như tùy thuộc hoàn toàn vào mức độ dao động ở vùng biên giới, với những đoàn quân tình cờ ghé lại một đêm, với những thương binh vừa bắt đầu bình phục trong bệnh viện dã chiến lếch thếch băng qua những con đường cho đỡ nhớ. Những nửa đêm về sáng, thị trấn có thể thảng thốt lắng nghe tiếng chân loạng choạng bước đi của bọn lính say khướt mù dắt dìu nhau tìm lối trở về đơn vị. Tiếng la hét, tiếng khóc lóc thảm thiết điên dại của bọn người sống bằng súng đạn chiến trường và cái chết đè nặng trên cuộc đời lâu dần không làm thị trấn buồn tủi nữa, dòng sông nước đục lờ vẫn không ngừng chảy ngược về rừng như họ rồi sẽ được trở ra vùng biên giới, ở đó ngày tháng là bóng tối và ánh sáng, đời sống là sự kéo dài cái chết hẹn trước của chính mình và trái tim cơ hồ như đã không còn đập trong lồng ngực của họ nữa.

Bọn Vĩnh mua mỗi người một trái bắp nướng, vừa đi vừa gặm trên đường đến rạp hát duy nhất trong thị trấn. Trước cửa rạp đông lúc nhúc những người, nhân viên công lực đứng giữ an ninh từ trước cửa rạp đến ngoài lề đường, những màu áo chen lấn trong một cảnh tượng xô bồ hiếm có ở đây. Một đoàn cải lương mới vừa gánh gồng kéo đến trình diễn sau khi đã được chính quyền địa phương cam kết đủ sức bảo vệ an ninh. Bọn Vĩnh ngồi ngay bên lề đường trước rạp nhẩn nha vừa ăn bắp vừa nhìn lên những tấm quảng cáo vở diễn, những khuôn mặt đào kép, những trang phục sặc sỡ và sự náo nhiệt của đám khán giả hiếu kỳ đông đúc. Sau đó, Vĩnh kéo cả bọn trở lại phố chính, đi rong mấy vòng trước khi chui vào một quán cà phê.

Vẫn là những người lính trận, đôi khi còn có cả một ả tình nhân khép nép ngồi bên. Quán âm u dưới ánh đèn màu xanh nhức mắt, tiếng hát phát ra nghe the thé như từ một chiếc đĩa nhựa lạc thời: Về đâu hỡi người gái giang hồ đêm nay, đời như hoa tàn úa ai thèm mê say... Vĩnh im lặng buồn bã đốt thuốc lá liên tiếp trong suốt thời gian ngồi trong quán. Lời hát làm Vĩnh nghĩ đến chính mình nhiều hơn bọn gái điếm già lây lất sống khắp nơi trên thế gian. Năm mười năm nữa nếu còn sống trong cuộc chiến này, với những bộ đồ trận bạc màu, những vết thương in dấu trên thân xác, với mái tóc bạc đi vì mơ tưởng tới những thứ như bổn phận, trách nhiệm, như lý tưởng, hòa bình, no ấm, những thứ mà cho đến nửa đời người anh vẫn chưa hề thấy rằng nó có thật, năm mười năm nữa sau chiến tranh trở về tàn dại, già nua, bất lực, lúc đó liệu đời sống sẽ ra sao. Chẳng gì trong hiện tại, đời sống của bọn anh vẫn được khoác cho nhiều ý nghĩa và được tung hô lên đầu môi chót lưỡi hơn là bọn gái giang hồ.

Lúc bọn Vĩnh rời quán bước ra đường thì một chiếc xe mười bánh trờ tới. Tiếng một sĩ quan ngồi trên xe gọi xuống bảo tất cả lên xe trở về trại ngay vì một số lính đã đánh nhau với nhân viên công lực và việc đó đã làm cho ông tiểu khu trưởng yêu cầu tiểu đoàn cấm trại. Vĩnh leo lên xe, đứng chen chân với những người khác. Dù sao thì thị trấn cũng bắt đầu vắng vẻ. Trở về trại, Vĩnh lên võng nằm thao thức nghĩ đến vợ. Lá thư viết dở dang vẫn còn đâu đó, nhưng bây giờ thì anh không thể viết tiếp được. Cả doanh trại tối như mực. Vĩnh nằm nghe tiếng chân những người khác di động, chuyến xe trở lại một lần nữa với một toán lính mà họ vừa lượm thêm được ngoài phố, tiếng cười nói chửi thề, tiếng động cơ của nhà máy phát điện đâu từ xa vọng đến, tiếng máy bay rít trên trời, tiếng động ở những dãy nhà bên cạnh, tiếng nổ rền vang của những trái bom vừa rơi xuống trong một khu rừng xa nào đó từ một pháo đài bay, tiếng súng nổ đằng hướng cuối phi trường. Vĩnh vẫn thao thức, nghĩ đến những ngày mới sẽ mở ra từ sáng hôm sau, nghĩ đến người vợ quạnh quẽ trong thành phố xa xôi, nghĩ đến đoạn nhạc vô tình đã nghe trong quán: Về đâu hỡi người gái giang hồ...

***

Bảy chiếc trực thăng trờ tới phi trường vào lúc quá mười giờ. Toán của Vĩnh đứng dậy, nai nịt chuẩn bị chờ lệnh. Nhưng sau đó, lệnh từ tiểu đoàn xuống cho tiếp tục nghỉ, vùng hành quân vẫn còn mưa lớn nên trực thăng chưa thể đáp ứng được. Bảy chiếc trực thăng tắt máy, bọn phi công nằm dài trên sàn tàu, bọn lính nằm dài trên sân bay, tất cả cùng chờ đợi, hy vọng trưa nắng thời tiết có thể sẽ khá hơn. Vĩnh lại nằm gối đầu lên ba lô, bọn lính tụ nhau tán chuyện gẫu. Chúng nói về những lần hành quân trực thăng vận trước kia, những kinh nghiệm chiến trường mà chúng đã học hỏi được, những lần bị bọn phi hành đoàn của Mỹ dùng chân đạp nhào xuống bãi đáp từ một độ cao trên ngọn cây, những lần hành quân vượt biên giới với hỏa lực khủng khiếp từ dưới đất bắn lên phi cơ làm bọn Mỹ ném mỗi toán một nơi cách nhau hàng cây số... Dần dần chúng chuyển sang phê bình cấp chỉ huy, những sĩ quan mù tịt về chiến thuật, những ông chỉ huy trưởng sát quân, những ông khác chuyên buôn lậu, đánh bạc, những ông mua danh bán tước, những kẻ đáng mặt làm ma cô hơn là nắm sinh mệnh của họ. Lâu dần câu chuyện xoay về gia đình, vợ con, lương bổng. Vĩnh nghe càng lúc càng nản thêm. Đó chỉ là những câu chuyện quá cũ để phải nói nữa, cũ hơn cả những bộ đồ trận rách nát trên từng anh lính cầm súng trong mấy mươi năm qua. Vĩnh nhớ đến bức thư cho vợ, ngồi dậy mở ba lô lục tung dưới những võng, những chăn, giữa những xấp giấy má lẫn lộn, cuối cùng vẫn không tìm thấy. Anh định viết lại từ đầu nhưng sau lại thôi. Anh rời khỏi chỗ cũ, đi loanh quanh trong khu sân bay.

Nắng đã lên cao nhưng dãy núi đằng hướng bắc vẫn chìm dưới lớp mây mù. Như vậy là đơn vị anh vẫn chưa thể đổ được xuống đó. Anh ước sao vùng hành quân cứ mưa mãi, như vậy đêm nay anh còn có thể ngủ một đêm yên giấc trong thị trấn này. Một đêm trong thị trấn giữa thời đại này vẫn là một đêm hạnh phúc đối với một người lính cùng khổ. Thoáng chốc Vĩnh lại nhìn về dãy núi và yên tâm.

Trạm hàng không quân sự bây giờ chật ních những người lính thượng và vợ con. Họ từ một tiền đồn biên phòng đi phép và bây giờ đang chờ phương tiện để trở về đời sống cũ. Đời sống của họ, Vĩnh nghĩ không lẽ đích thực lại là những trại biên phòng xa xôi trong rừng sâu với những lần thả dù tiếp tế, những chuyến trực thăng liên lạc hiếm hoi, những hầm hố và mìn bẫy chung quanh. Không lẽ đời sống đích thực của con người là ở nơi đó? Làm sao người ta có thể sống một cuộc sống kỳ cục như vậy trong suốt cuộc chiến đã kéo dài hơn mười năm?

Một chiếc phi cơ bay vòng trên không rồi đáp xuống. Vĩnh nhìn chiếc máy bay lừ đừ tiến vào sân đợi. Một chiếc xe mười bánh có bạt phủ bịt bùng chạy đến đậu sát vào cửa phi cơ. Vài phút sau, chiếc xe rời khỏi sân bay hướng về phía thị trấn. Ban đầu Vĩnh nghĩ là chiếc máy bay kia chở thương binh từ một nơi nào đó trở về, nhưng khi nhìn nó lừ đừ ra phi đạo sửa soạn cất cánh, Vĩnh thấy nó có một dáng dấp rất lạ. Thân máy bay sơn đen và xám, không mang một hàng chữ hay một con số nào. Lúc nó đi rồi, viên sĩ quan trung đội trưởng giải thích cho cả bọn lính hiểu rằng chiếc máy bay đó được dùng cho những phi vụ đặc biệt, chở bọn biệt kích, thám báo, lôi hổ – những kẻ được ưu tiên lãnh tiền tử trước cho mình ngay khi còn sống – thả dù sang đất Lào, ra miền bắc thực hiện những nhiệm vụ chiến lược bí mật. Bởi vậy nó không thể mang số để khỏi bị tố cáo vì cuộc chiến tranh này vốn là một chiến tranh vô quy ước, không ai tuyên chiến với ai cả.

Buổi trưa có một chuyến hàng không dân sự đến, đổ xuống một ít hành khách rồi mang theo một ít hành khách. Sau đó, sân bay im lìm, trạm hàng không dân sự đóng kín cửa. Bầu trời mù đục vào buổi xế và cơn mưa trút xuống hồi quá ba giờ. Mấy trăm người lính chen nhau trong nhà đợi của trạm hàng không quân sự trốn mưa. Đến năm giờ chiều, mười hai chiếc xe tải quân chạy vào sân bay, chở tất cả bọn Vĩnh về trại quân bỏ hoang, nơi họ đã ngủ qua một đêm trước.

***

Năm giờ sáng hôm sau họ lại lục tục trở dậy, nhen lửa, nấu cơm, cho cơm vào những bao ny-lon để mang theo, ăn sáng, hút thuốc lá, rồi nai nịt chuẩn bị. Sáu giờ ba mươi sáng, mười hai chiếc xe mười bánh từ tiểu khu trờ tới. Họ ra sân bay, xuống xe, ngồi chờ. Mấy trăm người lính lại nằm ngồi la liệt trên một góc phi trường, lại nhìn những chuyến máy bay dân sự, quân sự, những chuyến bay đặc biệt đến và đi, những hành khách, những áo quần màu xanh màu đỏ, những người lính có và không có mang theo vũ khí cá nhân, những chiếc máy bay hai động cơ hoặc bốn động cơ có hoặc không có mang số, sơn xám, sơn xanh, sơn đen, những gia đình thượng dắt díu nhau chờ phương tiện ra tiền đồn ngoài biên giới, những con chim núi bay lạc về trong mùa mưa bão chưa dứt. Một ngày chờ đợi bên những chiếc trực thăng nằm im trong phi trường hoe nắng, trận đánh ở ngoài kia không biết đã ra sao dưới mưa mù mịt núi rừng. Năm giờ chiều những chiếc trực thăng cất cánh trở về phi cảng an toàn đâu từ vùng duyên hải, mười hai chiếc xe mười bánh từ tiểu khu trở lại đón bọn lính về trại tạm trú. Ngày hôm sau nữa cũng vậy, nhưng cơn mưa không chỉ phủ trùm lên vùng trận địa mà còn đổ xuống sân bay, một ngày dài cả thị trấn mờ nhoẹt đi trong màn mưa lũ, bọn lính chui rúc chen chân nhau trong phòng đợi của trạm hàng không, buồn bã nghĩ đến gia đình, vợ con, người thân, người tình, bè bạn ở nơi này nơi khác. Vài đứa vô tình hoặc cố ý buột miệng cầu trời mưa mãi... Chiều tối xe lại đón trở về, chen nhau trong những căn phòng chật chội và bẩn nhớp, nhen lửa nấu lại bữa cơm chiều, quây quần nhau cạnh một nón sắt cơm và những món đồ hộp viện trợ.

Vĩnh lại nghĩ về lá thư viết cho vợ dở dang đã đánh mất. Ngồi trong phòng, trên võng, trong khi chờ bữa cơm, Vĩnh quyết định viết lại. Anh lấy bút giấy kê trên đầu gối, thõng chân xuống nền xi măng, và bắt đầu: “Ngân yêu dấu. Hôm nay là ngày thứ ba anh ở Kon Tum. Bọn anh nằm trong phi trường ban ngày chờ đi tiếp viện nhưng vẫn chưa đi được vì thời tiết “tốt”. Hiện giờ trời vẫn đang mưa bên ngoài”. Vĩnh nhớ tới bức tường vôi vàng xỉn trong phòng đợi trạm hàng không trong phi trường, những dòng chữ nguệch ngoạc, nhòe nhoẹt, đầy rẫy trên đó ghi dấu tích những người lính khắp nơi đã dừng lại và chờ đợi trong một vài ngày, những đơn vị chiến đấu lưu động đã từng ghé đến, những câu ca dao mới do những người lính buồn bã viết lên, nói về thời thế, về thị trấn, về dòng sông Dakbla nước chảy ngược về rừng... Vĩnh đã đọc hết những câu chữ đó trong buổi trưa và xót xa nghĩ đến những người đã viết, những dòng chữ nguệch ngoạc thì còn lại trên bức tường vôi vàng trong nhà chờ đợi trạm hàng không của thị trấn, nhưng những người đã viết nên những dòng đó bây giờ ra sao? Những chiến đoàn X, tiểu đoàn Y, đại đội Z, những con tốt đen oai hùng của cuộc chiến tranh có phải đang còn say máu ở chiến trường A Lưới, Khe Sanh, trên đỉnh đèo Lao Bảo u hoài nhìn qua rừng núi Hạ Lào trùng điệp, hay đang ở U Minh, Tây Ninh nhìn qua vùng thánh địa Angkor, hay đã bị xóa tên ở một nơi nào khác?

Một người lính trong tiểu đội gọi Vĩnh ăn cơm. Anh xót xa đọc lại những dòng chữ vừa viết cho vợ rồi xếp tờ giấy nhét vào túi áo trận.

Dù sao họ cũng đang sống những buổi tối lý thú ngoài đường phố thị trấn trong thời gian chờ đợi này. Vĩnh cùng vài người bạn đi mãi trên những đoạn đường ngắn, những con phố tối và sáng không đều nhau, con đường dẫn đến câu lạc bộ thanh niên thị trấn, ra cây cầu gãy còn nằm trên dòng sông nước đục ngầu màu bùn đất đỏ cây rừng rú mùa mưa, con đường dẫn ra xóm đạo gập ghềnh những triền đồi cũ gần mất dấu, nhà nguyện và tiếng chuông lễ tối, những con đường dẫn đến rạp hát, quán rượu, ổ điếm, con đường ngang qua khu công viên u tịch, con đường dẫn trở về trại trong những đêm khuya say khướt mù chệnh choạng đi dưới cơn mưa. Thị trấn cao nguyên se lạnh trong đêm. Lâu lắm Vĩnh mới thấy mình được hưởng cái thú vị đứng nhìn những người đàn bà co ro đi dưới những mái hiên trống, buổi tối như một thứ màu sắc pha trộn tuyệt vời trải đều lên phố thị, lên thân hình những thiếu nữ qua lại trên thềm phố chính. Phố thị dù sao vẫn là một chỗ để trở về, để quay về.

Buổi sáng ngày thứ tư, vị thiếu tá tiểu đoàn trưởng đã cất cao giọng nghiêm khắc trách cứ bọn lính đã không giữ gìn kỷ luật của một đơn vị chủ lực quân, trong khi tiểu đoàn tập hợp trước khi lên xe. Ngày hôm đó trời mưa bay trong phi trường, đoàn trực thăng không đến được và tình hình tại trận địa được báo cáo là cả hai bên đều vây cứng lấy nhau và cùng kiệt quệ vì lương thực cạn và thời tiết quá xấu. Chiều hôm đó bọn lính lại sung sướng rời sân bay trên mười hai chiếc xe mười bánh.

***

Bụi nước mưa đan mỏng phủ trùm lên thị trấn buổi tối. Màn sương mờ đục nhìn thấy từ những chùm ánh sáng hắt ra đường phố, không khí se lạnh gợi nhớ đến người tình. Những gì còn lại ở Vĩnh là sự tưởng nhớ đến nỗi hạnh phúc tuyệt vời, đến những chỗ ngồi còn bỏ lại trong quá khứ, những ngày êm đềm cũ đã quá xa. Vĩnh say sưa nghĩ đến ngày trở về một cách thầm lặng giữa cuộc sống tàn bạo và nghiệt ngã của thời đại này, trở về bằng bất cứ cách nào để được ngồi trở lại nơi những chỗ đã xa và đã mất, uống lại một ly rượu với những người bạn ngày nào trên một góc phố vắng, đi với người yêu trên những con đường râm bóng, ngả mình trên bãi biển một buổi sáng tinh mơ hay cũng có thể đi thênh thang một mình trên những con đường một thời quen thuộc. Mơ hồ tưởng tượng ra buổi tối ngà say nào đó chui vào bên trong bờ tường bao quanh ngôi trường học anh đã ngồi nhiều năm thời niên thiếu, vào lớp ngồi nhìn lên bảng đen với những vết phấn còn đọng lại trên nền xi măng, quanh anh là những chỗ ngồi trống không hiu quạnh. Bỗng nhiên cái tâm thức lãng mạn của một thời trẻ trung chợt sống dậy nơi Vĩnh, trí nhớ và niềm mơ tưởng lôi kéo Vĩnh trở về một không gian khác hẳn, ở đó hình như Vĩnh vươn vai thở mạnh một bầu trời không khí mới, thênh thang đi trong một vùng trời mới và có thể bắt đầu kinh ngạc về những năm tháng vừa qua trong đời mình.

Phố vẫn không vắng người. Vĩnh đi nghêu ngao một lúc rồi bước vào một hiệu sách và tạp hóa có nhiều người Anh đứng, nhìn lên những kệ sách hơi cao và lắng nghe mùi hương tóc đàn bà phảng phất. Sách báo và chữ nghĩa, hình như cũng đã lâu lắm Vĩnh xa rời chúng, xa rời để ngơi nghỉ và xa rời cũng bởi đời sống mà anh chịu đựng mặc dù trống không nhưng lại quá dày đặc, không thể nhét thêm gì nữa vào đầu óc giữa những hồi bắn giết điên cuồng, những đợi chờ tạm bợ, những cơn say, những cuộc vui ứa nước mắt. Vĩnh cúi xuống đốt một điếu thuốc, thở khói vào mái tóc một người đàn bà đứng trước mặt, rồi quay lưng ra cửa.

Nhưng anh ngạc nhiên dừng lại. Khuôn mặt người đàn bà dường như rất quen thuộc cũng đang bối rối nhìn anh. Người đàn bà với mái tóc cắt ngắn, khuôn mặt sáng rực rỡ, trên người khoác chiếc áo choàng màu đỏ thẫm, đó là một người đàn bà mà Vĩnh vừa nhớ ra rằng phải có một liên hệ nào đó với mình. Anh đưa điếu thuốc lên môi dự định rít một hơi ngắn trong lúc suy nghĩ, nhưng liền đó anh buột miệng gọi trong xúc động: Hương. Người đàn bà thoáng một nụ cười ngắn trên môi, nụ cười giúp cho Vĩnh nhớ lại một cách chậm chạp, từ ban đầu. Hơi cúi mặt xuống, người đàn bà nói trong sự xúc động:

- Anh cũng đang ở đây nữa sao?

Vĩnh nhận ra mình đang bị giao động mãnh liệt, không biết vì sự gặp gỡ quá ư đột ngột hay vì thấy một Hương đã vô cùng đổi khác. Quả thật, Vĩnh đang bắt đầu nhớ lại. Năm năm, không, sáu năm trước, tất cả đều bắt đầu từ đó, sáu năm trước, trong một tỉnh lỵ nhỏ trên cao nguyên nằm ở nửa đoạn đường đổ về thành phố phương nam, những ngày mà người đàn bà trước mắt Vĩnh bây giờ còn là một Hương tóc xõa, áo trắng, nón lá và những sách vở bút mực nhà trường. Thời đó, Vĩnh xót xa nhớ lại, anh còn mang dáng dấp của tuổi trẻ với cả một tương lai đằng trước mặt, anh còn có tự do, còn có những đam mê và những hăng hái rất trẻ trung và nồng nhiệt. Thời đó, tỉnh lỵ nhỏ bé chìm ngập trong mưa mù, Vĩnh có tất cả cái say sưa của một thanh niên hăm hở ra đi, và Hương, cũng ở cái thời kỳ đó, có tất cả sự mê đắm của một thiếu nữ, những hẹn hò, những buổi tối co ro đi bên nhau trên những đoạn đường phố vắng, những nụ hôn đầu, mùi tóc thời đó Vĩnh còn nghe thơm mùi đất mới, hơi hướm tình yêu ngày đó còn nghe thoảng mùi trái chín. Sáu năm đã qua, đã mất, bây giờ một Vĩnh tàn tạ, già nua mệt mỏi, một thị trấn nhuốm vẻ tiêu điều bệnh hoạn. Và buổi tối, một buổi tối tình cờ còn ở lại trong phố thị mưa bụi của tiết lạnh bởi không thể có cách nào đâm đầu vào trận đánh còn đang tiếp diễn ở ngoài kia, họ ngỡ ngàng nhận ra nhau. Người đàn bà nói trước khi nhẹ bước ra ngoài cửa hiệu sách:

- Không ngờ lại gặp nhau nơi này. Lâu quá, chắc có nhiều điều để nói.

Vĩnh rít một hơi thuốc lá, bước theo. Hai người dừng lại một chút trên lề đường, nhìn xuôi theo mặt đường phố bóng loáng dưới mưa bay và ánh điện. Vĩnh búng mẩu tàn thuốc ra giữa lộ, nhả khói vào bầu trời thoảng gió tê lạnh, nói với người tình cũ:

- Anh đang ở đây buổi tối thứ tư. Đơn vị chờ đợi tăng cường vào một cuộc hành quân đã diễn ra bốn ngày. Hương đi với anh một đoạn đường?

- Hãy cứ đứng đây nhìn mưa một lúc đã.

- Em tỏ ra còn trẻ trung mơ mộng như ngày nào.

Người đàn bà nở một nụ cười hồn nhiên. Vĩnh nhìn vào đôi môi đó và thấy rõ là mình đang đứng ở một khoảng cách tàn nhẫn. Người đàn bà đưa mắt nhìn kỹ vào Vĩnh trong lúc anh hỏi:

- Em đang sống ở thị trấn này sao?

Người đàn bà thu cái nhìn lại, nói nhỏ:

- Em đến đây được hơn một năm.

- Gia đình?

- Anh ấy đi ngoại quốc vừa được vài tháng. Đứa con trai đầu đã gần ba tuổi. Em đang sống với một người họ hàng của anh ấy.

Vĩnh bật ra một tiếng nghe chứa đựng nhiều chua xót hơn là một nhận xét:

- Hạnh phúc quá!

Hai người đi bộ trên con phố mưa bay. Người đàn bà biết rõ là hai người đang đi sát vào nhau, tuy nhiên cánh tay tình nhân ngày nào không còn nữa. Phố đã thưa người, đôi khi Vĩnh có thể nhìn thấy một vài người cùng đơn vị với mình đang trên con đường trở về trại hoặc nghiêng ngả say khướt băng qua một mặt lộ. Vĩnh nghĩ đến việc phải trở về đêm nay, nằm trên chiếc võng đong đưa chờ đợi giấc ngủ giữa thứ trí nhớ mệt mỏi quay về dĩ vãng tìm kiếm những ngày yêu dấu cũ bên cạnh Hương. Và sáng mai, một ngày sắp tới sẽ nằm mê mệt trong phi trường hay sẽ được ném ra vùng giao chiến. Chốc lát Vĩnh lại nhìn người đàn bà dò xét. Ở nàng bây giờ hình như có một cái gì đó bình lặng và một cái gì đó bất ổn, cả hai đang hiện diện trong người nàng. Có phải đó là sự gặp gỡ bất chợt người yêu cũ đã xa cách trong nhiều năm, có phải đó là sự tưởng nhớ đến người chồng đang ở một chân trời khác hay là, biết đâu được, nàng đang vô cùng xúc động khi nhìn lại Vĩnh trong cái vóc dáng tiều tụy, phiền muộn mà anh đang quên bẵng đi. Tuy nhiên, khi hai người đi đến bờ sông, trước mặt là những vòng dây kẽm gai chắn lối, bên cạnh một chiếc lô cốt đen đủi và xa hơn là dãy câu lạc bộ thanh niên, từ dưới kia dường như sâu thẳm, tiếng nước lũ cuồn cuộn chảy dưới chân cầu Dakbla, với tiếng động thầm lặng của phố thị đằng sau lưng, đột nhiên người đàn bà thấy một cánh tay mình hơi tê đi, lúc đó hai người đã dừng lại. Ngọn đèn mù đỏ từ trước cửa câu lạc bộ thanh niên chiếu ra phía hai người đang đứng một thứ ánh sáng ủ ê. Vĩnh xoay người lại một chút rồi nắm lấy cánh tay người đàn bà. Anh nhích người vào sát thân hình người tình cũ, đưa tay vuốt đuôi tóc trên cổ nàng, nghe như mùi tóc đang níu mình lại cuộc tình đã qua. Chiếc nón rừng rộng vành phủ xuống khuôn mặt hai người một thứ bóng tối. Tiếng người đàn bà bật ra:

- Anh Vĩnh.

Nụ hôn chất lên trên lời nói một cách bất ngờ. Vĩnh thấy mình lịm đi trên đôi môi mọng ướt đó, sự say mê lan dần xuống đốt nóng từng phần cơ thể anh, nỗi sung sướng khép dần đôi mắt anh lại, tuy nhiên hình như cả hai người đều thoáng nhận ra rằng cả mình và người kia đều run run xúc động. Người đàn bà khẽ đẩy Vinh ra, và trong sự đê mê tuyệt vời đó, Vĩnh quên mất là mình đã rời đôi môi người đàn bà như thế nào.

Vĩnh định tìm một chỗ cho hai người ngồi. Anh như quên hết, cứ ngỡ người đàn bà là một tình nhân nhỏ bé của mình, với lần hò hẹn đầu tiên, cái hôn đầu tiên và lần khám phá ra nỗi sung sướng tuyệt vời của hẹn hò, của ve vuốt đầu tiên. Nhưng người đàn bà đánh thức anh dậy:

- Em phải về, khuya quá.

Họ đi với nhau trên đường về. Dần dần, với một cánh tay quàng qua lưng nàng, với sự hồi nhớ lại tất cả, từ đầu, Vĩnh bắt đầu nhận ra những đổi khác của thân thể người tình cũ. Tóc đã thôi thơm mùi đất mới, da thịt đã thôi thơm mùi trái chín, điều đó làm anh nhớ ra rằng cái khoảng cách vẫn còn đó, cái khoảng cách không sao tìm thấy lại nhau. Trên con đường se lạnh trở về, với một cánh tay vẫn ôm qua lưng người tình cũ, với sự hồi tưởng ray rứt và xót xa về những ngày quá khứ đã thật sự chết, Vĩnh nhất định không biết người đàn bà trong tay mình nghĩ gì. Trước khi đẩy cổng bước vào một căn nhà nằm trên con phố tối tăm và lạ hoắc đối với Vĩnh, người đàn bà quay lại, tay bấu vào vai anh, họ hôn nhau. Nhưng lần này thì Vĩnh thấy mình tỉnh táo quá, có lẽ tất cả đều có riêng cái thời của nó, cái thời đó trong trường hợp này đã qua rồi. Người đàn bà tỏ ra thiết tha, nói với Vĩnh đôi lời từ biệt rồi quay đi. Vĩnh buồn bã lội ngược trở về con đường cũ, trí óc bắt đầu nghĩ đến đêm còn lại, ngày mai, những điều sắp tới và sẽ tới. Anh thấy thèm vô cùng một ly rượu hay một cơn say. Anh đưa tay tìm thuốc lá nhưng bao thuốc rỗng không. Anh tự nhủ sẽ viết cho vợ lá thư khác trong đêm nay, lá thư có thể bắt đầu bằng câu: “Ngân yêu dấu. Anh vừa trở về từ bờ sông Dakbla...”.

Nha Trang, 9/1971

(Tạp chí Trình Bầy số 30/1971)

--> Read more..

Thứ Sáu, 28 tháng 9, 2007

Trách nhiệm?

Những người thân của các công nhân bị mất tích chưa tìm thấy ngóng tin tức. Họ nhỏm dậy dồn hết ánh mắt về phía công trường, bãi đổ nát khi có bất kỳ phương tiện cơ giới nào từ phía đó đi ra.
(Photo: Na Son)

.

Đọc báo trong các ngày gần đây, sao thấy buồn quá.

Chuyện “Một sản phụ tự sinh con trong bệnh viện” (TN ngày 25.9). Đó là trường hợp của sản phụ trẻ (mới 20 tuổi). Bác sĩ đã xác nhận tình trạng này là “bỏ con cứu mẹ”…. vậy mà khi sản phụ chuyển dạ, không có một bác sĩ hoặc hộ lý nào giúp đỡ… Trách nhiệm và lương tâm mấy người đi đâu mất rồi? Sao thờ ơ đến thế, sao lạnh lùng vô cảm đến thế. Vậy mà ở bệnh viện chỗ nào cũng có dòng chữ LƯƠNG Y NHƯ TỪ MẪU.

Chuyện 65 cô gái trưng bày thân thể cho 2 người đàn ông Hàn Quốc khám xét để chọn làm vợ... Sĩ diện, lòng tự trọng của các cô chạy biến đi đâu vậy… Trách nhiệm của các cấp đâu rồi mà để chuyện này xảy ra mãi thế này?

Chuyện sập (nhịp dẫn) cầu Cần Thơ, đến thời điểm này gần 50 người thiệt mạng, gần 100 người bị thương, gây bao cảnh tang thuơng.

Đọc báo, những thảm cảnh phát trên ti vi ai cũng tứa nước mắt.

Đời người sao mỏng manh đến thế. Trách nhiệm của người có liên quan sao mỏng manh đến thế? Thà rằng bão lụt, thiên tai còn có thể chấp nhận được… Còn đây là những sinh mạng…. mà là sinh mạng của những ngừơi cùng khổ, đi kiếm miếng ăn từng ngày… đều vô giá như nhau.

Những dòng nứơc mắt, những ánh mắt thất thần… Một màu tang thương bao phủ… Biết nói gì đây? Phải chi 2 chữ trách nhiệm được quan tâm đúng mực thì đâu đến những cảnh này xảy ra.

HA

28.9.2007

--> Read more..

Bóng đá và đạo lý

Sáng thứ bảy 14.9, Tòa soạn Báo Thanh Niên liên tiếp nhận được hàng chục cú điện thoại từ nhiều địa phương trên cả nước gọi tới, chia sẻ nỗi niềm sau trận bán kết Việt Nam thua Thái Lan 2-4; bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với các tuyển thủ nước ta, và quan trọng hơn cả là tỏ nỗi bất bình – thậm chí phẫn nộ - đối với một tờ báo vừa mới phát hành, trong đó có đưa tin bài, hình ảnh về trận bán kết thứ hai trên sân vận động Quốc gia Singapore tối 13.9.

Có lẽ tuyệt đại đa số trong hơn 70 triệu người Việt Nam – kể cả những ai vốn không quan tâm tới bóng đá – đều đã hy vọng và mong chờ một kết quả bất ngờ ở trận đấu này: Việt Nam sẽ thắng Thái Lan. Nhưng chuyện bất ngờ đã không xảy ra, đội mạnh hơn đã chiến thắng theo lẽ thông thường, trong đó, còn có vận may do tổ trọng tài trao cho. Có buồn chăng là ở chỗ: Đội tuyển Việt Nam đã chưa đủ sức làm nên một kỳ tích.

Có thể phân tích sâu thêm để thấy rằng đội Việt Nam chưa có đấu pháp hợp lý (nhất là ở hiệp một); một số cầu thủ chưa đảm đương nổi vị trí của mình; thể lực, kỹ thuật cá nhân và phối hợp đồng đội còn nhiều yếu kém so với đội bạn. Song, kết quả 2-4 cũng đã an ủi phần nào những người hâm mộ bóng đá và có lòng yêu quý đội tuyển nước ta, đồng thời đặt ra những suy nghĩ nghiêm túc cho lãnh đạo ngành TDTT nói chung, bóng đá nói riêng – và cả Ban huấn luyện cùng mỗi tuyển thủ - để tiếp tục đầu tư, huấn luyện, nâng cao trình độ thi đấu ngang tầm với khát vọng chiến thắng ở các giải thi đấu khu vực và quốc tế trong tương lai.

Điều mà đông đảo bạn đọc tỏ ý bất bình, phẫn nộ là cái thái độ lạ thường trong cách đưa tin, đăng ảnh của tờ báo nọ trước thất bại của đội nhà. Ngay trên đầu trang 1 là hình ảnh HLV Weigang gục đầu, cúi mặt đau khổ và thủ môn Cường phủ phục thảm hại (đây chính là hai người vừa được Thủ tướng Võ Văn Kiệt chúc mừng và biểu dương trong bức điện gửi đến đội tuyển ngày hôm trước).

Chắc chắn là hai hình ảnh trên không tiêu biểu cho tinh thần thi đấu ngoan cường của đội tuyển nước ta trên Sân vận động Quốc gia Singapore tối 13.9, bởi vì nếu thế thì đã không có hai bàn thắng rút ngắn tỷ số ở hiệp 2. Ở trang thể thao của tờ báo này lại xuất hiện một câu phỏng vấn không bình thường danh cho HLV Weigang ngay sau trận đấu, một câu phỏng vấn mà theo bạn đọc trao đổi qua điện thoại với chúng tôi là đầy thái độ hỗn xược đối với người thầy của các tuyển thủ chúng ta hiện nay: “Ông cảm thấy chừng nào ông bị sa thải”.

Ai cũng biết rằng cho đến nay, các tuyển thủ bóng đá Việt Nam vẫn gọi HLV Weigang bằng thầy một cách tôn kính, và chúng tôi nghĩ rằng ông Weigang xứng đáng được kính trọng như vậy sau những gì ông đã làm được cho bóng đá Việt Nam chỉ trong gần một năm qua. Đạo lý tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam không cho phép chúng ta xem thường người thầy như một kẻ làm thuê để có thể truy bức bằng một câu hỏi phủ nhận đến vậy. Có thể đến lúc nào đó ông Weigang không còn thích hợp ở cương vị huấn luyện viên trưởng Đội tuyển Quốc gia, nhưng chắc rằng ngay cả sau đó, các tuyển thủ Việt Nam được ông rèn luyện lâu nay vẫn yêu quý, kính trọng ông như một người thầy đầu tiên dìu dắt họ từng bước trên đấu trường quốc tế.

Cách thể hiện trước dư luận như đã nêu, dù với bất kỳ động cơ và mục đích gì, cũng là việc làm xa lạ đối với lương tâm và trách nhiệm của người làm báo. Dù có nôn nóng, bức xúc vì thất bại của đội nhà, song cách đưa tin, đăng ảnh, phỏng vấn như vậy vẫn là một hành vi bôi bác, xúc phạm sâu sắc đến hàng triệu trái tim vẫn âu lo, buồn vui, phấn khởi, kỳ vọng vào đội tuyển và tương lai của đội bóng đá nước nhà.

HÀ PHAN

(14.9.1996)

--> Read more..

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2007

Thế Vũ – Những trang văn để lại

Cuộc chiến tranh xâm lược mà người Mỹ tiến hành ở miền Nam nước ta trước năm 1975 đã để lại những di chứng nặng nề trong đời sống xã hội, cả trên lĩnh vực văn học. Khi văn học trở thành chiến tuyến, những người cầm bút ở Sài Gòn không thể không rơi vào thế kẹt của lịch sử, và tác phẩm của họ tất yếu bị lợi dụng, khai thác để phục vụ cho những mưu đồ chính trị. Nhưng cũng chính trong cái hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, những nhà văn có lương tri đã tìm cách xoay trở để ngòi bút không những không phản bội lại lương tâm mình mà còn có thể gửi gắm vào trang viết ước mơ nung nấu về một ngày mai gươm đao biến thành lưỡi cày. Như một phản chứng của lịch sử, một số cây bút - đặc biệt là những cây bút trẻ, thường không mang nhiều mặc cảm như thế hệ đàn anh - dù đứng trong hàng ngũ quân đội Sài Gòn, do trung thành với sự thật khách quan, đã làm chứng cho một xã hội băng hoại và mục rã đang đến hồi sụp đổ. Họ không phải là những nhà văn trực tiếp nằm trong quỹ đạo của cách mạng, nhưng dường như lịch sử đã cài họ vào hàng quân đó để thu và phát những tín hiệu văn chương từ một phía đối nghịch của chiến tranh mà thật ra, cho đến nay, người nghiên cứu văn học chưa phải đã quan tâm và thấu hiểu đầy đủ.

Thế Vũ, tác giả tập sách mà bạn đang cầm trên tay, là một trong những nhà văn có số phận đặc biệt như vậy.

Đọc những sáng tác Thế Vũ viết trước 1975, ta có cảm giác như xem một cuốn phim quay chậm những cảnh đời tù hãm và những kiếp người tàn tạ. Này đây những làng xóm tiêu điều, những dãy phố quạnh hiu. Này đây những doanh trại và khu gia binh với các căn nhà tiền chế chật chội, nóng bức. Này đây một bệnh viện dã chiến bẩn thỉu, tạm bợ. Này đây những chuyến xe nhà binh mệt mỏi trên con đường lầm bụi. Là người trong cuộc, ngòi bút Thế Vũ miêu tả sắc nét cảnh sinh họat ngột ngạt mà con người phải chịu đựng trong “một thứ thời thế càng lúc càng bệnh hoạn”. Đó là một thế giới mốc meo, u ám, vương mùi tử khí. Những bộ đồ trận xám mốc đôi khi lang thang trong cõi người như những hồn ma từ cõi chết trở về vất vưởng trong một đời sống đang kiệt cùng đến tận đáy.

Hình tượng ám ảnh nhất trong văn Thế Vũ là những cơn mưa, những cơn mưa tàn bạo ngút ngàn nơi chiến trường hay những cơn mưa tầm tã, buốt cóng trên mái nhà tù. Những trang văn thời chiến của Thế Vũ gợi nhớ đến những trang tiểu thuyết chiến tranh của E.Hemingway và E.M.Remarque, dù biết rằng giữa ông và hai nhà văn tầm cỡ thế giới ấy có một khoảng cách rất xa. Tôi phỏng đoán rằng Thế Vũ đã đọc họ, ít nhất là hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Chuông nguyện hồn ai Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh.

Dù sao, những nhân vật của Thế Vũ vẫn có một số phận riêng. Là những con tốt trên bàn cờ thế sự, họ đã bị đẩy vào một tình cảnh không lối thoát: “Kể từ chiều nay, khi đặt chân xuống phi trường lạ của thành phố cao nguyên này, sẽ không còn có lúc nào nữa tôi trở về để ăn một bữa cơm khốn khó với gia đình người bạn, sẽ không bao giờ tôi còn gặp lại những người mới quen biết, người tình, những con đường còn bóng cây cho những trưa hè nồng nàn, những đêm khuya đạp xe về với người bạn đến độ quen mặt từng anh bán bánh mì ngoài ngã năm thị xã, những ngọn gió đêm mát rượi phiêu bồng thổi qua một đời sống truân chuyên (…). Ở cái hiện tại này, trong bộ đồ trận tả tơi sau hơn ba năm bò lê từ mặt trận này đến mặt trận khác, với không có chút cấp bậc nào trên vai, tôi thật tình không biết còn có thể làm gì khác hơn để có một ngày bình yên trở về gặp mặt lại anh em, bằng hữu, người tình mà không phải đui mù què cụt, một ngày còn hy vọng có thể có được trong đời mình một mái nhà, một gia đình…” (Ngày mới đến Pleiku).

Đó là những người lính trẻ trở về mình đầy thương tật đi tìm miếng ăn, nếu không bỏ thây trên chiến trường hay bị vùi chôn đâu đó không người thân thích. Đó là “những người lính đã già trong một cuộc chiến tranh đã cũ”, vì đào ngũ tìm đường sống, bị kết án và đày ải khổ sai trên chiến trường, với hàng chữ Lao Công Đào Binh trên lưng áo, mà ai đó đã từng mỹ từ hóa một cách lãng mạn là Loài Chim Đi Biển! Đó là những người lính vì có ý thức phản kháng cái guồng máy thống trị phi nhân, đã bị đẩy vào những nhà giam đầy ám khí với kỹ thuật tra tấn dã man, ghê rợn. Trên những khuôn mặt hốc hác, bệ rạc của họ, ta nhìn thấy không chỉ một nỗi mệt mỏi ê chề mà còn là một niềm căm phẫn, uất nghẹn: “Những trận đòn hằn lên số tuổi đã quá nửa đời người là những trận đòn đau nhức nhất, nó chậm chạp thấm sâu vào thân thể hắn như để mỗi lúc một chứng tỏ thêm rằng kiếp người chỉ là một giấc mơ không bao giờ có thực của giun và dế. Hắn cam chịu một cách chua xót và cầu mong có một quyền lực nào ban xuống để hắn được trở về với mái nhà, trong đó đứa con bốn tuổi vẫn ngồi ngay bậc cửa chờ bố và người vợ tay bồng đứa nhỏ đỏ hỏn mắt nhìn đăm đăm, người vợ đã an ủi một phần nào cái đời sống tối tăm của hắn, kẻ suốt đời nổi trôi mà không hề nghĩ mình đang đi tìm một cái gì” (Người tù ngoan ngoãn).

Chúng ta có thể gặp trong nhiều truyện của Thế Vũ hình ảnh những con người có lương tri phải dấn thân vào một cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ bị buộc phải giao phó danh dự và sinh mệnh mình cho những sĩ quan vô đạo và bất tài “vốn do Tây đào tạo để sai vặt hay nhiều lắm là đánh thuê trong một thời kỳ đã xa lắc, bây giờ đang cất giọng hô hào chiến đấu” (Những vòng hoa ngụy tín). Ở đây nhà văn đã khéo vận dụng một khái niệm của triết học hiện sinh vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật để phơi bày tình trạng giả dối và mục ruỗng của bộ máy quân đội Sài Gòn. Không phải ngẫu nhiên mà truyện ngắn Những vòng hoa ngụy tín của Thế Vũ đã phải chịu sự phản ứng gay gắt của nhà cầm quyền: ngay sau khi được công bố trên tạp chí Trình Bầy số 21, ra ngày 1.6.1971, nó đã bị Bộ Nội vụ Sài Gòn ra lệnh tịch thu và ngày 6.8.1971 đưa ra xét xử trước Tòa Sơ thẩm Tiểu hình về tội “đã phổ biến luận điệu có tác dụng làm suy giảm kỷ luật và tinh thần chiến đấu của quân đội và làm phương hại đến an ninh quốc gia” (1). Năm ấy Thế Vũ mới vừa 23 tuổi.

Chỉ trong vòng bốn năm, Thế Vũ đã viết một lọat truyện ngắn đăng trên Trình Bầy, Ý Thức, Văn Mới, Làm Dân… với nội dung tố cáo sâu sắc bộ máy quân sự và chế độ nhà tù phi nhân của chính quyền Sài Gòn. Và cũng chỉ trong một thời gian khá ngắn ngủi đó, ý thức xã hội của các nhân vật - và đằng sau đó là ý thức xã hội của chính tác giả - đã đi một bước rất dài. Từ những số phận đen đủi, hẩm hiu trút nỗi đắng cay trong “những cơn say ứa nước mắt”, đã xuất hiện những người trẻ khao khát hòa bình, “thà cam tâm chịu đựng cảnh ngục tù đày đọa hơn là thỏa hiệp với tình thế bạo ngược của chiến tranh” (Mưa trên lầu bát giác). Từ những số phận mà hoàn cảnh nghiệt ngã đã bào mòn và giết chết những ước mơ, đã xuất hiện tiếng nói phản kháng phẫn nộ và quyết liệt. Từ những hình ảnh xa xôi, kín đáo về những người anh em “ở bên kia”, đã xuất hiện những bàn tay vẫy trong sân trại tù đáp lại những cánh tay lờ mờ sau những chấn song sắt, những tiếng hát cất lên từ phòng giam gieo hạt mầm hy vọng trong ngục thất.

Không phải vô tình mà trên kia, khi nói về bức tranh thời chiến trong văn Thế Vũ, tôi có nhắc đến Hemingway. Những nhân vật của Thế Vũ có cái gì đó khiến ta liên tưởng đến điều mà các nhà nghiên cứu thường gọi là “nhân vật mảnh vỡ” trong tác phẩm Hemingway. Suy cho cùng, Những “tôi”, “gã”, Vĩnh, Tường hay Phan đều là biến thể – phân thân hay hóa thân - của hình tượng tác giả. Trong những năm đầu thập niên 70, bản thân Thế Vũ cũng từng bị bắt lính, từng đào ngũ, tham gia làm báo đối lập, rồi bị kết án lao công chiến trường như các nhân vật của ông. Địa danh Nha Trang nhiều lần trở đi trở lại trong các thiên truyện cũng chính là thành phố quê hương của nhà văn. Tất nhiên không thể đồng nhất hình tượng tác giả với hình tượng người kể chuyện và hình tượng nhân vật. Nhưng cũng không thể phủ nhận mối quan hệ giữa các yếu tố đó, nhất là khi ta có thể tìm được những điểm chung giữa sáng tác và cuộc đời tác giả. Và như vậy mỗi truyện ngắn là một tháp đoạn tạo nên bức tranh liên hoàn về những người lính đang từng ngày từng giờ kháng cự lại hoàn cảnh, cũng tức là kháng cự lại tình trạng vong thân đang vây bọc chính mình.

Văn Thế Vũ là một thứ văn gắn liền với đời sống, hay có thể nói, cuộc sống cựa quậy trong văn ông. Những yếu tố hành động của cốt truyện thường không rõ nét, nhưng bù lại, dòng ý thức trôi chảy tạo nên một cái mạch tâm lý nhất quán trong tác phẩm. Sau một phần ba thế kỷ, đọc lại những truyện ngắn trong tập này, ta vẫn thấy ngôn ngữ văn xuôi Thế Vũ hòa nhập được với ngôn ngữ văn xuôi đương đại.

***

Bạn đọc cả nước, nhất là bạn đọc trẻ, có lẽ chưa biết nhiều về Thế Vũ. Như đã nói, trước 1975, cùng với những Thái Lãng, Ngụy Ngữ, Trần Hoài Thư, Ngô Thế Vinh, Lê Văn Thiện, Mường Mán, Nguyễn Quang Tuyến…, nhà văn này được chú ý ở mảng sáng tác về đời sống quân ngũ dưới chế độ Sài Gòn, chủ yếu trong thể loại truyện ngắn. Sau 1975, tác phẩm Thế Vũ mới được in thành sách: Gặp gỡ mùa hè (Hội văn học nghệ thuật Nha Trang, 1987), Những vòng hoa ngụy tín (Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa, 1989; NXB Kim Đồng, 2001), Nỗi ham muốn thiêng liêng (NXB Công an nhân dân, 1998). Truyện ngắn của ông cũng đã được chọn in trong các tuyển tập Tiếng hát những người đi tới (Báo Thanh Niên, Báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ, 1993) và Nhìn lại một chặng đường văn học (Trần Hữu Tá biên soạn, NXB TP Hồ Chí Minh, 2000). Rời bỏ cái không gian ngột ngạt trong những thiên truyện thời chiến, nhà văn cố gắng bắt mạch cuộc sống hòa bình và thể hiện những chủ đề mới. Nhưng phải nói thật lòng rằng ngòi bút Thế Vũ, trong giai đoạn sau này, chưa bắt kịp nhịp vận động và những biến thái tinh tế của đời sống. Điều đó một phần có thể do nhà văn chưa cắm sâu vào một môi trường công việc nhất định; phần khác là do tình hình sức khỏe và những khó khăn riêng tư của ông. Sau nhiều năm gắn bó với thành phố quê hương trong cương vị nhà giáo và người làm báo văn nghệ, từ 1992 cho đến ngày từ trần (2004), Thế Vũ chuyển vào làm việc ở tòa soạn Báo Thanh Niên. Ở đây, vừa viết những bài báo trực chiến, ông vừa ấp ủ những tác phẩm dài hơi; nhưng căn bệnh phổi đã không cho phép ông thực hiện ý định sáng tác của mình, kể cả việc hoàn thành cuốn tiểu thuyết dở dang Về từ Trường Sơn mà vốn sống ngày cũ ông đã dồn hết vào đó.

Đối với một đời văn, số lượng tác phẩm mà Thế Vũ để lại như vậy không phải là nhiều lắm. Nhưng khi nói đến một mảng hiện thực chiến tranh, nhìn cận cảnh từ một góc độ ở phía bên kia để có khả năng cung cấp một phần sự thật, người ta không thể không nhắc đến những trang văn ngồn ngộn chất liệu đời sống của ngòi bút sắc sảo này.

Tháng 11/2005

HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

(1) Trong phiên xử này, nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Trình Bầy đã bị tòa tuyên phạt một trăm ngàn đồng, bồi thường cho Bộ Nội vụ một đồng danh dự, truyền tịch thu số báo nói trên (Theo Trình Bầy số 26, ngày 18.8.1971)

--> Read more..

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2007

Thế Vũ và Nha Trang trước năm 1975

THANH HỒ - TRẦN VẠN GIÃ

Nhớ thời gian Thế Vũ đào ngũ từ chiến trường Tây Nguyên về Nha Trang (1971) trốn trên căn gác gỗ nhà sách Huy Hoàng ở đường Độc Lập (nay là đường Thống Nhất). Chủ nhà sách Huy Hoàng là anh Nguyễn Huy Hoàng, người rất quý anh em trí thức, văn nghệ sĩ và ham hoạt động xã hội và vợ anh, chị Vân, người phụ nữ Huế giàu tình cảm, tốt bụng đã nuôi cơm, sách báo cho Thế Vũ sống qua ngày trên căn gác gỗ mà chúng tôi thường gọi tên "Nghinh Phong Các".

Đường Độc Lập là đường phố chính, cảnh sát, quân cảnh, mật vụ, chỉ điểm thường xuyên tuần tra, khám xét nhà, không an toàn cho Thế Vũ, nên anh phải chuyển đến ở căn nhà tôn nóng bức trong xóm lao động Máy Nước, rồi sau đó đến ở căn lầu nằm trên góc đường Yersin của một mục sư và nhiều nơi khác nữa... Bạn bè thấy anh long đong như vậy, bèn bàn có một nơi an toàn là nhà họa sĩ Thanh Hồ và đưa anh đến đó để ẩn tích. Vợ chồng họa sĩ Thanh Hồ dành căn phòng vẽ cho Thế Vũ ở. Căn phòng này được khoét trống trần nhà có nắp đậy và đục cửa hậu để Thế Vũ thoát hiểm khi có cảnh sát hay quân cảnh bố ráp, khám nhà. Thời gian này khắp chiến trường miền Nam nổ ra những trận đánh ác liệt, việc chính quyền Sài Gòn bắt lính bổ sung cho các mặt trận xảy ra như cơm bữa. Thế Vũ mấy lần suýt bị hốt lên "xe cây" nhưng nhờ sự cảnh giác cao độ của vợ chồng họa sĩ Thanh Hồ nên anh thoát khỏi.

Thời đó, chúng tôi ở độ tuổi 20. Người lớn nhất như anh Thanh Hồ cũng vừa đúng 30. Chúng tôi đói khổ ngay trong lòng thành phố, bị địch truy bức, săn đuổi chính trên quê hương mình, bởi thế chúng tôi rất thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, tuy không ít lần tranh luận "to tiếng" vì những bất đồng quan điểm về tình hình chính trị, xã hội, văn hóa đang diễn ra tại miền Nam Việt Nam.

Chính thời gian ở nhà Thanh Hồ, Thế Vũ làm việc sung sức nhất. Anh cần mẫn biên tập từng trang bài cho Tạp chí Nhân Sinh do Nguyễn Sa Mạc (Nguyễn Hoàng Thu), Nguyễn Âu Hồng, Thế Vũ, Trần Vạn Giã, Thanh Hồ, Nguyễn Cao Thâm... chủ trương. Nhân Sinh số 1 (1971) với chủ đề: "Nam Việt Nam và mặt trận văn hóa của thực dân mới" ra đời trong hoàn cảnh bi hùng và hừng hực hào khí đấu tranh của thế hệ 20 chúng tôi. Sau khi Tạp chí Nhân Sinh số 1 phát hành dưới hình thức in ronéo, họa sĩ Thanh Hồ bị An ninh quân đội Sài Gòn bắt giam tại Phòng An ninh quân đội Ba Ngòi (Cam Ranh) để thẩm vấn. Nguyễn Hoàng Thu cũng có trát mời đến Ty Cảnh sát Khánh Hòa vì nội dung bài viết trong tạp chí. Anh em chuẩn bị làm Nhân Sinh số 2 thì linh cảm về đại họa sẽ đến nên mỗi người đành ly tán một phương... Thế Vũ lẩn trốn về Sài Gòn, may mắn được anh Thế Nguyên, chủ nhiệm Tạp chí Trình Bầy, cưu mang. Trần Vạn Giã lại ẩn thân ở chòi, làm thơ, cuốc đất dưới chân núi Hòn Thẻ (Cam Ranh). Nguyễn Hoàng Thu rày đây mai đó nhưng cuối cùng cũng bị bắt và bị đày đi lao công đào binh vì "tội" đào ngũ. Nguyễn Âu Hồng theo vợ về Quảng Tín bặt tin. Nguyễn Cao Thâm về quê tiếp tục trốn lính... Riêng Thế Vũ bốn tháng sau cũng bị bắt tại tòa soạn Tạp chí Trình Bầy, ở tù tại khám Chí Hòa rồi quân lao Gò Vấp. Sau đó anh bị đày đi lao công đào binh ở chiến trường Kon Tum (1973).

Lại một lần nữa, anh "thoát" được về Nha Trang, thường tâm sự với bạn bè: "Suốt đời vẫn nhớ ơn các anh Thế Nguyên, Nguyễn Ngọc Lương (nhà văn Nguyễn Nguyên), Nam Đồng, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Miên Thảo... đã đùm bọc, nuôi nấng tôi trong những ngày tôi bị nhốt trong nhà lao Chí Hòa và Gò Vấp". Và anh cũng kể chuyện họa sĩ Rừng (Kinh Dương Vương) lúc đó từ quân lao Nha Trang bị đày lên Kon Tum làm lao công đào binh, hai người gặp nhau, chính họa sĩ Rừng đã nhờ người giúp đỡ đưa Thế Vũ đi trực thăng thẳng về Nha Trang.

Gặp lại Nha Trang và anh em, Thế Vũ nói vang lên: "Như trong mơ, như trong mơ!"

Anh trở lại tá túc ở căn phòng vẽ của họa sĩ Thanh Hồ. Đây là những ngày tháng đói khổ, gian truân và đầy khí phách nhất của cuộc đời anh. Có nhiều lúc tắt nguồn lương thực của anh chị Thanh Hồ và bạn bè cung cấp, anh phải ăn khoai lang luộc thay cơm độ nhật. Bị đói khát, bị truy nã, thế mà bút lực anh vẫn dồi dào, sung sức. Anh sáng tác nhiều truyện ngắn và cả truyện dài. Truyện dài Về từ Trường Sơn đã được trích đăng trên Tạp chí Trình Bầy với nhan đề Đào tẩu, nội dung lên án sự hà khắc, bất nhân của địch đối với những người không chịu cầm súng cho chúng, đào ngũ bị bắt đi lao công đào binh.

Tại phòng vẽ của họa sĩ Thanh Hồ, Thế Vũ tiếp xúc với nhà văn Thế Nguyên từ Sài Gòn ra móc nối một số trí thức, văn nghệ sĩ tham gia tổ chức "Nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris" ở Nha Trang. Anh hoạt động hăng say cho tổ chức này, đánh máy tài liệu trên các báo xuất bản ở Hà Nội để tuyên truyền, vận động quần chúng. Anh sưu tầm làm tuyển tập thơ Bút anh xanh sự thật loài người (tên bài thơ của nhà thơ Võ Quê), động viên anh Phan Ni Tấn phổ nhạc những bài thơ tranh đấu của Lê Văn Ngăn, Trần Vạn Giã, Đông Trình... phổ biến trong giới trí thức, sinh viên học sinh Nha Trang. Anh xoay qua làm tờ Liên Kết (tiếng nói của tổ chức Nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris), mà sau này chúng tôi mới biết đây là tổ chức công khai của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam. Cứ thế, công việc của anh dày đặc. Chiếc máy chữ cũ kỹ, mặt con chữ mòn nhẵn của Nguyễn Âu Hồng cung cấp cho anh lách tách liên tục suốt ngày và đến tận khuya. Mệt thì ngồi bó gối, trước mặt anh ngổn ngang bản thảo truyện, thơ, nhạc, tài liệu và dày đặc những tàn thuốc lá Bastoz xanh...

Chúng tôi nghĩ vì khát vọng cho đất nước có một ngày mai tươi đẹp nên Thế Vũ càng dấn thân hơn. Có thể nói bút lực vàng son nhất của anh sau truyện ngắn Những vòng hoa ngụy tín là truyện ngắn Công trường cát bỏng. Truyện này anh viết trong thời gian ẩn trú lần thứ hai tại phòng vẽ của họa sĩ Thanh Hồ, sau 1975 được in trên Tạp chí Đứng Dậy. Trong thư riêng của nhà văn Nguyên Ngọc gửi Trần Vạn Giã ngày 12.7.1975 có nhận xét: "Truyện ngắn Công trường cát bỏng của anh Thế Vũ do anh em Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Khu đưa cho xem. Tôi rất thích truyện ấy. Theo tôi đó là một truyện ngắn hay. Anh Thế Vũ có một lối viết trầm tĩnh và sắc sảo đáng quý...".

Trở lại những ngày tháng Thế Vũ sống ở Nha Trang, có nhiều lần anh thét lên vì cùng quẫn, bức bách, căm thù áp bức, thèm khát tự do nên anh dự định thoát ly lên chiến khu do đường dây cơ sở cách mạng đã chuẩn bị sẵn sàng. Nhưng kế hoạch đó không thực hiện vì ngày 2.4.1975 giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa, Thế Vũ bước sang con đường mới, con đường đất nước thống nhất, độc lập, tự do, hòa bình.

Dòng thời gian vẫn chảy, tóc trên đầu chúng tôi đã bạc, nhưng làm sao chúng tôi quên một thời trai trẻ hào hùng với Thế Vũ ở Nha Trang...

T.H – T.V.G

Nha Trang 16.10.2005

--> Read more..

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2007

Hồi ức

Thời trai trẻ của chúng tôi

Chúng tôi chào đời sau Cách mạng Tháng Tám, được chập chững cắp sách đi học vỡ lòng trong vùng tạm chiếm miền Nam sau khi kết thúc cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, bắt đầu có nhận thức trước những biến động của lịch sử từ trong và sau biến cố chính trị 1963 đảo chính Ngô Đình Diệm. Có muộn màng và đáng tiếc lắm không? Hẳn không thể nói dứt khoát là không. Các biến động lịch sử tất nhiên chẳng chờ đợi ai, nhưng đất nước cũng không hề có ý định dành cho thời trai trẻ chúng tôi những tháng năm yên ả.

Có một chuyện khó tin nhưng hoàn toàn có thật mà tôi còn nhớ như thế này: Năm 1963 tôi đang học lớp Đệ tứ Trường Trung học Trần Bình Trọng thị trấn Ninh Hòa thì xảy ra đảo chính Ngô Đình Diệm. Hồi ấy người ta gọi đấy là cách mạng – Cách mạng 1.11.1963. Ít lâu sau ngày ấy, một gã trung úy để ria mép được cử về làm quận trưởng thay ông quận trưởng dân sự. Đám học sinh chúng tôi mất một buổi học để tập trung đến rạp hát Vĩnh Hiệp nghe ông “quận trưởng cách mạng” nói về cách mạng 1.11. Rằng cách mạng là đổi đời, là bỏ cũ theo mới, chẳng hạn trước đây con cái nghe lời cha mẹ, thầy giáo dạy dỗ học sinh thì nay cách mạng rồi, cha mẹ phải nghe lời con cái, học sinh dạy dỗ lại thầy, v.v... Tôi nhớ rạp hát vang lên từng tràng vỗ tay như điên và sau này tôi nghiệm ra rằng cái sự vỗ tay để phản đối ít nhất cũng đã có từ hồi ấy. Còn nhìn chung, buổi nói chuyện của gã trung úy quận trưởng cách mạng này đã có tác dụng tích cực đối với bản thân tôi theo dạng phản đề: Vậy thì sự thực ra sao, tôi phải tự suy nghĩ, nhận thức và lý giải lấy cho mình.

Trường Trung học Trần Bình Trọng Ninh Hòa hồi ấy không mở cấp phổ thông trung học. Hè năm 1964 tôi chuyển vào học Trường Trung học Võ Tánh Nha Trang, ban văn chương. Hồi ấy ban văn chương có rất ít học sinh, trường chỉ mở một lớp đệ tam ban Văn có độ hơn 30 học sinh theo học trong khi ban Toán có đến năm sáu lớp, mỗi lớp không ít hơn 50 học sinh. Mấy anh em chúng tôi – những người dăm bảy năm sau đó bắt đầu được gộp vào đám đông “những cây bút trẻ” và may mắn làm sao, đến nay, hơn hai mươi năm sau vẫn còn được đứng chung trong một đội ngũ trẻ khác – đã gặp nhau ở lớp đệ tam ban văn chương Trường Trung học Võ Tánh từ năm ấy. Riêng Lê Văn Thiện, do hoàn cảnh gia đình đã nghỉ học sau năm đệ tứ ở trường này, và ít lâu sau tôi nghe anh đã vào lính. Anh cầm súng rồi đồng thời cầm bút và được bạn đọc chú ý sớm nhất trong mấy anh em chúng tôi.

Miền Nam những năm 1964 – 1966 thật là những năm tháng sôi động chưa từng có. Ở vùng nông thôn, những trận đánh lớn diễn ra ngày càng dồn dập và ác liệt, vùng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn ngày càng thu hẹp lại đến mức chỉ còn những vùng lõm nhỏ bé gồm quận lỵ và vài ba xã bao quanh. Chúng tôi thuộc loại hiếm hoi những chàng trai mới lớn của làng xã được lên tỉnh học hành, và do những trận đánh ngày càng lan rộng ở nông thôn, dần dần chúng tôi càng ít trở về làng, cái sự gắn bó với bà con họ hàng làng xã mỗi ngày một mờ nhạt đi trong cuộc sống đô thị hóa của chúng tôi. Khắp các đô thị đang sôi lên những cuộc đấu tranh chống chính quyền quân sự, chống Mỹ đổ quân vào miền Nam, đòi quyền dân sinh dân chủ, đòi độc lập và hòa bình của các lực lượng quần chúng, từ phật tử, nhân sĩ trí thức, nhà báo nhà văn, đến sinh viên học sinh, tiểu thương tiểu chủ, các đảng phái, thương phế binh... Tầng lớp lao động đình công, tiểu thương bãi thị, học sinh bãi khóa; xuống đường biểu tình và tuyệt thực, hội thảo chính trị và chống đàn áp, những buổi học ở lớp xen kẽ với những ngày đấu tranh đường phố... Bao quanh tuổi trẻ đô thị lúc ấy là một nỗi bất an triền miên, bức bối, ngột ngạt trong cái không khí sặc sụa hơi cay và những âm mưu chính trị đen tối của đủ thứ lãnh tụ phong trào và thủ lĩnh các đảng phái đang mọc lên như nấm. Tuổi mười bảy mười tám của chúng tôi ngày ấy không phải đang đứng trước một chân trời tương lai rộng mở bát ngát nào, mà là đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: học hành đỗ đạt hay là đi quân dịch, vào cuộc đấu tranh hay bàng quan trước mọi biến động của thời cuộc, là chứng nhân hay là nạn nhân...

Mấy anh em chúng tôi ở lớp đệ tam ban văn chương năm ấy bàn nhau ra một đặc san văn nghệ. Góp bài, góp giấy mực. Thơ và văn xuôi. In rônéo năm bảy chục bản tặng bạn bè. Thao thức, trăn trở và bế tắc trước vận mệnh đất nước, trước tương lai tuổi trẻ. Triết lý vụn vặt, làm dáng, học đòi hiện sinh. Sướt mướt những bài thơ tình huyễn tưởng. Lãng mạn và tắc tị... Văn chương Sài Gòn đến lúc ấy có những “chủ nghĩa” gì thì chúng tôi là cái đuôi của “chủ nghĩa” đó. Và không phải chỉ trên đặc san văn nghệ ấy thôi, mỗi người trong chúng tôi đều lần lượt có thơ văn in trên báo chí Sài Gòn, lại còn cả những cuốn sổ tay, những tập giấy vở học trò chép đầy thơ của mình. Vẫn những nội dung ấy và những thi pháp ấy...

Trụ sở hướng đạo sinh nằm trên đường Tô Hiến Thành, một căn phòng thuê trên đường Cô Bắc, một căn nhà lá trong xóm lao động vườn ươm khóm Máy nước hay trong xóm chài dưới chân cầu Hà Ra..., lần lượt những nơi ấy được chứng kiến các cuộc hỏa thiêu long trọng và âm thầm những tập bản thảo văn thơ ấy của chúng tôi, chấm dứt một thời lãng mạn và lãng đãng ngây ngô của tuổi học trò.

Quãng cuối năm 1965, Nguyễn Hoàng Thu bỏ trường lớp đoạn tuyệt cuộc đời học sinh để đi phiêu bạt vào đời. Sau đó đến lượt Nguyễn Âu Hồng, anh chọn học trường thanh niên phụng sự xã hội Phật giáo. Giữa năm 1966 tôi rời Nha Trang lên kiếm việc làm ở Blao. Chỉ còn Lê Ký Thương ráng ở lại học cho hết bậc Tú tài. Mỗi người một con đường, ra đi sau trước khác nhau, ấy vậy mà guồng máy chiến tranh của chế độ Sài Gòn tài ba đến không ngờ: độ giữa năm 1967, chúng tôi lần lượt gặp nhau tại một nơi như cùng hẹn trước: quân trường Quang Trung ở Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Qua cái lò luyện này, Nguyễn Hoàng Thu trở về lại Khánh Hòa, tôi ra vùng phía Bắc tỉnh Bình Định, Nguyễn Âu Hồng xa hơn: Quảng Tín và Lê Ký Thương trôi giạt về Phan Rang – Ninh Thuận; tất cả đều đã mặc quần áo trận, núp dưới vành nón sắt và quàng vai một khẩu súng trường.

***

Sinh hoạt văn chương ở vùng đô thị tạm chiếm miền Nam những năm sau 1965 đang chứng kiến một thời kỳ nở rộng nhiều xu hướng đa dạng và phức tạp, một bước phát triển mới sau mười năm ngưng đọng dưới sự thống trị của văn nghệ chống cộng của các cây bút từ miền Bắc di cư vào làm mưa làm gió. Trung tâm hoạt động văn hóa văn nghệ duy nhất ở miền Nam là Sài Gòn – cái “hòn ngọc viễn đông của thế giới tự do”. Huế là trung tâm chính trị cũ, lò lửa đấu tranh của giai đoạn mới, nhiều tờ báo chính trị xã hội ra đời ở Huế, gây được tiếng tăm nhưng vẫn không thể sống nổi. Các tỉnh miền Trung những năm ấy lần lượt chứng kiến nhiều cây bút có tài được khẳng định trong làng văn đô thị miền Nam, tuy nhiên đất dụng võ vẫn là Sài Gòn. Lẻ tẻ, rải rác một vài tạp chí văn hóa xã hội xuất hiện ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt... nhưng đều có số phận non yểu. Càng về những năm sau này, bên cạnh một số nhà văn tên tuổi ít ỏi như Nguyễn Văn Xuân, Võ Hồng, Sơn Nam và cây bút chống cộng độc địa Võ Phiến, một đội ngũ những cây bút trẻ sung sức vốn sinh ra và trưởng thành ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ xuất hiện ngày càng đông đảo trên các báo và tạp chí công khai xuất bản tại Sài Gòn, từng bước làm suy giảm uy thế độc tôn của các cây bút miền Bắc di cư. Và người đọc chứng kiến cái cảnh dàn đồng ca chống cộng độc tôn chiếm lĩnh văn đàn những năm trước đây nay chuyển thành những nhóm hợp ca cố sống cố chết bám giữ lấy sân khấu văn học, những cây bút hung hăng chống cộng và hết lòng ca ngợi một chính thể cộng hòa “sáng đội miền Nam” nay lại chủ trương xây dựng một nền văn nghệ “viễn mơ” lãng mạn, siêu hình, túm lấy đuôi các thứ trào lưu hiện đại phương Tây, khiêu gợi dục tính và bạo lực. Trên các tạp chí văn nghệ do các cây bút chống cộng ngày trước, “viễn mơ” bấy giờ chủ trương – Văn, Văn Học, Bách Khoa, Chính Văn, Vấn Đề, Khởi Hành... – xuất hiện ngày càng nhiều những cây bút trẻ, nó tạo nên sức sống cho các tạp chí ấy, và từng bước hình thành một xu hướng văn học mới: phản ánh hiện thực, phản ánh thực trạng đen tối của nửa nước Việt Nam dưới “chính thể cộng hòa”. Xu hướng văn học ấy tiếp nối truyền thống văn học hiện thực phê phán bị cắt đoạn từ sau 1945, và nó thúc đẩy nền văn học đô thị miền Nam trước 1975 phát triển lên một đỉnh cao mới, hòa quyện vào nền văn học dân tộc đang dốc sức chiến đấu chống Mỹ cứu nước.

Tôi có ý thức văn nghệ gắn liền với chính trị từ khi bắt đầu chập chững viết lách và có đôi bài đăng trên báo chí Sài Gòn. Do một sự ngẫu nhiên mà tôi quen biết với những người chủ trương nhóm Thái Độ, một nhóm văn nghệ “dấn thân” lúc bấy giờ đang thao túng trên tờ Văn Học. Tôi từ miền Trung thỉnh thoảng về Sài Gòn, được dự đôi cuộc gặp mặt sa-lông cốc-tai của nhóm văn nghệ Thái Độ, được thông báo nội dung một số cuộc họp kín của nhóm chính trị Thái Độ, được biết nhiều âm mưu táo bạo của họ không thành. Ban đầu nhóm Thái Độ giúp tôi nhận thức thực trạng chính trị xã hội miền Nam, âm mưu của các phe phái chính trị, hậu trường của những vị cầm đầu chính phủ Sài Gòn và các phe cánh đối lập. Dần dần tôi nhận thức được thực chất của nhóm chính trị – văn nghệ này: làm cách mạng xã hội không cộng sản trong điều kiện Mỹ phải viện trợ bên trong và lập vành đai chống cộng bên ngoài. Sau một loạt âm mưu đầy tính phiêu lưu không được Mỹ chấp thuận, nhóm Thái Độ bắt đầu phân hóa. Âm mưu chính trị cuối cùng của Thái Độ là với đô la của Mỹ, nhóm sẽ lập một đoàn chuyên gia sang Lào giúp phe hữu chống cộng. Trớ trêu thay trong danh sách đoàn chuyên gia ấy người ta dự kiến có cả tôi! Từ chiến trường bắc Bình Định rồi chuyển lên bắc Tây Nguyên, nhiều lần tôi có ý định rời bỏ hàng ngũ lính ngụy nhưng được vị nhà văn thủ lĩnh nhóm Thái Độ khuyên ngăn. Lúc tôi quyết định rời bỏ quân ngụy trở về trốn tránh trong đô thị cũng là lúc tôi cắt đứt quan hệ với nhóm ấy.

Khoảng 1969, một số cây bút trẻ trong nhóm Việt từ Huế tản mác vào các tỉnh phía trong cùng với một số cây bút trẻ tại chỗ xây dựng tờ Tạp chí Ý Thức, đặt tòa soạn tại Phan Rang. Lê Ký Thương trực tiếp làm tạp chí này mấy năm liền, từ khi nó còn in rônéo với kỹ thuật khá sáng sủa và trang nhã cho đến khi chuyển tòa soạn vào Sài Gòn, ra đều kỳ hàng tháng, được sự cộng tác bài vở và mạng lưới phát hành rộng rãi hơn, in ốp-sét sang trọng. Tôi có tham gia nhóm chủ trương biên tập của Tạp chí Ý Thức nhưng không trực tiếp làm việc vì ở xa, thỉnh thoảng có dịp về quây quần cùng anh em dăm bữa, chia sẻ niềm vui và nỗi lo âu của anh em đối với số phận của tờ tạp chí. Từ năm 1970, các cây bút nhóm Việt đảm nhận trang văn nghệ của Tạp chí Đối Diện của các linh mục Công giáo tiến bộ ở Sài Gòn. Chính là với nhóm Việt và Tạp chí Đối Diện, anh em cầm bút trẻ của Nha Trang thế hệ chúng tôi đã đóng góp được những sáng tác khởi sắc nhất, có sức công phá mạnh mẽ nhất trong chặng đường hoạt động văn học của mình trước 1975, như Người bắt ruồi của Nguyễn Hoàng Thu, Những đứa con hoang câm điếc của chiến tranh của Nguyễn Âu Hồng, Nhịp ca dao hát giữ làng của Trần Vạn Giã, Về một cái chết trong một cái sống của Lê Ký Thương...

Giữa năm 1971 tôi rời bỏ quân đội ngụy, từ chiến trường bắc Tây Nguyên lặn lội trốn về được Nha Trang. Bấy giờ sau 4 năm ly tán, bè bạn đã lại tụ hội về đây, thường xuyên lui tới hiệu sách Huy Hoàng nằm trên phố Độc Lập. Đằng sau hiệu sách là một căn gác gỗ bốn tầng, nơi anh em văn nghệ khắp nơi lui tới, gặp gỡ, tạm trú mỗi lần về Nha Trang. Anh em gọi căn gác gỗ ấy là “nghinh phong các” vì đêm đêm gió lồng lộng từ biển thổi về, căn gác rung rinh chao đảo, vặn mình theo. Chúng tôi nằm trên gác tư, trước một tượng Phật, giữa những giá sách ngổn ngang, nhớ về bạn bè văn nghệ đã từng ghé qua đây rồi trôi dạt chết sống ở một phương nào trong cuộc chiến tranh tủi nhục ngoài kia.

Ngoài căn gác gỗ sau quán sách Huy Hoàng, anh em chúng tôi còn lui tới trú ngụ trên lầu căn nhà riêng của một mục sư Tin lành nằm trên đường Yersin, trong phòng vẽ đằng sau của ngôi nhà anh Thanh Hồ đầu đường Cổ Loa, trong căn nhà tôn nằm sau ga đường sắt, trong xóm Máy nước và một vài nơi khác nữa. Những ngày đói cơm lưu lạc, bị săn đuổi trên chính quê hương mình thời ấy mãi mãi còn là những kỷ niệm sâu đậm, đầm ấm tình bà con bằng hữu trong suốt mỗi cuộc đời anh em chúng tôi.

Chúng tôi bàn với nhau ra một tập san văn hóa xã hội để góp tiếng nói của mình vào cuộc đấu tranh chung của các lực lượng tiến bộ và yêu nước. Nhân Sinh ra đời vì mục đích ấy, đúng vào thời kỳ trong các đô thị miền Nam sôi lên cuộc chiến đấu trên đường phố chống Mỹ, chống Thiệu độc diễn chiếm ghế tổng thống nhiệm kỳ hai. Cuối năm 1971, chúng tôi ra Nhân Sinh số đầu tiên và cũng là số cuối cùng. Bài vở tự anh em chúng tôi phân công nhau viết, chủ đề là vạch trần âm mưu thực dân mới của đế quốc Mỹ về mặt văn hóa ở miền Nam Việt Nam, dựa theo một số tài liệu không phong phú lắm mà ở một tỉnh lẻ, trong điều kiện sống và làm việc như vậy anh em chúng tôi có thể thu thập được. Có bài vở rồi, tôi tự đánh máy trên giấy sáp, đêm đêm chúng tôi chụm đầu nhau lại trong căn phòng hẹp sau nhà của họa sĩ Thanh Hồ in thủ công. Giấy mực cũng do anh em tự đóng góp hay vận động xin được. Tập san in xong, phát hành đi các huyện trong tỉnh Khánh Hòa và một vài tỉnh bạn, chỉ có điều đáng tiếc là kỹ thuật in quá kém, các dòng chữ quá mờ, khó đọc. Bây giờ nhớ lại thời kỳ ấy, tôi nhận rõ ra chúng tôi đã ảo tưởng và không tưởng. Chống Mỹ, nhưng chúng tôi chưa biết dựa vào cái gì để hy vọng vào thắng lợi. Lúc ấy chúng tôi chưa có một sự liên hệ nào với Mặt trận Giải phóng miền Nam, lại càng không thể công khai bộc lộ thái độ ủng hộ Mặt trận, chấp nhận chủ nghĩa xã hội và đi theo đường lối cộng sản. Nhiệt tình tố cáo chế độ Mỹ ngụy quán xuyến việc làm của mình, nhưng trước câu hỏi của một số người: vậy các anh chủ trương đi con đường nào? – chúng tôi đành nói lấp lửng: cứ phơi bày đúng thực trạng chính trị xã hội, còn con đường thoát ra chúng tôi hãy còn đang tìm.

Ở các quán cà phê giải khát trong các đô thị ngày ấy, anh chị em viết văn làm thơ thường tổ chức những đêm thơ nhạc, thậm chí có lúc đọc trích đoạn truyện và kịch bản. Chủ quán sẵn sàng bố trí máy móc âm thanh, có khi còn bao tiền giải khát cho anh em văn nghệ buổi sinh hoạt ấy, vì nó hút được khách gần như thể các chương trình nhạc sống. Ở Qui Nhơn, Tuy Hòa, Pleiku, Kon Tum tôi đã tham gia đọc thơ như vậy. Về Nha Trang chúng tôi cũng tổ chức được một số buổi, ở quán giải khát, ở trường học, ở nhà riêng. Anh em chúng tôi nhớ mãi đêm đọc thơ trên sân thượng nhà họa sĩ Thanh Hồ. Cả cụ Quách Tấn, nhà văn Võ Hồng... cũng đến dự. Đêm ấy cảnh sát lái xe hú còi đến bao vây. Trong khi chúng đang còn mở máy bộ đàm báo cáo đã tiếp cận mục tiêu, xác định có tụ họp bất hợp pháp, xin ý kiến quyết định trước khi ập vào, anh em chúng tôi lần lượt từng người rút lui một cách bình thường. Khi đã có chỉ thị cụ thể, bọn cảnh sát bắt đầu chặn cửa ra vào nhà Thanh Hồ thì chỉ còn vài vị đứng tuổi chậm chân dắt xe đạp ra về.

Đầu năm 1972, trước Tết độ mươi ngày, tôi tổ chức một đêm thơ nhạc ở câu lạc bộ khu đường sắt, số 2 Yersin, mượn danh nghĩa của tổ chức Nha Trang nghĩa thục. Bác sĩ Trần Lâm C. lúc ấy là người phụ trách Hội bảo trợ Nha Trang nghĩa thục, đến cận giờ trình diễn còn bắt tôi thông qua bằng văn bản từng ca khúc, từng bài thơ sẽ đưa vào chương trình, để duyệt. Tôi đã đổ khá nhiều mồ hôi trán suốt thời gian làm việc với con người này cho đến khi bắt đầu chương trình biểu diễn. Một số bài hát “phản chiến” được nhóm du ca Thùy Dương trình bày trước (đến thời điểm ấy, nhạc phản chiến của các nhóm du ca đã trở thành một thứ “mốt” thời trang). Tiếp theo anh em chúng tôi đọc thơ. Đêm ấy tôi đọc bài Máu chúng ta một rừng biểu ngữ của Thái Ngọc San và bài Đất của những người bất phục của Lê Văn Ngăn (những buổi đọc thơ thời ấy tôi rất hay chọn thơ của hai tác giả này). Đến Nguyễn Âu Hồng, Trần Vạn Giã, Nguyễn Hoàng Thu, Thanh Hồ, Nguyễn Cao Thâm... Sau đó nữa là phần biểu diễn của nhóm sinh viên từ Sài Gòn và Đà Lạt mới về Nha Trang sum họp gia đình nhân dịp Tết. Phần “hát cho đồng bào tôi nghe” này đã không được tôi báo cáo thông qua với bác sĩ C. dự định kéo dài khoảng gần nửa chương trình nhưng chỉ mới được đôi ba bài, khi anh Nam Đồng đang ôm ghi-ta đứng trên sân khấu thử giọng để vào bài Thừa Phủ ơi, lòng ta hồng biển lửa thì bắt gặp dấu hiệu không bình thường trên nét mặt tôi ngồi ở hàng ghế đầu. Anh hát lần đầu không đạt, xin hát lại, và được nửa chừng thì xin lỗi, bước xuống. Người ta đã báo cho tôi biết phải chấm dứt đêm sinh hoạt. Khi tôi bước ra sân, trong đám đông người đi dự đang lần lượt kéo nhau ra, chúng tôi không thể nhầm lẫn được một đám cảnh sát chìm đang chia nhau đứng sẵn ở các cửa ra vào.

Từ năm 1969 tôi đã cộng tác bài vở với tạp chí Đất Nước do một nhóm trí thức tiến bộ miền Bắc di cư năm 1954 chủ trương. Đến năm 1970, Đất Nước tách ra làm hai: Đối Diện do các linh mục công giáo Dòng Chúa Cứu thế chủ trương biên tập và Trình Bầy do một số trí thức Công giáo yêu nước. Tôi có truyện ngắn đăng khá thường xuyên trên Trình Bầy, thỉnh thoảng có dịp vào Sài Gòn vẫn ghé đến tòa soạn học hỏi cách làm tạp chí, từ chữa bản in, biên tập bài vở, phát hành, đến tìm hiểu các xu hướng văn nghệ, xu hướng chính trị của báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ. Đầu năm 1971, tôi cùng một số anh em trí thức trẻ chủ trương tạp chí Văn Mới, đáng tiếc là chỉ ra được hai số rồi đình bản vì người đứng tên chủ nhiệm tạp chí bị gây áp lực phải rút lui, chúng tôi không tìm được người thay. Lúc bấy giờ tôi đã được anh em văn nghệ và nhiều bạn đọc chú ý nhân vụ truyện ngắn Những vòng hoa ngụy tín bị truy tố ra tòa. Cuối năm 1971, đang ở Nha Trang, tôi hay tin nhóm Trình Bầy ra thêm một tờ nhật báo, lấy tên Làm Dân, tôi khao khát được trực tiếp tham gia làm báo, một tờ báo, nói được tiếng nói của mình. Tôi viết thư cho anh Thế Nguyên, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, hẹn sau tết 1972 sẽ vào Sài Gòn.

Tôi mang theo một xấp giấy tờ giả mạo để đi đường và dự phòng khi cần dùng giữa cái đô thành nghiệt ngã ấy. Và chính là với sự ngây thơ cả tin vào cái xấp giấy tờ giả mạo ấy mà chỉ bốn tháng sau tôi có dịp mở đầu một cuộc phiêu lưu mới qua các nhà tù của chế độ Sài Gòn.

***

Đầu năm 1972, cuộc tranh cử một mình chiếm ghế tổng thống của Thiệu đã kết thúc, mặt trận đấu tranh đường phố ác liệt hồi gần cuối năm 1971 đã tạm thời lắng lại. Sài Gòn giới nghiêm, hàng loạt trí thức, sinh viên tranh đấu lần lượt bị bắt tại nhà ban đêm, bị giam giữ và chuyển đi một cách bí mật từ nhà tù này đến nhà tù khác. Anh Thế Nguyên cho tôi và Nguyễn Miên Thảo ở lại tòa soạn sau giờ làm việc vì không còn biết ở đâu khác cho an toàn. Anh khoét tường gỗ trên căn gác tòa soạn làm thành một khung cửa sổ nhỏ, để khi có động tĩnh gì phía cửa chính dưới nhà thì chúng tôi thoát qua mái nhà bên kia theo lối cửa sổ ấy. Tôi và Thảo ngủ trên bàn viết. Hằng bữa, hai anh em ra quán cơm xã hội mua vé ăn cùng với những người lao động không có việc làm, những người đương nhiên được xếp vị trí dưới đáy xã hội. Thảo từng tham gia phong trào sinh viên tranh đấu ở Huế trôi dạt vào, trốn lính bằng những giấy tờ khai sinh luôn luôn mười sáu, mười bảy tuổi. Chúng tôi làm tất cả những việc gì biết làm và cần làm cho Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, từ sửa bản in, viết tin bài, đến vận hành máy xén giấy, đếm báo, giao phát hành... Cứ dăm ba hôm Thế Nguyên đưa cho hai anh em tôi chút ít tiền để ăn tiêu qua bữa. Hồi này Thế Nguyên rất nghèo, làm tạp chí đã nghèo, thêm tờ nhật báo nữa, phải lo nuôi anh em thợ in, trả thù lao cho phóng viên, biên tập..., nhiều bữa đến ngày trả tiền công thợ, anh chạy đi xoay tiền từ trưa, tám chín giờ đêm mới về, anh em thợ ngồi trước cửa tòa soạn chờ tiền, anh khất lần khất lữa trông mà xót ruột. Nhật báo Làm Dân ra 4 trang, bị xếp vào loại báo nhỏ, các nhà phát hành không nhiệt tình lắm vì chưa có độc giả, bị chìm dưới hàng chục nhật báo khác đang ăn khách, lại thường bị tịch thu. Dần dần số cộng tác viên thưa bớt đi, chỉ còn lại có ít người gắn bó với nó vì tâm huyết, vì đã từng gắn bó với Tạp chí Trình Bầy những năm qua. Thế Nguyên phải bán dần đồ đạc trong nhà để cứu lấy tờ báo.

Làm ăn thua lỗ, bà cụ anh Thế Nguyên cứ như ngồi trên lửa. Ít lâu sau, khi tôi vào ở tại tòa soạn, bà biết tôi trốn lính, đã nói thẳng vào mặt tôi rằng phải đi nơi khác, tìm việc khác mà làm. Tình hình hết sức căng thẳng, có lúc tôi đã tính quay ra Nha Trang. Thế Nguyên gởi tôi ở tạm chỗ này chỗ nọ, chùa rồi nhà thờ, mỗi nơi vài mươi ngày rồi lại chuyển đi chỗ khác. Nhiều hôm tôi không còn biết ghé vào đâu, Thảo dẫn tôi đi tìm chỗ ngủ ở nhà người bạn này, người quen kia, cốt sao có một chỗ qua đêm.

Mùa hè 1972, những trận đánh lớn nổ ra ở Quảng Trị, Kon Tum, Bình Định, Bình Long, Chương Thiện... Cả miền Nam lên cơn sốt. Chính quyền Sài Gòn tung toàn lực quân sự ra chống đỡ. Nhằm loại trừ những cuộc đấu tranh đô thị có thể nổ ra phối hợp với chiến trường, Mỹ ngụy gia tăng bắt bớ, đàn áp phong trào yêu nước và tăng cường bắt lính đôn quân. Một bữa, Thế Nguyên hẹn một bạn nhà văn đem xe con đến đưa tôi lên trụ sở Thanh niên Lao động Công giáo tạm trú ít ngày, ngẫu nhiên sao chiều hôm đó anh bạn không tới, tôi ngủ lại tòa soạn. Sáng ra thì hay tin trong đêm cảnh sát đã hốt toàn bộ những người ở trụ sở kia. Và chỉ hai tháng sau là tôi gặp lại anh em thanh niên Công giáo ấy trong khu biệt giam ở nhà lao Chí Hòa.

Có một anh bạn học cũ từ thời cùng ngồi ở lớp đệ tam Trường Trung học Võ Tánh Nha Trang, bấy giờ đang làm cho một tờ báo lớn nổi tiếng phản động, đến thăm tôi ở tòa soạn nhật báo Làm Dân. Anh ta rủ tôi sang làm cho báo của anh ta, hứa có chỗ ăn ở an toàn và sang trọng, lương hàng tháng khá cao. Tất nhiên là tôi đã từ chối ngay không hề đắn đo suy nghĩ, và không bao giờ tôi tiếc vì đã từ chối lời mời ấy, kể cả khi tôi bị bắt vài tuần lễ sau.

Thời gian ngắn ngủi ở Sài Gòn, bên cạnh nhật báo Làm Dân, Thế Nguyên giao cho tôi lo liệu toàn bộ phần sáng tác văn nghệ và chăm sóc chung cho Tạp chí Trình Bầy, mấy anh em ít ỏi còn lại phải tập trung lo cho tờ nhật báo tồn tại. Những số Tạp chí Trình Bầy tôi trực tiếp làm hồi ấy là những số sai mo-rát nhiều nhất, trình bày lem luốc nhất của 42 số tạp chí đã phát hành trước khi đình bản theo sắc luật của chế độ Sài Gòn khi nó đi vào giai đoạn giẫy chết.

Một ngày cuối tháng 5.1972, buổi sáng độ mười giờ. Tôi đang ngồi trong tòa soạn đọc lại bản in thử trang nhất nhật báo Làm Dân thì có một vị đội mũ xám, mang kính đen xuất hiện trước cửa căn gác gỗ, vẻ hơi ngập ngừng. Trong phòng không có ai khác, tôi tưởng đấy là một bạn đọc, lên tiếng hỏi: “Ông cần gặp ai?”. Do dự một chút vị ấy nói: “Anh cho tôi hỏi cái này”. Tôi đứng dậy bước về phía cửa. Đợi tôi đến sát bên, vị ấy mới nói vừa đủ cho tôi nghe: “Đưa xem giấy tờ!”. Tôi nghe một làn hơi lạnh chạy từ gáy xuống cột sống lưng, lan ra toàn cơ thể. Phòng kế bên, mấy anh em thợ in đã nhận ra sự việc, vài người không có giấy tờ hợp lệ bình tĩnh tìm cách thoát thân. Tôi móc túi lấy giấy căn cước. Nhìn người trên ảnh rồi nhìn vào mặt tôi, vị ấy hỏi tiếp: “Còn giấy gì nữa?”. Tôi buộc lòng phải móc túi đưa ra một tờ giấy giả. “Mời anh xuống phía dưới nhà”. Dưới chân cầu thang gỗ đã thấy lố nhố hai ba gã cảnh sát mặc sắc phục.

Chị Thế Nguyên nháy mắt ra hiệu cho tôi lẻn đi ra bằng cửa sau nhưng tôi vẫn thật thà hy vọng vào những thứ giấy tờ mình đang có. Rồi chị còn định dúi vào tay đám cảnh sát một ít tiền lẻ để chúng làm lơ cho tôi thoát thân. Đến phút cuối cùng tôi nhận ra trong đám đông đang vây quanh có Thế Nguyên, Nguyễn Miên Thảo và vài anh em trong tòa soạn nhìn tôi bằng con mắt bất lực. Chúng chở tôi đi bằng xe Honda.

Thảo, rồi Nguyễn Âu Hồng, rồi Nam Đồng và vài anh em bạn bè khác nữa gởi thuốc lá vào cho tôi với lời nhắn: Thế Nguyên đang tìm cách gỡ cho tôi ra. Nhưng làm sao ra được nữa, chúng đã nhận ra giấy tờ của tôi là giả mạo, đẩy tôi sang Tổng nha Cảnh sát. Một tháng sau tôi bị đẩy vào Chí Hòa với tội danh sử dụng giấy tờ giả mạo. Đầu năm 1973, chúng lại đẩy tôi sang quân cảnh tư pháp để làm thủ tục truy tố tiếp tội danh thứ hai: đào ngũ. Rồi quân lao Gò Vấp, rồi trở lại nhà lao Chí Hòa trước khi chúng đẩy tôi lên một chuyến máy bay đưa đi làm lao công đào binh ở chiến trường Kon Tum.

Mượn danh nghĩa là một người bà con vai chú của tôi, anh Nguyễn Ngọc Lương, một người nhiều năm qua từng sát cánh chia sẻ vui buồn với Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân, người đã đứng tên chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Tin Văn của Mặt trận Bảo vệ Văn hóa Dân tộc năm 1966, bấy giờ mỗi tuần một lần vào tù thăm nuôi tôi bằng chút tiền ít ỏi mà anh và Thế Nguyên gom góp được. Qua anh, tôi biết tin bè bạn, những cái tin đau xót và hân hoan: Nguyễn Âu Hồng bị đẩy ra chiến trường Quảng Tín; Trần Vạn Giã đào ngũ rồi vào tù, ra lính gác hải đăng ở bán đảo Sơn Trà Đà Nẵng; Nguyễn Hoàng Thu bị bắt vào quân lao Nha Trang rồi đi lao công chiến trường; Tạp chí Trình Bầy và nhật báo Làm Dân bị đình bản, Nguyễn Miên Thảo viết một bài nhỏ trên số tạp chí cuối cùng nhắc đến tôi rồi biệt tích; Tạp chí Đối Diện tiếp tục ra nhưng chuyển sang bất hợp pháp, in rônéo, lấy địa chỉ tận bên Canada; Nam Đồng thoát ly ra bưng, Thái Ngọc San biệt tích...

Những gì tôi học được trong hơn một năm rưỡi trong các nhà tù thật là không ít, thật là bổ ích hơn cả toàn bộ những điều tôi tích lũy được trước đó.

Đầu năm 1974, đơn vị ngụy quân mà tôi phục dịch với tư cách lao công đào binh chuyển từ Kon Tum vào mặt trận Nam Tây Nguyên. Để bù đắp phần nào số quân hao hụt nhanh chóng ở Gia Nghĩa, Quảng Đức, ngụy quân “ân xá” đồng loạt hết cả lao công đào binh đang có mặt, đưa chúng tôi về Buôn Ma Thuột huấn luyện trước khi bổ sung cho các tiểu đoàn chiến đấu. Tôi trốn thoát được vào dịp ấy.

Tôi có quen biết đôi ba người đang sống ở thị xã này. Việc đầu tiên là tôi tìm đến tá túc ở nhà họ. Một anh phụ trách nhóm du ca, một anh làm thơ, gặp thêm một nhóm bạn trẻ gốc Tuy Hòa đang học Sư phạm Tây Nguyên, rồi ngẫu nhiên gặp lại Kinh Dương Vương – họa sĩ Rừng, hóa ra anh cũng đã qua quân lao Nha Trang rồi trường đại học lao công đào binh, mới được “ân xá” làm binh nhì. Lại quen thêm một anh bạn bên nhà thờ Cao Đài, một đại úy hậu cần lâu nay vẫn cưu mang giúp đỡ Rừng, một anh bạn sáng tác ca khúc mặc quân phục cấp bậc thiếu úy... Ngày càng có thêm bè bạn, có thêm chỗ lui tới, có chỗ ăn chực đôi ba bữa cơm, có chỗ ngồi viết cho xong cuốn tiểu thuyết về lao công chiến trường. Anh em kiếm cho tôi vài bộ quần áo dân sự để mặc ra đường, và buổi tối có thể lần dò ra quán ngồi bình thản bên tách cà phê. Giữa năm 1974, Rừng và anh bạn đại úy hậu cần xoay xở cho tôi một bộ đồ trận đủ từ mũ đến giày, liên hệ xin cho tôi một chỗ trên chuyến trực thăng bay về Nha Trang. Thoạt tiên tôi không tin mình có thể về tới Nha Trang một cách dễ dàng và an toàn như vậy, nhưng sự thực tốt đẹp ấy vẫn xảy ra, dù có nằm mơ cũng không thấy được.

Tháng bảy, trời Nha Trang oi bức không kể xiết. Tôi tạm trú ở nhà chị ruột tôi trong khóm Máy nước rồi lần dò tìm lại bạn bè. Hiệu sách Huy Hoàng đã sang cho chủ khác. Thanh Hồ theo đơn vị chuyển vào Cam Ranh, dăm bảy bữa mới về nhà một tối. Nguyễn Cao Thâm về quê Quảng Ngãi trốn lính. Trần Vạn Giã lại đào ngũ, đưa vợ con về tá túc ở một khu xóm đạo cách Nha Trang hơn ba chục cây số. Nguyễn Hoàng Thu cũng đã lại đào ngũ trở về, lui tới lắt lay đâu đó giữa những chỗ quen biết. Tôi tìm đến anh em đoàn du ca Thùy Dương, tham dự một số buổi sinh hoạt với họ, hiểu ra rằng trong đoàn đang có sự phân hóa ngày càng sâu sắc: một số người muốn trung thành với điều lệ của phòng trào Du ca Việt Nam – một tổ chức thực chất là phản động do một nhóm chống cộng cầm đầu, số còn lại đang có nhu cầu vượt lên tiếp cận với chân lý của thời đại, có ý thức chống Mỹ và tỏ lòng ngưỡng mộ công cuộc kháng chiến chống Mỹ. Số anh chị em này còn rất trẻ, đang học những lớp cuối cấp ở các trường trung học và sinh viên Trường Đại học Duyên Hải.

Tôi viết thư cho một số bạn bè báo tin đã về Nha Trang, viết thư nhờ anh Trần Sĩ Huệ và Nguyễn Tường Văn tìm giúp cho một việc gì để làm kiếm cơm qua ngày ở Tuy Hòa. Hồi còn ở đơn vị lao công đào binh chiến trường, tôi có nhận được thư từ và chút ít tiền anh Huệ gởi ra cho. Tôi còn nhớ Lê Văn Thiện khi đang ở đồng bằng sông Cửu Long viết thư cho tôi tâm sự rằng sau mười năm làm lính ngoài chiến trường anh đã thấm mệt, ngao ngán và sợ, đang định xin chuyển về một đơn vị không tác chiến, có thể là chiến tranh chính trị chẳng hạn..., tôi đã viết thư khuyên anh ráng chịu đựng, không nên xoay xở chuyển sang lính tâm lý chiến, vì trước đó một người bạn khá thân của chúng tôi vốn là một cây bút trẻ có nhiều truyện ngắn khá tốt về chiến tranh và thân phận lính ngụy Sài Gòn đã chạy chọt xin về ngành tâm lý chiến cho đỡ... khổ thân, và khi đạt được nguyện vọng rồi, anh trở thành một tên bồi bút trơ trẽn với những bài viết nhợt nhạt in thường xuyên trên tờ Chiến sĩ Cộng hòa khiến cho không ít người xấu hổ. Không biết có phải Thiện nghe tôi không khi anh từ bỏ ý định ấy để chịu đựng một thân phận tủi cực ngoài chiến trường cho đến cuối cuộc chiến tranh.

Qua thư từ, tôi bàn với Thế Nguyên ra một tạp chí rônéo bất hợp pháp, bài vở phần văn nghệ tôi lo từ Nha Trang rồi chuyển vào Sài Gòn cho anh. Thế Nguyên đồng ý, nhưng sau đó anh bận tham gia nhiều hoạt động khác nên chỉ thực hiện được Tuyển tập văn chương viết về lao tù và tờ tập san Tiếng Nói của Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris mà anh làm Tổng thư ký.

Nhờ sự giới thiệu của anh rể tôi lúc ấy làm việc ở Ty Cảnh sát Khánh Hòa, có một thời gian ngắn tôi đến làm thư ký cho một ông chủ thầu nho nhỏ có văn phòng đặt gần chợ Xóm Mới. Một buổi sáng, đại diện nhóm Sao Việt đến tìm gặp tôi. Thế Nguyên giới thiệu tôi với một vài người của nhóm này để làm quen. Chúng tôi bàn nhau thành lập một tổ chức hoạt động công khai dưới danh nghĩa là Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ở địa phương. Thế Nguyên từ Sài Gòn có ra Nha Trang tiếp xúc với tổ chức và cung cấp những tài liệu cần thiết để tuyên truyền vận động quần chúng. Tham gia vào tổ chức là những người còn ở lại nội thành của nhóm Sao Việt, một số nhân sĩ cựu kháng chiến chống Pháp, một số hội viên Hội Ái hữu Quảng Đà, và một số trí thức, giáo viên đã từng tham gia phong trào sinh viên học sinh đấu tranh những năm trước ở Huế, Sài Gòn... Tôi thôi làm việc cho nhà thầu kia, rút về trú ngụ trong căn phòng vẽ của Thanh Hồ bấy giờ đang bỏ hoang trống. Cũng giống như hồi ở tại tòa soạn Tạp chí Trình Bầy ở Sài Gòn, Thanh Hồ khoét sẵn một cửa sổ mở ra khu vườn nhà bên kia để tôi có thể thoát ra khi cảnh sát ập vào khám xét. Tôi đánh máy tài liệu để phổ biến cho các thành viên trong tổ chức ấy, đánh máy sao lại một số bài báo và tạp chí xuất bản từ Hà Nội mà tôi không thể hình dung hết những con đường ngoằn ngoèo gian khổ nào đó đã đi qua để đến tay tôi. Dăm bữa chúng tôi họp mặt, tổ chức nói chuyện với một đối tượng công chúng hẹp, có lựa chọn. Anh em sinh viên học sinh trong nhóm du ca thường đến chơi với tôi. Nguyễn Hoàng Thu dăm mười bữa tạt về ngủ lại một đêm. Thỉnh thoảng lại thấy Trần Vạn Giã xuất hiện. Anh em nhìn nhau, thấy rõ cái đói khổ, nỗi bất an, sự hốt hoảng vì bị săn đuổi hiện ra trên từng nét mặt, không sao giấu đi được. Ngày ngày tôi ngóng chờ đến giờ bè bạn mang cho một lưng cơm nguội, nửa ổ bánh mì, mấy củ khoai lang, chờ ai đó mang cho một tờ tạp chí phát hành lén lút, chờ ai đó chở ra quán uống một tách cà phê... Và chờ bị bắt, chờ hòa bình.

Tôi còn nhớ anh Phan Ni Tấn, anh chàng sáng tác ca khúc mà tôi quen thân hồi còn ở Buôn Ma Thuột. Ca khúc của anh mang âm hưởng ca khúc đồng bào dân tộc Ê-đê rất rõ. Cuối năm 1974, anh chuyển xuống Nha Trang – Cam Ranh, thường về nhà Thanh Hồ nằm với tôi, nuôi tôi qua bữa. Chơi với tôi, anh bắt đầu tìm những bài thơ tranh đấu của bạn bè để phổ nhạc, anh phổ những bài không ai nghĩ là có thể hát lên được, và anh đã hát với đúng cái giai điệu đồng bào dân tộc Tây Nguyên, nghe rất lạ lùng đối với thời ấy. Đầu năm 1975, anh chuẩn bị đưa đi in (bất hợp pháp) một tập độ mươi lăm ca khúc như thế, phổ thơ Lê Văn Ngăn, Trần Vạn Giã, Đông Trình... Thanh Hồ có sáng kiến ghi âm những ca khúc ấy do chính Tấn hát và yêu cầu tôi nói vài lời mở đầu.

Cũng thời gian đó, anh em sinh viên học sinh trong nhóm du ca Thùy Dương thu thập ở các báo chí hợp pháp và bất hợp pháp những bài thơ tranh đấu của nhiều tác giả trẻ miền Nam, cất công đánh máy thành nhiều bản đóng lại thành tập mang tên chung là Bút anh xanh sự thật loài người, nhan đề một bài thơ của Võ Quê, để chuyền tay nhau đọc. Anh em lại đề nghị tôi viết vài dòng cho lời bạt. Phải nói lại rằng đến những năm 1973 – 1975, báo chí công khai ở Sài Gòn tuyệt nhiên im vắng tiếng nói đấu tranh, tiếng nói phản kháng của nhân dân. Năm 1972, Nguyễn Văn Thiệu đã đánh một đòn quyết định bằng Luật Báo chí 007, một mẻ lưới diệt gọn tất cả các báo chí yêu nước và tiến bộ xuất bản công khai, chỉ còn lại mấy tờ báo minh họa chính sách và đối lập giả hiệu của các phe phái chính trị thân Mỹ. Trong tình cảnh đó, tôi đã nói về những ca khúc của bạn tôi, cũng là lời bạt tập thơ chuyền tay của anh em sinh viên như thế này: “Không phải chỉ có mỗi một thứ văn chương được cổ xúy bởi những người cầm bút bị mua chuộc cũng như không phải chỉ có mỗi một loại lời ca được cất lên đêm đêm trong các tửu lầu dật lạc. Trong những giai đoạn đấu tranh cho sự mất còn của đất nước, khi quyền tự do diễn tả của nhà văn bị tước đoạt thô bạo như tình thế đất nước hôm nay, văn nghệ của quần chúng nhân dân được truyền đi như thế nào? Không phải truyền đi những lời hát yêu nước trên các đài phát thanh phát hình, ở những đại hội ca nhạc tổ chức công khai; không phải gởi tới người đọc những tác phẩm văn chương thể hiện trung thực ý chí phấn đấu của quần chúng bằng kỹ thuật ấn hành tối tân có chữ ký của cơ chế kiểm duyệt phản động. Văn nghệ của quần chúng lớn dậy trong tù hãm nhưng không bệnh hoạn, trưởng thành không biết mệt mỏi, được truyền đi bằng mọi cách. Ở đây là các tác phẩm chuyền tay, nơi kia là những khúc hát rỉ tai, vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 này không phải là không còn chỗ đứng trên bậc thang giá trị vững mạnh những tập bản thảo chép tay hay tác phẩm văn nghệ truyền khẩu – phương thức phổ biến nghệ thuật không xa lạ gì trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và thái độ của văn nghệ sĩ khi sử dụng các thứ phương tiện phổ biến lạc hậu hằng nhiều thế kỷ như vậy lại trở thành sức mạnh tố cáo tích cực nhất tính phi nhân, thoái bộ của thời đại dưới ách thống trị ngông cuồng tàn độc và xuẩn động của bọn què cụt lương tri...”.

Đầu năm 1975, tôi cùng vài người nữa bắt tay vào làm tờ Liên Kết, tiếng nói của Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris ở Nha Trang. Bây giờ thì tôi đã biết rõ đằng sau tổ chức công khai này là Mặt trận Dân tộc Giải phóng, là Đảng lãnh đạo. Không phải lãnh đạo từ Sài Gòn ra mà là ngay tại chỗ. Tôi không tìm hiểu đường dây của Đảng, của Mặt trận vào nội thành và đến tôi, vì tôi biết đó là công tác bí mật. Tôi nhận giấy mực, bài vở rồi đêm đêm một mình thức suốt sáng trong căn phòng vẽ của Thanh Hồ đánh máy lên giấy sáp, ban ngày ngủ bù, viết bài, tiếp xúc với ít bạn bè, người thân quen lui tới thăm hỏi, chuyện trò, đưa thức ăn... Liên Kết số 1 ra mắt ít ngày sau trận đánh giải phóng Buôn Ma Thuột. Tôi có viết bài về sự kiện này, viết tuyên ngôn của thế hệ thanh niên khước từ cầm vũ khí... Liên Kết số 2 đang đánh máy thì phải bỏ dở dang vì tất cả chúng tôi phải lao vào một yêu cầu cấp bách: chuẩn bị tiếp quản Nha Trang. Trước đó, thấy tình cảnh của tôi quá bức bối, một vài anh em trong tổ chức có ý định đưa tôi đi thoát ly. Tôi tự thấy mình không còn đủ sức sống lâu hơn trong vòng vây bủa ngặt nghèo ở đô thị – hai lần trong mấy tháng đầu năm 1975 tôi bị cảnh sát bắt ngoài đường, may nhờ người anh rể tôi kịp thời hay tin đến chuộc về – nên cũng muốn thoát ly. Anh Tạ Ngọc Liễn tính toán thế nào không biết, đã phải vào tận Sài Gòn liên hệ lên căn cứ để chuẩn bị đưa tôi lên. Còn phải làm cho tôi mấy thứ giấy tờ để đi đường. Khi đã liên hệ xong anh quay ra Nha Trang thì việc đó không còn cần thiết nữa...

THẾ VŨ

--> Read more..